Tải bản đầy đủ

Chủ nghĩa xã hội khoa học

MỞ ĐẦU

Có thể nói, đường đổi mới và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam
đánh dấu từ năm 1986 - bước ngoặt của sự đổi mới đất nước - đến nay hơn 30
năm đã đạt được những thành tựu to lớn. Thành quả này có được do nhiều
nguyên nhân, trong đó có nguyên nhân mang tính quyết định chính là ở việc
Đảng Cộng sản Việt Nam luôn kiên định và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác
- Lênin vào thực tiễn Việt Nam, đồng thời cũng chính là điều kiện để Việt
Nam thực hiện mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn
minh”.
Mặc dù vậy, cuộc khủng hoảng của chủ nghĩa xã hội những năm cuối
thập kỷ 80 đầu thập kỷ 90 của thế kỷ trước ở Liên Xô và các nước Đông Âu
đã làm cho niềm tin vào sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội gặp rất nhiều
khó khăn, trở ngại. Tuy nhiên, Việt Nam đã vượt qua tất cả những sóng gió,
bão táp để tồn tại, đặc biệt là thoát ra khỏi cuộc khủng hoảng và đạt được
thành tựu to lớn. Điều có ý nghĩa to lớn ở chỗ, trong khi chế độ xã hội chủ
nghĩa ở Đông Âu và Liên xô sụp đổ, song ở Việt Nam chế độ xã hội chủ
nghĩa vẫn tồn tại, tiếp tục đổi mới và phát triển không ngừng con đường đi lên
chủ nghĩa xã hội. Điều đó có nguyên nhân trực tiếp là việc Đảng Cộng sản
Việt Nam đã kiên định và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng
Hồ Chí Minh trong những hoàn cảnh thực tiễn Việt Nam, khắc phục bệnh

giáo điều, chủ quan duy ý trong việc xác định mô hình và con đường đi lên
CNXH.
Với ý nghĩa trên, em chọn chủ đề “Nhận thức của Đảng cộng sản Việt
Nam về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt
Nam” cho bài thu hoạch của bản thân.
Kết cấu của Bài thu hoạch gồm: Phần mở đầu, nội dung, kết luận và tài
liệu tham khảo

1


NỘI DUNG
1. TÍNH TẤT YẾU CỦA CON ĐƯỜNG ĐI LÊN CHỦ NGHĨA XÃ
HỘI Ở VIỆT NAM
1.1. Bối cảnh trong nước
Sau khi thực dân Pháp xâm lược, đất nước trở thành nước thuộc địa, nửa
phong kiến. Trong xã hội xuất hiện các mâu thuẫn cơ bản: giữa dân tộc Việt
Nam với thực dân Pháp, mâu thuẫn giữa địa chủ và nông dân.
Để giải quyết các mâu thuẫn có nhiều con đường khác nhau: Phong trào
yêu nước phong kiến (Cần Vương); đấu tranh theo con đường ý thức hệ tư sản
(Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh…); con đường đi lên chủ nghĩa xã hội (Hồ
Chí Minh – giải quyết cả hai mâu thuẫn trong xã hội Việt Nam). Tuy nhiên,
nhiều cuộc khởi nghĩa chống Pháp trong phong trào Cần Vương do các sĩ phu
yêu nuớc lãnh đạo đã nổ ra (khởi nghĩa Hương Sơn của Phan Đình Phùng,
khởi nghĩa Yên Thế của Hoàng Hoa Thám v.v..), nhưng tất cả đều bị đàn áp
đẫm máu. Tiếp đến là các phong trào yêu nước, như phong trào Đông Du do
Phan Bội Châu khởi xướng, phong trào Duy Tân của Phan Châu Trinh, Huỳnh
Thúc Kháng, phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục do Lương Văn Can, Nguyễn
Quyền lãnh đạo v.v.., đều bị thất bại. Cách mạng Việt Nam rơi vào bế tắc về
đường lối.
Trong bối cảnh đó, với khát vọng và “ham muốn tột bậc là làm sao cho
nước ta hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có
cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành”, người thanh niên yêu nước Nguyễn
Tất Thành - Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh đã quyết tâm ra đi tìm đường
cứu nước, giải phóng dân tộc. Trên hành trình qua khắp năm châu, bốn biển,
Người đã có điều kiện nghiên cứu kỹ lưỡng về các cuộc cách mạng tư sản Âu
- Mỹ và các thể chế chính trị - xã hội đương thời. Người rút ra kết luận, các
cuộc cách mạng tư sản là các cuộc “cách mệnh không đến nơi, tiếng là cộng
2



hòa và dân chủ, kỳ thực trong thì nó tước đoạt công nông, ngoài thì nó áp bức
thuộc địa”1, “nó chỉ mang lại quyền lợi cho một số ít người” 2. Theo quan điểm
của Người: “Chúng ta đã hy sinh làm cách mệnh, thì nên làm cho đến nơi,
nghĩa là làm sao cách mệnh rồi thì quyền giao cho dân chúng số nhiều, chớ để
trong tay một bọn ít người. Thế mới khỏi hy sinh nhiều lần, thế dân chúng
mới được hạnh phúc”3.
Bước ngoặt chuyển biến trong tư duy chính trị của Người được thể hiện
khi đọc bản Sơ thảo luận cương về các vấn đề dân tộc và thuộc địa của Lênin,
Người đã vui mừng đến phát khóc lên, ngồi trong phòng mà Người nói to như
truớc đồng bào đang đau khổ: Đây là cái cần thiết cho chúng ta, đây là con
đường giải phóng chúng ta.
1.2. Bối cảnh quốc tế
Thứ nhất, sự phát triển của xã hội loài người là một quá trình lịch sử tự
nhiên. Đó là sự biến đổi và thay thế lẫn nhau của các hình thái kinh tế - xã hội
từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp. Nghiên cứu tiến trình vận động của
lịch sử, các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác khẳng định, phương thức sản xuất tư
bản chủ nghĩa chắc chắn sẽ bị thay thế bằng phương thức sản xuất cộng sản
chủ nghĩa. Đó là một quy luật khách quan của lịch sự và thời đại ngày này
chính là thời kỳ quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa cộng sản. Thấm
nhuần quan điểm của chủ nghĩa Mác, Đảng ta khẳng định: “Theo quy luật tiến
hóa của lịch sử, loài người nhất định sẽ tiến tới chủ nghĩa xã hội”2.
Đó là xu thế, là tiến trình vận động tự nhiên của lịch sử thế giới. Chủ
nghĩa tư bản mặc dù vẫn còn tiềm năng tồn tại và phát triển nhưng những mâu
thuẫn nội tại của nó ngày càng trở nên gay gắt không thể dung hòa được,
những cuộc khủng hoảng trầm trọng về kinh tế, chính trị và xã hội những năm
đầu thế kỷ XXI báo hiệu chủ nghĩa tư bản đang ở thời kỳ suy thoái toàn diện;
bên cạnh đó, cùng với sự cải cách, đổi mới thành công của Việt Nam và Trung
1,2,3 Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H.2002, t.2, tr.274, 274, 270
2 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị
Quốc gia, Hà Nội, 2011, tr. 69.

3


Quốc, phong trào cánh tả và xã hội chủ nghĩa trên toàn thế giới cũng đang trỗi
dậy mạnh mẽ. Hơn nữa, nhiều nước tư bản phát triển theo xu hướng xã hội
dân chủ cũng cho thấy nhiều dấu hiệu thực tế của một xã hội tương lai thay
thế chủ nghĩa tư bản đang hình thành và ra đời ở chính trong lòng những nước
tư bản chủ nghĩa phát triển. Với những ý nghĩa trên, rõ ràng, xã hội loài người
đang chuyển mình mạnh mẽ sang một xã hội mới - xã hội xã hội chủ nghĩa
như một tiến trình phát triển lịch sử tự nhiên.
Thứ hai, Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917 khẳng định vai trò to
lớn, có ý nghĩa quyết định của Đảng Cộng sản Bônsêvích Nga dưới sự lãnh
đạo thiên tài của V.I.Lênin; đã biến “bóng ma ám ảnh châu Âu” thành một sức
mạnh hiện hữu, Chủ nghĩa Mác - Lênin từ lý luận khoa học trở thành thực
tiễn, từ tư tưởng trở thành hiện thực sinh động trên phạm vi thế giới. Đó là
cuộc cách mạng thủ tiêu chế độ áp bức, bóc lột, bất công - chế độ tư bản chủ
nghĩa, và đã “giành được nước Nga từ trong tay bọn nhà giàu để giao lại cho
những người nghèo, từ trong tay bọn bóc lột để giao lại cho những người lao
động”3.
Cách mạng Tháng Mười Nga đã đưa ra câu trả lời một cách rõ ràng, cụ
thể về vấn đề cơ bản của mọi cuộc cách mạng xã hội là vấn đề chính quyền
nhà nước và chính quyền nhà nước đó thuộc về ai, do ai lập nên và ra đời, tồn
tại vì ai; đã khẳng định dứt khoát sự khác nhau căn bản giữa cuộc cách mạng
vô sản với các cuộc cách mạng do giai cấp bóc lột, thống trị tiến hành. Cách
mạng vô sản là cuộc cách mạng do giai cấp công nhân và nhân dân lao động
tiến hành dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản - Bộ tham mưu chiến đấu có tổ
chức và là tổ chức cao nhất của giai cấp công nhân với mục tiêu, nhiệm vụ là
lật đổ ách thống trị của giai cấp bóc lột, giành chính quyền về tay nhân dân
lao động, sử dụng chính quyền ấy để tổ chức xây dựng xã hội mới, đem lại
cuộc sống tự do, ấm no, hạnh phúc thật sự cho nhân dân. Chính vì thế, cách
mạng Tháng Mười Nga là cuộc cách mạng có tính thời đại, khai phá con
3 V.I.Lênin, Toàn tập, Tập 36, NXB Tiến Bộ, M.1977, tr.209

4


đường cho nhân loại đi tới tương lai, mở ra thời đại mới - quá độ từ chủ nghĩa
tư bản lên chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới. Đột phá tiến công lật
đổ chế độ tư bản, đồng thời đã thức tỉnh nhân loại, chỉ dẫn con đường phát
triển trong kỷ nguyên mới của loài người.
2. NHẬN THỨC CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM VỀ CHỦ
NGHĨA XÃ HỘI VÀ CON ĐƯỜNG ĐI LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở
VIỆT NAM
2.1. Nhận thức về thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội
- Thứ nhất, nhận thức rõ tính đan xen, lâu dài, khó khăn phức tạp
của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội.
Thời kỳ quá độ lên chủ nghãi xã hội là bước phát triển tất yếu hợp quy
luật đã được học thuyết Mác - Lênin cỉ rõ: Giai cấp công nhân dưới sự lãnh
đạo của Đảng cộng sản sau khi giành chính quyền về tay mình sẽ bắt tay xây
dựng một hình thái mới - đó là hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa,
mà giai đoạn đầu là thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa cộng sản. Thực hiện thời kỳ
quá độ là một tất yếu khách quan đối với mọi nước sau khi giai cấ công nhân
đã giành thắng lợi trong cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa ở giai đoạn đầu.
Trong quá trình chỉ đạo thực tiễn, đảng ta càng nhận thức rõ ràng, quá độ
lên chủ nghĩa xã hội là một sự nghiệp lâu dài, vô cùng khó khăn và phức tạp,
vì nó phải tạo ra sự biến đổi sâu sắc về chất trên tất cả các lĩnh vực của đời
sống xã hội. Việt Nam đi lên chủ nghĩa xã hội từ một nước nông nghiệp lạc
hậu, bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa, lực lượng sản xuất rất thấp, lại trải qua
mấy chục năm chiến tranh để lại hậu quả nặng nề; các thế lực thường xuyên
tìm cách phá hoại công cuộc cải tạo và xây dựng đất nước xã hội chủ nghĩa,
cho nên lại càng khó khăn, phức tạp, do vậy nhất thiết phải trải qua một thời
kỳ quá độ lâu dài với nhiều bước đi, nhiều hình thức tổ chức kinh tế, xã hội
đan xen nhau, có sự đấu tranh giữa cái cũ và cái mới nên không thể nóng vội,
giản đơn.
- Thứ hai, bước đầu làm rõ “bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa”
5


Với tinh thần đổi mới, đến đại hội lần thức IX (2001), lần đầu tiên Đảng
ta quan niệm về “bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa” đã được đề cập. Theo đó.
“bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa, tức là bỏ qua việc xác lập vị trí thống trị của
quan hệ sản xuất và kiến trúc thượng tầng tư bản chủ nghĩa, nhưng tiếp thu,
kế thừa những thành tựu mà nhân loại đã đạt được dưới chế độ tư bản chủ
nghĩa, đặc biệt là về khoa học và công nghệ, đề phát triển nhanh lực lượng sản
xuất, xây dựng nền kinh tế hiện đại” . Như vậy, bỏ qua chế độ tư bản chủ
nghãi là bỏ qua chế độ áp bức, bất công bóc lột tư bản chủ nghĩa; bỏ qua
những thói hư tật xấu, những thiết chế, thể chế chính trị không phù hợp với
chế độ xã hội chủ nghĩa mà chúng ta xây dựng, song phải biết kế thừa, chắt
lọc những thành tựu, tinh hoa văn minh mà nhân loại đã đạt được ngay trong
thời kỳ phát triển tư bản chủ nghĩa trên quan điểm phát triển có chọn lọc. Đây
là quan điểm có ý nghĩa quan trọng trong việc thống nhất về nhận thứckhông
chỉ trong Đảng, mà trong toàn xã hội để trên cơ sở đó, triển khai các hoạt
động cả về mặt lý luận và thực tiễn cho phù hợp hơn. Đến nay, vấn đề thời kỳ
quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam vẫn phải tiếp tục được nghiên cứu để
làm sáng tỏ hơn cả về lý luận và thực tiễn.
2.2. Nhận thức về đặc trưng của xã hội xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng (1991) đã thông qua
cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội,
Cương lĩnh chỉ rõ: Xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng là một
xã hội: Do nhân dân lao động làm chủ; Có một nền kinh tế phát triển cao dựa
trên lực lượng sản xuất hiện đại và chế độ công hữu về các tư liệu sản xuất
chủ yếu; Có nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; Con người được
giải phóng khỏi áp bức, bóc lột, bất công, làm theo năng lực, hưởng theo lao
động, có cuộc số ng ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện
cá nhân; Các dân tộc trong nước bình đẳng, đoàn kết và giúp đỡ lẫn nhau
cùng tiến bộ. Có quan hệ hữu nghị và hợp tác với nhân dân tất cả cấc nước
trên thế giới”. Việc xác định những đặc trưng của xã hội xã hội chủ nghĩa ở

6


Việt Nam cho thấy, nhận thức của Đảng đã tiệm cận tới nhưng đặc trưng bản
chất của chủ nghĩa xã hội, phù hợp với điều kiện Việt Nam.
Từ sáu đặc trưng trên, đến Đại hội lần thứ X (2006), Đảng ta đã nếu lên
tám đặc trưng của xã hội xã hội chủ nghĩa mà Việt nam phấn đấu xây dựng.
Đến Đại hội lần thứ XI (2011), Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời
kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) xác định: xã
hội xã hội chủ nghĩa mà Việt nam xây dựng gồm tám đặc trưng:
Đặc trưng thứ nhất: Dân giàu, nước mạnh, dân chủ , công bằng, văn
minh. Đặc trưng này là kết quả của sự kết hợp những quan điểm của chủ
ngihã Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về mục tiêu của chủ nghĩa xã hội.
Đặc trưng thứ hai: do nhân dân làm chủ. Đặc trưng này khẳng định, mọi
công dân được làm chủ rộng rãi về mọi mặt, đảm bảo mọi quyền lực thuộc về
nhân dân.
Đặc trưng thứ ba: Có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản
xuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp. Đây là đặc trưng thể hiện
quan điểm nhất quán của Đảng Cộng sản Việt Nam trong thực hiện nền kinh
tế nhiều thành phần, khắc phục tình trạng coi nhẹ các thành phần kinh tế
thuộc chế độ sở hữu tư nhân. Đồng thời đặc trưng khẳng định khi xây dựng
thành công chủ nghĩa xã hội, với một nền kinh tế phát triển cao thì quan hệ
sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất lúc đó phải là
quan hệ sản xuất tiến bộ dựa trên chế độ công hữu về các tư liệu sản xuất chủ
yếu, phù hợp với bản chất của xã hội xã hội chủ nghĩa.
Đặc trưng thứ tư: Có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Đây
là đặc trưng chỉ rõ nền văn hóa tiên tiến bao gồm: Những tinh hoa, giá trị văn
hóa tiến bộ, hiện đại, nhân văn trên cơ sở mở rộng giao lưu, tiếp biến văn hóa.
Mặt khác, những bản sắc, giá trị truyền thống tốt đẹp của văn hóa dân tộc Việt
Nam cần phải được lưu giữ, bảo tồn, phát triển trong điều kiện hội nhập quốc
tế.
Đặc trưng thứ năm: Con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc,
có điều kiện phát triển toàn diện. Trên cơ sở kế thừa có chọn lọc và điều
7


chỉnh cách thức diễn đạt, đặc trưng này đã được xác định từ việc diễn đạt gọn,
rõ hơn những nội dung mà Cương lĩnh 1991 đã nêu, phản ánh mối quan hệ
giữa con người với con người, con người với xã hội trong xã hội xã hội chủ
nghĩa ở Việt Nam.
Đặc trưng thứ sáu: Các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng,
đoàn kết, tôn trọng và giúp đỡ nhau cùng phát triển. So với Cương lĩnh 1991,
đặc trưng này được bổ sung thêm nội dung “tôn trọng” trong giải quyết các
quan hệ tộc người ở Việt Nam nhằm tăng cường khối đại đoàn kết giữa các
tộc người. Điểm mới này là thành quả tổng kết thực tiễn từ việc thực hiện
chính sách dân tộc của Đảng.
Đặc trưng thứ bảy: Có Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của
nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân do Đảng Cộng sản lãnh đạo. Đây là đặc
trưng hoàn toàn mới được bổ sung so với các đặc trưng trong Cương lĩnh
1991. Xã hội xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam phải được xác định trong bản chất
của Nhà nước xã hội chủ nghĩa. Đó là nhà nước pháp quyền của nhân dân, do
nhân dân, vì nhân dân. Đặc trưng cơ bản của nhà nước pháp quyền là nhà
nước quản lý xã hội bằng luật, mọi công dân phải sống và làm việc theo Hiến
pháp và pháp luật và Nhà nước phải do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo.
Đặc trưng thứ tám: Có quan hệ hữu nghị và hợp tác với nhân dân các
nước trên thế giới. Với tinh thầntăng cường hội nhập quốc tế cả chiều rộng và
chiều sâu, đặc trưng này thể hiện quan điểm về chính sách đối ngoại của Việt
Nam trong điều kiện mới.
Tám đặc trưng được xác định trong cương lĩnh năm 2011 đã phản ánh
nhận thức tổng quát về chủ nghĩa xã hội và những đặc trưng này sẽ từng bước
được định hình để hiện thực hóa chủ nghĩa xã hội Việt nam
2.3. Nhận thức về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam
Để xây dựng thành công chủ nghũa xã hội ở Việt Nam với những đặc
trưng nêu trên, Đảng ta chỉ ra các phương hướng cần thực hiện. Nếu như
trong Cương lĩnh 1991 xác định bảy phương hướng quá độ lên xã hội chủ
8


nghĩa ở Việt nam thì trong cương lĩnh năm 2011 đã xác định tám phương
hướng với sự điều chỉnh, bổ sung cả nội dung và cách thức diễn đạt:
Một là, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh
tế tri thức, bảo vệ tài nguyên môi trường.
Điểm mới trong phương hướng này là ở chỗ: Chủ trương đẩy mạnh công
nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức và thực hiện tốt
việc bảo vệ tài nguyên, môi trường nhằm đảm bảo phát triển bền vững.
Hai là, phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
Kinh tế thị trường là thành quả chung của nhân loại và có nhiều loại kinh
tế thị trường khác nhau. Ở Việt Nam, kinh tế thị trường gắn liền vớu định
hướng xã hội chủ nghĩa nhằm tăng trưởng kinh tế nhưng không xã rời mục
tiêu của chủ nghĩa xã hội.
Ba là, xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; xây dựng
con người, nâng cao đời sống nhân dân, thực hiện tiến bộ và công bằng xã
hội.
Đây là phương hướng phát triển văn hóa Việt Nam trong điều kiện hội
nhập quốc tế. Phát triển văn hóa gắn với xây dựng con người, nâng cao mọi
mặt đời sống của nhân dân. Văn hóa được phát triển cùng với việc thực hiện
tiến bộ và công bằng xã hội, thể hiện tính ưu việt của chế độ xã hội chủ
nghiaã, coi con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của phát triển.
Bốn là, bảo đảm vững chắc quốc phòng và an ninh quốc gia, trật tự, an
toàn xã hội.
Công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội gắn liền với bảo vệ Tổ quốc xã
hội chủ nghĩa. Trong đó, một phương châm đặt ra cần thực hiện là phải bảo
đảm tăng cường quốc phòng, an ninh, quốc gia, bảo đảm trật tự, an toàn xã
hội. Đây là điều kiện góp phần ổn định để phát triển đất nước trong điều kiện
mới hội nhập quốc tế.
Năm là, thực hiện đường lối đối ngoại, độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu
nghị, hợp tác và phát triển; chủ động và tích cực hội nhập quốc tế.
9


Nội dung mới của phương hướng này là bên cạnh quan điểm về chính
sách đối ngoại phải tuân thủ các nguyên tắc độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu
nghị, hợp tác và phát triển, Việt Nam luôn chủ động và tích cực hội nhập quốc
tế để phát triển đất nước.
Sáu là, xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, thực hiện đại đoàn kết
toàn dân tộc, tăng cường mở rộng Mặt trận dân tộc thống nhất.
Dân chủ hóa đời sống xã hội đang là xu thế chung của phát triển loài
người, là một trong các trụ cột của phát triển. Để thể hiện bản chất ưu việt của
nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, Việt Nam phải xây dựng và từng bước hoàn
thiện nền dân chủ, mở rộng quyền dân chủ của công dân.
Bảy là, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân,
do nhân dân, vì nhân dân.
Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam phải là Nhà nước pháp
quyền (quản lý đất nước chủ yếu bằng pháp luật). Bản chất của nhà nước
pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam còn thể hiện cụ thể ở Việc, đó là
Nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân theo tư tưởng Hồ Chí
Minh.
Tám là, xây dựng Đảng trong sạch vững mạnh.
Yếu tố quyết định nhất của công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã
hội chủ nghĩa là phát huy vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Để
phát huy vai trò, chức năng của mình, Đảng cộng sản Việt Nam phải thường
xuyên được xây dựng thành một tổ chức trong sạch, vững mạnh trên các
phương diện: chính trị, tư tưởng, tổ chức và trong lối sống, đạo đức của mỗi
cán bộ, đảng viên.
Tám phương hướng trên về cơ bản thể hiện rõ phương thức, con đường,
biện pháp của chủ nghĩa xã hội trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã
hội, các chủ trương trong đường lối đối nội, đối ngoại. Trong một số phương
hướng đã thể hiện rõ vai trò của toàn bộ hệ thống chính trị - xã hội chủ nghĩa

10


ở Việt Nam cũng như trách nhiệm của từng thành viên trong hệ thống chính
trị do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo.

11


KẾT LUẬN
Có thể nói, những nhận thức mới của Đảng về đặc trưng chủ nghĩa xã
hội gắn liền với thực tiễn đổi mới của đất nước trong đổi mới. Sự bổ sung và
phát triển nhận thức lý luận đó là hết sức cần thiết, có ý nghĩa to lớn trong quá
trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Những thành tựu có được từ sự
kiên trì và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh
của Đảng Cộng sản Việt Nam vào thực tiễn xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt
Nam.
Những nhận thức, lý luận về chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam của Đảng ta
ngày càng đầy đủ, phù hợp với quy luật khách quan và tình hình thực tiễn thời
kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Từ những nhận thức đúng đắn,
đầy đủ đó góp phần làm cho con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam
càng ngày càng rõ nét.

12


TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H.2002, t.2
2. V.I.Lênin, Toàn tập, Tập 36, NXB Tiến Bộ, M.1977.
3. Đảng Cộng sản Việt Nam (1987), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc
lần thứ VI, Nxb Sự thật, Hà Nội.
4. Đảng Cộng sản Việt Nam (1991), Cương lĩnh xây dựng đất nước
trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Nxb Sự thật, Hà Nội.
5. Đảng Cộng sản Việt Nam (1994), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc
giữa nhiệm kỳ (khóa VII), Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội.
6. Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc
lần thứ VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
7. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc
lần thứ IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
8. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc
lần thứ X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
9. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc
lần thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
10. Đảng Cộng sản Việt Nam (2016), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn
quốc lần thứ XII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
11. Giáo trình cao cấp lý luận chính trị: Môn Chủ nghĩa xã hội khoa học,
Nxb. Lý luận chính trị, H, 2018.

13


14



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×