Tải bản đầy đủ

lý luận và thực tiễn

1
MỞ ĐẦU
Sự nghiệp đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo hơn 30 năm qua
đã đạt được những thành tựu về kinh tế - xã hội to lớn và có ý nghĩa lịch sử.
“Đất nước đã ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội, có sự thay đổi cơ bản và
toàn diện. Kinh tế tăng trưởng khá nhanh; sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện
đại hóa, phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đang đẩy
mạnh. Đời sống nhân dân được cải thiện rõ rệt. Hệ thống chính trị và khối đại
đoàn kết dân tộc được củng cố và tăng cường. Chính trị - xã hội ổn định. Quốc
phòng và an ninh được giữ vững. Vị thế nước ta trên trường quốc tế không
ngừng được nâng cao. Sức mạnh tổng hợp của quốc gia đã tăng lên rất nhiều,
tạo ra thế và lực mới cho đất nước tiếp tục đi lên với triển vọng tốt đẹp” 1.
Những thành tựu ấy có nhiều nguyên nhân, một trong những nguyên nhân là
Đảng ta luôn quán triệt tốt sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong lãnh
đạo sự nghiệp đổi mới. Bởi lẽ, trên cơ sở quán triệt sự thống nhất giữa lý luận
và thực tiễn đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước không
ngừng được bổ sung, hoàn thiện cho phù hợp với thực tiễn Việt Nam; những
căn bệnh giáo điều, kinh nghiệm, chủ quan duy ý chí đã dần được khắc phục.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Thống nhất giữa lý luận và thực tiễn là
một nguyên tắc căn bản của chủ nghĩa Mác - Lênin. Thực tiễn không có lý
luận hướng dẫn thì thành thực tiễn mù quáng. Lý luận mà không có liên hệ

với thực tiễn là lý luận suông” 2. Như vậy, thống nhất giữa lý luận và thực tiễn
theo Chủ tịch Hồ Chí Minh phải được hiểu trên tinh thần biện chứng: thực
tiễn cần tới lý luận (khoa học) soi đường, dẫn dắt, chỉ đạo, hướng dẫn, định
hướng để không mắc phải bệnh kinh nghiệm, không rơi vào mò mẫm, vòng
vo, mù quáng mất thời gian. Còn lý luận (khoa học) phải dựa trên cơ sở thực
tiễn, nảy sinh từ thực tiễn, phản ánh thực tiễn, luôn liên hệ với thực tiễn và
1 Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội,
2006, tr.17.
2 Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb Sự thật, Hà Nội, 2002, t.8, tr.496.


2
được bổ sung, hoàn thiện, phát triển thông qua tổng kết thực tiễn có lý luận
nếu không sẽ mắc phải bệnh giáo điều. Nghĩa là thực tiễn, lý luận cần đến
nhau, nương tựa vào nhau, hậu thuẫn, bổ sung cho nhau. Không có thực tiễn
sẽ không có lý luận; ngược lại, không có lý luận thì thực tiễn sẽ mất phương
hướng. Thấm nhuần tinh thần ấy, Đảng Cộng sản Việt Nam trong quá trình lãnh
đạo sự nghiệp đổi mới luôn quán triệt sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn.
Với ý nghĩa trên, tôi chọn chủ đề “Nội dung nguyên tắc thống nhất
giữa lý luận và thực tiễn. Ý nghĩa trong việc chống bệnh kinhđối với đội
ngũ cán bộ, đảng viên hiện nay” cho bài thu hoạch của bản thân.
Kết cấu của Bài thu hoạch gồm: Phần mở đầu, nội dung, kết luận và tài
liệu tham khảo.


3
NỘI DUNG
1. PHẠM TRÙ THỰC TIỄN VÀ LÝ LUẬN
1.1. Phạm trù thực tiễn
Vấn đề thực tiễn đã được đặt ra từ rất sớm trong lịch sử triết học.
1.1.1. Khái niệm
Trong quan niệm của triết học mácxít: “Thực tiễn là toàn bộ những hoạt
động vật chất - cảm tính, mang tính lịch sử - xã hội của con người nhằm cải
tạo tự nhiên và xã hội”. Điều đó được thể hiện như sau:
- Thứ nhất, thực tiễn là hoạt động vật chất - cảm tính của con người bởi
vì:
+ Hoạt động vật chất là những hoạt động mà con người sử dụng công cụ
vật chất, phương tiện vật chất tác động vào đối tượng vật chất nhằm tạo của
cải vật chất để phục vụ cuộc sống của con người.
+ Các hoạt động này khi tác động vào các giác quan của con người thì


con người có thể nhận thức được. Trong quá trình hoạt động thực tiễn của con
người có sự tham gia quá trình chủ quan của con người thể hiện ý chí, tình
cảm, nguyện vọng của người lao động.
- Thứ hai, thực tiễn là những hoạt động mang tính lịch sử - xã hội của
con người. Bởi những nội dung căn bản sau:
+ Là các hoạt động diễn ra trong xã hội;
+ Bị giới hạn bởi những điều kiện lịch sử - xã hội cụ thể. Hay nói cách
khác, đây là hoạt động mang tính khách quan.
- Thứ ba, thực tiễn có tính mục đích nhằm cải tạo tự nhiên, xã hội phục
vụ con người.
1.1.2. Các hình thức cơ bản của hoạt động thực tiễn
- Hoạt động sản xuất vật chất: là hoạt động thực tiễn đầu tiên, cơ bản
nhất của con người và xã hội loài người. Trong Hệ tư tưởng Đức, C.Mác
khẳng định: hành động sản xuất vật chất làm cho con người trở thành người
theo đúng nghĩa. Sản xuất của cải vật chất là cơ sở của sản xuất xã hội.


4
Sản xuất xã hội bao gồm: sản xuất của cải vật chất; sản xuất đời sống
tinh thần; sản xuất ra chính bản thân con người.
- Hoạt động chính trị - xã hội: là hình thức con người trực tiếp cải tạo xã
hội, thay đổi các thiết chế, tổ chức, bộ máy trong xã hội. Ví dụ: cách mạng,
đánh đuổi thực dân…
- Thực nghiệm khoa học: Là hình thức đặc biệt của thực tiễn mà con chủ
động sáng tạo ra những điều kiện không có sẵn trong tự nhiên, tiến hành
nghiên cứu thực nghiệm để áp dụng các thành tựu của khoa học để cải tạo tự
nhiên và xã hội…
- Các hình thức không cơ bản: hoạt động y tế, thể dục, thể thao… Nó
được ra đời, nảy sinh từ các hình thức cơ bản.
1.2. Phạm trù lý luận
1.2.1. Khái niệm
Lý luận khoa học là hệ thống những tri thức được khái quát từ kinh
nghiệm thực tiễn phản ánh những mối liên hệ bản chất, tất nhiên, mang tính
quy luật của các sự vật, hiện tượng được biểu đạt bằng hệ thống nguyên lý,
quy luật, phạm trù.
1.2.2. Đặc trưng của lý luận
- Lý luận có tính hệ thống, tính lôgíc chặt chẽ, tính khái quát cao.
- Cơ sở của lý luận là những tri thức kinh nghiệm thực tiễn. Không có
kinh nghiệm thực tiễn thì không có cơ sở để khái quát lý luận.
- Phản ánh được bản chất của sự vật, hiện tượng (Ví dụ: Qua 3000 thí
nghiệm thì Eđisơn mới xác định được dây wofram trong bóng đèn).
2. NGUYÊN TẮC THỐNG NHẤT GIỮA LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
2.1. Nội dung nguyên tắc
Thực tiễn và lý luận thống nhất biện chứng với nhau, đòi hỏi có nhau,
nương tựa vào nhau, tác động qua lại với nhau. Không có thực tiễn thì không
lý luận, ngược lại không có lý luận khoa học thì cũng không thể có thực tiễn
chân chính.


5
2.2. Cơ sở của nguyên tắc thống nhất biện chứng giữa thực tiễn và lý
luận
Chính là sự thống nhất biện chứng giữa thực tiễn và lý luận. Điều này
thể hiện trên các mặt:
2.2.1. Vai trò của thực tiễn đối với lý luận
- Thực tiễn là cơ sở, động lực của nhận thức lý luận.
+ Thực tiễn là cơ sở thể hiện: thực tiễn cung cấp “chất liệu”, cung cấp
“vật liệu” cho nhận thức lý luận…
+ Thực tiễn là động lực thể hiện: thực tiễn luôn luôn vận động, khi nó
vận động sẽ đề ra nhu cầu, nhiệm vụ đòi hỏi các nhà lý luận phải giải quyết,
thúc đẩy nhận thức, lý luận phát triển.
- Thực tiễn là mục đích của nhận thức lý luận.
+ Bởi hoạt động nhận thức, hoạt động lý luận không có mục đích tự thân
mà phải nhằm trở lại phục vụ thực tiễn.
+ Lý luận chỉ có ý nghĩa đích thực, khi chúng được vận dụng vào thực
tiễn, phục vụ thực tiễn, làm biến đổi thực tiễn.
+ Do vậy, thước đo đánh giá giá trị của lý luận chính là thực tiễn.
- Thực tiễn là tiêu chuẩn để đánh giá sự đúng, sai của nhận thức, lý luận.
+ Lý luận có thể phản ánh đúng hoặc không đúng hiện thực khách quan.
Muốn biết lý luận đó đúng hay sai phải được kiểm nghiệm thông qua thực
tiễn.
+ Thông qua thực tiễn, con người mới vật chất hóa được tri thức, hiện
thực hóa được tư tưởng, mới biết được nhận thức, lý luận của mình là đúng
hay sai.
+ Thực tiễn là tiêu chuẩn của chân lý.
Chân lý là tri thức phản ánh đúng hiện thực khách quan và được thực
tiễn kiểm nghiệm.
Với tư cách là tiêu chuẩn của chân lý, thực tiễn vừa có tính tuyệt đối, vừa
có tính tương đối.


6
Tính tuyệt đối: chỉ có thực tiễn mới là tiêu chuẩn khách quan duy nhất để
khẳng định hay bác bỏ sai lầm;
Tính tương đối: bản thân thực tiễn không đứng im mà luôn luôn thay đổi.
Vì vậy, khi thực tiễn thay đổi thì tiêu chuẩn để kiểm tra chân lý cũng phải
thay đổi theo cho phù hợp.
- Ý nghĩa phương pháp luận: Trong nhận thức và hành động thực tiễn
phải có quan điểm thực tiễn. Quan điểm này đòi hỏi:
+ Nhận thức, lý luận phải gắn với nhu cầu thực tiễn.
+ Phải lấy thực tiễn làm tiêu chuẩn để đánh giá sự đúng sai của lý luận,
của chủ trương, đường lối, chính sách.
+ Phải tăng cường tổng kết thực tiễn để kiểm tra lý luận, chủ trương,
đường lối, chính sách, trên cơ sở đó kịp thời bổ sung, điều chỉnh, phát triển lý
luận. Tổng kết thực tiễn phải trên các cơ sở: Tuân thủ nguyên tắc khách quan,
không được tô hồng, bôi đen thực tiễn; phải có mục đích đúng đắn; phải có
tính khái quát cao.
2.2. Vai trò của lý luận đối với thực tiễn
- Đóng vai trò soi đường, dẫn dắt, chỉ đạo thực tiễn;
- Giáo dục, thuyết phục, động viên và tập hợp quần chúng; Bởi lý luận
phản ánh đúng bản chất của sự vật…
- Góp phần dự báo, định hướng cho hoạt động thực tiễn, giúp cho hoạt
động thực tiễn bớt mò mẫm, vòng vo.
- Cung cấp cho con người những tri thức về tự nhiên, xã hội và bản thân
con, trên cơ sở đó con người có thể biến đổi tự nhiên, xã hội và chính bản
thân con người.
- Lý luận có tính độc lập tương đối so với thực tiễn, do vậy nó có thể tác
động trở lại thực tiễn, góp phần làm biến đổi thực tiễn. Bởi, lý luận là sản
phẩm của sự phát triển của nhân loại, phụ thuộc vào cả yếu tố của chủ thể
nhận thức lý luận, khách thể của lý luận, phụ thuộc vào những điều kiện khác
nhau.


7
Tuy nhiên, sự tác động của lý luận đối với thực tiễn phải thông qua hoạt
động thực tiễn của con người. Nếu không thông qua hoạt động thực tiễn “lý
luận chỉ là mớ giấy lộn để ở trên bàn mà thôi”, “không lao động, không xây
dựng thì chủ nghĩa xã hội mãi mãi chỉ là hình ảnh đẹp trong đầu óc của chúng
ta mà thôi” (V.I.Lênin).
Sự tác động của lý luận đối với thực tiễn phụ thuộc vào: Tính khoa học,
đúng đắn của lý luận; mức độ thâm nhập của lý luận khoa học vào quảng đại
quần chúng nhân dân và sự vận dụng đúng đắn, sáng tạo của chủ thể lãnh đạo,
quản lý.
- Ý nghĩa phương pháp luận: Trong nhận thức và hành động cần phải
thấy được vai trò của lý luận đối với thực tiễn để trên cơ sở đó, mỗi cán bộ,
đảng viên không ngừng học tập, nâng cao trình độ lý luận cho bản thân.
2.3. Yêu cầu của nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn
- Lý luận phải dựa trên cơ sở thực tiễn, coi thực tiễn như công cụ,
phương tiện nhận thức. Không chỉ dựa vào kiến thức sách vở rồi suy luận một
cách tư biện chủ quan.
- Phát triển lý luận phải theo yêu cầu của thực tiễn. Nghĩa là bám sát sự
vận động và phát triển của thực tiễn để sửa đổi, bổ sung, phát triển cho phù
hợp, đồng thời tôn trọng thực tiễn và nhu cầu của quần chúng nhân dân.
3. Ý NGHĨA TRONG VIỆC CHỐNG BỆNH KINH NGHIỆM
3.1. Bản chất và nguyên nhân của bệnh kinh nghiệm
Bệnh kinh nghiệm, về bản chất, là tư tưởng và hành động tuyệt đối hóa
kinh nghiệm cá biệt cụ thể, biến chúng thành những kinh nghiệm phổ biến, hạ
thấp, coi thường lý luận và thực chất là coi thường cả thực tiễn. Chúng ta đi
lên từ một nước nông nghiệp lạc hậu, sản xuất nhỏ là phổ biến, trình độ dân
trí thấp, khoa học - kỹ thuật chưa phát triển. Đây chính là điều kiện thuận lợi
cho bệnh kinh nghiệm nảy sinh. Hồ Chí Minh nhận xét rằng, trong Đảng ta
còn “có những cán bộ, những đảng viên cũ, được làm việc, có kinh nghiệm.
Cố nhiên, những anh em đó rất qúi báu cho Đảng. Nhưng họ lại mắc phải cái


8
bệnh coi khinh lý luận. Họ quên rằng: kinh nghiệm của họ tuy tốt, nhưng
cũng chẳng qua là từng bộ phận mà thôi, chỉ thiên về một mặt mà thôi. Có
kinh nghiệm mà không có lý luận thì cũng như một mắt sáng, một mắt mờ” 3.
Bởi vậy, Hồ Chí Minh nhắc nhở cán bộ, đảng viên phải ra sức học tập lý luận,
nâng cao trình độ lý luận cũng như chuyên môn, nghiệp vụ.
Biểu hiện của bệnh kinh nghiệm là coi thường lý luận, không chịu học
tập lý luận, đề cao tư duy kinh nghiệm, cho kinh nghiệm là yếu tố duy nhất
quyết định thành công.
Hiện nay, bệnh kinh nghiệm ở đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là những
cán bộ lãnh đạo, quản lý ở Gia Lai thường có những biểu hiện cơ bản như:
Một là, bệnh kinh nghiệm gắn chặt với sự tuỳ tiện, tự do cá nhân. Hai là, bệnh
kinh nghiệm thường gắn với bệnh gia trưởng, mang tính cục bộ địa phương,
coi thường thế hệ trẻ, “nặng tình hơn lý”. Ba là, bệnh kinh nghiệm còn thể
hiện ở suy nghĩ giản đơn, tư duy áng chừng, đại khái, thiếu tính hệ thống.
Mỗi một địa phương trong cả nước, bệnh kinh nghiệm ở đội ngũ cán bộ,
đảng viên cấp cơ sở có những nguyên nhân khác nhau, do đặc thù riêng của
địa phương đó. Tuy nhiên, ở Gia Lai bệnh kinh nghiệm ở đội ngũ cán bộ,
đảng viên nói chung và cán bộ lãnh đạo, quản lý nói riêng thường mắc phải là
do: ảnh hưởng của hoàn cảnh kinh tế - xã hội ở cơ sở tỉnh Gia Lai còn gặp
nhiều khó khăn, đời sống của nhân dân các dân tộc đã được chú trọng để nâng
cao nhưng về cơ bản vẫn gặp nhiều bất cập; ảnh hưởng tiêu cực của tư tưởng
gia trưởng, phong kiến, do đó tạo ra tính áp đặt trong các mối quan hệ (vua
tôi, cha con, chồng vợ…); ảnh hưởng của tâm lý sản xuất nhỏ và của cơ chế
tập trung, quan liêu bao cấp còn tàn dư lại; công tác đào tạo cán bộ và chính
sách cán bộ đối với cấp cơ sở còn nhiều hạn chế, bất cập; trình độ văn hoá,
khoa học - kỹ thuật, trình độ lý luận của bản thân đội ngũ cán bộ, đảng viên
còn thấp kém; ý thức tự giác học tập lý luận, học tập văn hóa của đội ngũ cán

3 Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb Sự thật Hà Nội, 2002, t.5, tr.234.


9
bộ, đảng viên còn yếu, một bộ phận trong số họ còn nặng sự vụ, bị thoái hoá,
biến chất.
3.2. Phương hướng và giải pháp để ngăn ngừa, khắc phục ảnh
hưởng của bệnh kinh nghiệm ở đội ngũ cán bộ, đảng viên hiện nay
Thứ nhất, nâng cao hiệu quả công tác đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính
trị, chuyên môn, nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ, đảng viên
Để nâng cao hiệu quả công tác đào tạo, bồi dưỡng, lý luận chính trị,
chuyên môn nghiệp vụ, cần giải quyết đồng bộ các nhiệm vụ sau:
Một là, phải đổi mới căn bản chương trình, nội dung đào tạo, bồi dưỡng
về lý luận chính trị, nâng cao năng lực tư duy lý luận cho cán bộ.
Hai là, tiếp tục đổi mới phương pháp giảng dạy và học tập lý luận,
chuyên môn nghiệp vụ, đầu tư cơ sở vật chất đảm bảo cho quá trình đào tạo
cán bộ của tỉnh.
Ba là, xây dựng đội ngũ giảng viên, cán bộ quản lý ngang tầm với nhiệm
vụ mới cả về số lượng và chất lượng ở Trường Chính trị tỉnh và các Trung
tâm Bồi dưỡng chính trị huyện, thị xã và thành phố Pleiku.
Bốn là, đẩy mạnh việc áp dụng có hiệu quả các thành tựu khoa học công nghệ vào sản xuất, tạo điều kiện nâng cao trình độ khoa học - kỹ thuật,
trình độ văn hóa cho cán bộ, đảng viên.
Thứ hai, đẩy mạnh dân chủ ở cơ sở tạo điều kiện thuận lợi cho việc
ngăn ngừa, khắc phục bệnh kinh nghiệm ở đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản
lý.
Dân chủ hóa tạo điều kiện để cán bộ lãnh đạo, quản lý phát triển toàn
diện cả về thể chất và trí tuệ, cả về phẩm chất lãnh đạo và năng lực lãnh đạo,
quản lý, gắn lý luận với thực tiễn. Giá trị dân chủ càng phát triển, càng được
mọi người tôn trọng, thì nhân cách, phẩm giá con người ngày càng được đề
cao, con người có thể chủ động phát huy tính sáng tạo của mình, dân chủ hóa
góp phần thúc đẩy ý thức vươn lên khẳng định nhân cách của cán bộ lãnh đạo,
quản lý trong cộng đồng và trong xã hội.


10
Mặt khác, đẩy mạnh dân chủ hóa, còn do tình trạng mất dân chủ đang
diễn ra khá phổ biến ở cơ sở. Cán bộ lãnh đạo, quản lý còn bị đè nặng bởi tư
tưởng dòng họ, cục bộ địa phương, bệnh thành tích, bệnh quan liêu, bệnh kinh
nghiệm, che dấu khuyết điểm, bưng bít thông tin, hách dịch, xa rời quần
chúng, ý thức tuân thủ pháp luật kém. Điều đó, tất yếu dẫn đến không phát
huy được sức mạnh, sức sáng tạo của quần chúng nhân dân, dẫn đến hình
thành một lớp người “quan cách mạng”.
Thứ ba, đẩy mạnh công tác tổng kết thực tiễn, mở rộng, giao lưu hợp
tác, tham quan học hỏi kinh nghiệm cho đội ngũ cán bô.
Thực tế cho thấy, năng lực tư duy lý luận của cán bộ , đảng viên còn
nhiều hạn chế về nhiều mặt, nên việc tổng kết thực tiễn, rút kinh nghiệm tổ
chức thực tiễn cho đội ngũ cán bộ này là rất khó khăn. Bởi vì, tổng kết thực
tiễn đòi hỏi phải có năng lực tư duy khoa học kết hợp phương pháp duy vật biện
chứng làm nền tảng. Cho nên, để khắc phục tình trạng này, trước hết cần phải có
những quy định, chính sách cụ thể đề giúp họ thấy rõ những tác hại của bệnh
kinh nghiệm; từ đó họ nhận thức đầy đủ hơn giá trị của lý luận khoa học, họ sẽ
không bị trói buộc vào thực tiễn cụ thể hay vào những tình huống cá biệt với
những cách thức phương pháp hành động cũ. Qua đó, có thể thấy, tổng kết thực
tiễn là một trong những nhân tố góp phần khắc phục bệnh kinh nghiệm, bệnh giáo
điều và một số căn bệnh khác trong đội ngũ cán bộ, đảng viên, vốn đã tồn tại ở một
bộ phận không nhỏ đối với cán bộ, đảng viên đặc biệt ở cơ sở hiện nay.
Thứ tư, phát huy tinh thần tự giác học tập, rèn luyện phấn đấu, vươn
lên của đội ngũ cán bộ, đảng viên.
Ngay từ đầu, các chủ thể giáo dục cần phải trang bị cho cán bộ, đảng
viên một lượng kiến thức chuẩn, có tính hệ thống về chủ nghĩa Mác - Lênin,
tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật
của Nhà nước, hệ thống các nguyên tắc, chuẩn mực đạo đức cách mạng, nhằm
hình thành ở họ ý thức đạo đức cách mạng hoàn thiện. Cùng với trang bị tri
thức cho họ ý thức đạo đức, cần phải quan tâm, rèn luyện cho họ phương


11
pháp tư duy khoa học, tư duy lý luận, nâng cao năng lực nhận thức làm cơ sở
hình thành tính tích cực, tự giác ở cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp cơ sở, khắc
phục bệnh kinh nghiệm.
Cần chú ý là, cán bộ, đảng viên với những nét đặc thù bởi trình độ nhận
thức và năng lực tư duy nhất định, quá trình tự giác hoạt động, rèn luyện,
phấn đấu vươn lên không chỉ giúp họ nắm vững được kiến thức căn bản, mà
còn chuyển những kiến thức học được đó thành niềm tin cá nhân, xây dựng
thế giới quan đúng đắn, có đạo đức, có lối sống lành mạnh và hoàn thành tốt
công việc của mình.


12
KẾT LUẬN
Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam nói chung, sự nghiệp
đổi mới nói riêng, Đảng ta luôn quán triệt sự thống nhất giữa lý luận và thực
tiễn. Điều này thể hiện ở chỗ, Đảng thường xuyên tổng kết thực tiễn để bổ
sung, hoàn thiện đường lối, chủ trương, chính sách cho phù hợp với điều kiện,
hoàn cảnh Việt Nam. Đồng thời, Đảng làm hết sức mình để nâng cao trình độ
lý luận cho cán bộ, đảng viên và nhân dân, để mỗi cán bộ, đảng viên luôn nắm
vững chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và biết vận dụng những
tư tưởng đó vào điều kiện nước ta.
Hiện nay, với sự phát triển của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, mỗi cán
bộ, đảng viên cần ra sức học tập, nghiên cứu, quán triệt nội dung thống nhất
giữa lý luận và thực tiễn. Có như vậy, chúng ta mới khắc phục và tránh rơi
vào căn bệnh kinh nghiệm. Đồng thời, tích cực đấu tranh không khoan
nhượng với những kẻ thù về tư tưởng - lý luận, chỉ ra bản chất sai lầm, phản
khoa học, những mục đích sâu xa của chúng. Trên cơ sở đó, bảo vệ sự trong
sáng của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, bảo vệ sự đúng đắn
trong đường lối của Đảng. Muốn vậy, phải thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp,
trong đó có giải pháp như Đại hội XII của Đảng đã chỉ ra “Đổi mới công tác
tuyên truyền, giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống cho cán bộ, đảng
viên. Đấu tranh, ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị,
đạo đức, lối sống; ngăn chặn, đẩy lùi những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự
chuyển hóa”. Tăng cường đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, hoạt động
“diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch; chủ động ngăn chặn, phản bác
các thông tin, quan điểm xuyên tạc, sai trái, thù địch”4.

4 Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Văn phòng Trung ương Đảng, Hà Nội,
2016, tr.200 - 201


13
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb Sự thật Hà Nội, 2002, t.5.
2. Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb Sự thật, Hà Nội, 2002, t.8.
3. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị quốc
gia, Hà Nội, 2006.
4. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Văn phòng Trung
ương Đảng, Hà Nội, 2016.
5. Giáo trình cao cấp lý luận chính trị: Môn triết học Mác - Lênin, Nxb.

Lý luận chính trị, Hà Nội, 2018.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×