Tải bản đầy đủ

Các cơ sở sản xuất kinh doanh nông nghiệp và vấn đề quản trị rủi ro: Phần 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ðÀO TẠO
TRƯỜNG ðẠI HỌC NÔNG NGHIÊP I
TS.Bùi Thị Gia (chủ biên) và ThS.Trần Hữu Cường

QUẢN TRỊ RỦI RO
TRONG CÁC CƠ SỞ SẢN XUẤT
KINH DOANH NÔNG NGHIỆP

HÀ NỘI 2005


LỜI NÓI ðẦU
Nông nghiệp là ngành có nhiều rủi ro và không chắc chắn, vì vậy người nông dân
luôn phải quyết ñịnh sản xuất dưới ñiều kiện rủi ro. ðể giúp những người quan tâm nghiên
cứu rủi ro trong nông nghiệp, chúng tôi ñã soạn thảo cuốn quản trị rủi ro trong các cơ sở sản
xuất kinh doanh nông nghiệp này.
Cuốn sách tập trung luận giải các vấn ñề sau ñây: Rủi ro là gì? Tại sao rủi ro lại quan
trọng ? Rủi ro ñược mô hình hóa và ñược ño như thế nào? Rủi ro xuất phát từ ñâu? Nông dân
có thái ñộ như thế nào ñối với rủi ro? Làm thế nào ñể khắc phục rủi ro? Những người cần
quan tâm ñến rủi ro là những ai? Quá trình trả lời các câu hỏi trên là quá trình làm rõ các
khái niệm, các công cụ nghiên cứu ứng xử ñối với rủi ro và cải thiện quyết ñịnh sản xuất kinh

doanh của nhà quản trị.
Cuốn sách ñược thiết kế ñể phục vụ cho sinh viên chuyên ngành kinh tế nói chung,
ngành kinh tế nông nghiệp nói riêng, ñặc biệt là sinh viên chuyên ngành quản trị kinh doanh.
Cuốn sách còn giúp ích cho các nhà kinh tế trong giảng dạy và nghiên cứu lĩnh vực này, các
nhà hoạch ñịnh chính sách nông nghiệp và cho những người làm công tác khuyến nông.
Cuốn sách gồm 7 chương:
Chương I giới thiệu chung về quản trị rủi ro, trong ñó nhấn mạnh tầm quan trọng của
quản trị rủi ro trong nông nghiệp và quá trình phát triển của khoa học quản trị rủi ro, các loại
rủi ro và các yếu tố gây nên rủi ro trong nông nghiệp và các bước tiến hành quản trị rủi ro
Chương II ñề cập ñến thái ñộ ñối với rủi ro và phương pháp ño thái ñộ ñối với rủi ro,
trong ñó nhấn mạnh hàm lợi ích kỳ vọng, các dạng hàm biểu diễn thái ñộ ñối với rủi ro và
các phương pháp ño lường rủi ro.
Chương III ñề cập ñến quyết ñịnh dưới ñiều kiện rủi ro, trong ñó nhấn mạnh các qui
tắc lựa chọn phương án sản xuất kinh doanh tối ưu trong ñiều kiện có tính ñến rủi ro.
Chương IV ñề cập ñến biến ñộng giá và biện pháp nhằm hạn chế rủi ro về giá
Chương V ñề cập ñến các chiến lược giảm rủi ro trong sản xuất và marketing
Chương VI ñề cập ñến rủi ro tài chính, trong ñó nhấn mạnh sự liên quan giữa sử dụng
tín dụng và rủi ro tài chính và các chiến lược nhằm giảm rủi ro tài chính
Chương VII ñề cập ñến vai trò của chính phủ, trong ñó chủ yếu bàn luận ñến khuyết
tật thị trường là nguyên nhân dẫn ñến rủi ro, ñồng thời bàn ñến các chính sách can thiệp của
chính phủ và rút ra những kinh nghiệm từ các các chính sách ñó.
Giáo trình có sự ñóng góp của TS.Bùi Thị Gia, chủ biên và trực tiếp viết các chương
I, II, III, VII, tham gia viết các chương IV, V, VI ; ThS. Trần Hữu Cường viết các chương
IV, V, VI. Mặc dù chúng tôi ñã rất nỗ lực, cố gắng nghiên cứu, tham khảo các tài liệu của
nước ngoài và trong nước ñể biên soạn cuốn sách này, nhưng do môn học còn quá mới, nên
chắc chắn không tránh khỏi thiếu sót về nội dung cũng như hình thức. Chúng tôi rất mong
ñược bạn ñọc gần xa chân thành góp ý ñể chúng tôi có ñiều kiện tiếp tục hoàn thiện cuốn
sách ñể phục vụ bạn ñọc ngày một tốt hơn.
Xin trân trọng cám ơn!
NHÓM TÁC GIẢ


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

DSR: (downside risk):

rủi ro xấu

DEU(direct elicitation of utility funtions): xác ñịnh trực tiếp hàm lợi ích
EUM(expected utility model):



mô hình lợi ích kỳ vọng

OEB(observed economic behavior):

quan sát ứng xử kinh tế

ROVC’s(returns over variable costs):

thu nhập ñã trừ chi phí biến ñổi

SF1(safety- first rule 1):

qui tắc an toàn ñặt lên hàng ñầu thứ 1

SF2(safety- first rule 2):

qui tắc an toàn ñặt lên hàng ñầu thứ 2

SF3( safety- first rule 3):

qui tắc an toàn ñặt lên hàng ñầu thứ 3

CV (coefficient of variation):

Hệ số biến ñộng


CHƯƠNG I-2
GIỚI THIỆU CHUNG VỂ QUẢN TRỊ RỦI RO
Mục ñích chương
Học xong chương này học viên sẽ nắm ñược các vấn ñề sau:
- Tầm quan trọng của quản lý rủi ro trong môi trường kinh doanh luôn thay ñổi
- Sự phát triển của khoa học phân tích rủi ro
- Các khái niệm rủi ro, không chắc chắn, các loại rủi ro, nguyên nhân gây ra rủi ro
- Khái niệm quản trị rủi ro, các bước tiếp cận trong quản trị rủi ro
1. Rủi ro với khu vực nông nghiệp
Xã hội ngày càng phát triển thì hoạt ñộng của con người ngày càng ña dạng và
phong phú và rủi ro ñối với con người cũng ngày càng ña dạng hơn. Nông nghiệp là một
ngành có nhiều rủi ro. Ở thời tiền sử, rủi ro của loài người là rủi ro săn bắn và hái lượm
thức ăn. Kẻ từ ñó con người ñã tìm cách tự trồng cấy, chăn nuôi và kiểm soát quá trình sản
xuất ñể ít rủi ro hơn. Ngày nay, môi trường sản xuất kinh doanh ñã khác trước nhiều và sẽ
còn thay ñổi theo thời gian. Những thay ñổi của môi trường kinh doanh ñã làm tăng thêm
ñộ mất ổn ñịnh cho người sản xuất. Trong nông nghiệp, biến ñộng giá ñầu vào ñầu ra, hạn
hán, lụt, bão, mưa ñá, thay ñổi kỹ thuật, thây ñổi lãi suất tiền vay, thay ñổi các qui ñịnh
của chính phủ ñều có khả năng gây ra rủi ro cho người nông dân, sau ñây là một số ví dụ
về những vấn ñề thường gặp có liên quan ñến rủi ro.
Giá cà phê trên thị trường thế giới giảm, người nông dân trồng cà phê ở Tây
nguyên băn khoăn không biết nên tiếp tục giữ lại vườn cà phê hay phá cà phê ñể trồng cây
khác. Trận mưa ñá và các cơn lốc ñầu tháng 5 năm 2005 vừa qua ñã gây thiệt hại nhiều héc
ta hoa màu và lúa của một số tỉnh phía Bắc nước ta. Việc áp ñặt thuế…..của Mỹ ñối với
các công ty nhập khẩu cá Ba sa của Việt nam ñã gây khó khăn cho người nuôi cá ba sa ở
ðồng bằng sông Cửu Long.
Một nông dân trồng ngô vì một trong những lý do muốn bảo vệ môi trường nên ñã hạn
chế sử dụng thuốc trừ cỏ bằng cách ñưa cơ giới vào. Nếu thời tiết thuận lợi thì ñó là một
lựa chọn hay. Song, nếu thời tiết không thuận, mưa, bão, ñất ướt không thể làm cỏ bằng
máy làm cho khâu chăm sóc bị chậm, cỏ dại lấm át cây trồng, hoặc trong ñiều kiện ñất ướt
mà làm cỏ bằng máy sẽ làm hỏng ñất, với những lý do trên mà cơ giới hoá khâu làm cỏ sẽ
kém hiệu quả .
Người nông dân trồng khoai tây sau khi thu hoạch phải quyết ñịnh bán sản phẩm ngay
với giá hiện hành hoặc dự trữ một thời gian mới bán với hy vọng giá cao hơn. Với lựa chọn
thứ nhất thì anh ta sẽ thu ñược một số lãi chắc chắn nào ñó. Với lựa chọn thứ 2 thì anh ta sẽ
phải ñối mặt với các vấn ñề chi phí và hao hụt bảo quản, giá trong tương lai không chắc
chắn và phụ thuộc vào thị trường trong năm. Nếu lượng cung trên thị trường hạn chế thì
giá sẽ tăng và anh ta có khả năng lãi nhiều từ quyết ñịnh dự trữ. Nếu cung bình thường thì
giá có thể tăng không nhiều và lúc ñó anh ta có thể chỉ hoà vốn. Hoặc khả năng xấu hơn là
cung vượt cầu thì giá sẽ giảm và dẫn ñến thiệt hại ñáng kể do quyết ñịnh dự trữ so với bán
ngay sau thu hoạch.
Ví dụ khác, hộ nông dân trồng lúa ở vùng trũng lo lắng lụt lớn sẽ phá hoại mùa màng.
Công ty bảo hiểm chào mời bảo hiểm lụt, nhưng phí bảo hiểm hàng năm lại tương ñối cao
vì rủi ro do lụt gây ra rất lớn. Người trồng lúa phân vân không biết nên mua bảo hiểm bao
nhiêu.
Một nông dân có trang trại nuôi bò sữa ñã bán diện tích trang trại ñể nhà nước xây
dựng ñô thị với giá tương ñối cao và muốn dùng số tiền ñó ñể ñầu tư lại. Người nông dân
phân vân không biết nên ñầu tư vào kinh doanh cổ phiếu hay mua trang trại bò sữa khác ñể
tiếp tục kinh doanh, ngành mà anh ta ñã có kinh nghiệm. Nếu mua trang trại mới thì người
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội - Giáo trình Qủan trị rủi ro -----------------------------------------------1


ñó cần cân nhắc nên mua bao nhiêu bò. Nếu mua một cơ ngơi khoảng 65 con thì người ñó
phải vay thêm vốn. Người nông dân tin rằng trong tương lai vấn ñề kinh tế qui mô là vấn
ñề quan trọng. Người nông dân phải quyết ñịnh vay bao nhiêu vốn trong ñiều kiện lãi suất
tăng trong tương lai.
Hoặc người trồng hoa ở xứ lạnh lo lắng về sử dụng năng lượng sưởi ấm nhà kính.
Hệ thống sưởi ấm nhà kính của anh ta ñã lối thời và quá hạn sử dụng và anh ta muốn thay
bằng hệ thống mới theo thiết kế cổ truyền hoặc theo hệ thống mới tiêu tốn năng lượng
thấp. So sánh lãi giữa 2 phương án trên phụ thuộc vào giá năng lượng trong tương lai. Nếu
giá trong tương lai thấp hoặc bình thường thì hệ thống sười kiểu truyền thống sẽ lợi hơn,
nhưng nếu giá năng lượng trong tương lai cao hơn thì hệ thống sưởi hiện ñại tiêu tốn ít
năng lượng sẽ tốt hơn kể cả khi chi phí xây dựng cao hơn.
Trên ñây là một vài ví dụ liên quan ñến rủi ro mà nông dân phải ñối mặt. Rủi ro tồn
tại ở khắp mọi nơi, mọi lĩnh vực. Xã hội loài người càng phát triển, hoạt ñộng của con
người ngày càng ña dạng, phong phú và phức tạp thì rủi ro cho con người cũng ngày càng
nhiều và ña dạng, mỗi ngày qua lại xuất hiện những loại rủi ro mới, chưa từng có trong quá
khứ.
Con người cũng quan tâm nhiều hơn ñến nghiên cứu rủi ro nhằm nhận dạng rủi ro và
tìm các biện pháp kiểm soát, phòng ngừa và giảm thiểu rủi ro. Ngày nay, quản trị rủi ro là
một bộ phận không thể thiếu của quản trị một tổ chức.
Lấy nông nghiệp Mỹ làm ví dụ, rủi ro trong nông nghiệp trong những năm từ 19301950 chỉ là vấn ñề sau vấn ñề thu nhập thấp và phân bổ nguồn lực không hợp lý. Trong
những thập niên này ñã diễn ra một vấn ñề lớn ñó là vấn ñề thay ñổi mạnh cơ cấu bởi nông
dân ñiều chỉnh thu nhập và phân bổ nguồn lực. Số lượng nông trại giảm, vì nhiều nông dân
ñã rời bỏ nông nghiệp. Các trang trại còn lại phải thay ñổi theo sự thay ñổi môi trường kinh
doanh, họ thực hiện cơ giới hoá, hiện ñại hoá và mở rộng qui mô. Có sự thay ñổi như vậy
là vì nông dân ñã phản ứng với kinh tế qui mô và tiến bộ kỹ thuật ñể nâng cao thu nhập.
Hơn nữa, lúc này nông dân cũng dựa vào thị trường nhiều hơn ñể khai thác tốt hơn các
nguồn lực của trang trại. Thu nhập bình quân ñầu người của nông dân nhờ ñó mà tăng lên
vào những năm 1980 và ñã có thể so sánh với thu nhập của những người không làm nông
nghiệp. Nông dân cũng có thu nhập từ khu vực phi nông nghiệp nhiều hơn, ñặc biệt là từ
những hoạt ñộng nhỏ làm thêm ngoài giờ.
Sự thay ñổi cơ cấu xảy ra trong một môi trường lạm phát ñã làm tăng sử dụng vốn vay.
Cán cân tài chính trong khu vực nông nghiệp tăng, ñặc biệt là trong các trang trại lớn. Nếu
ở góc ñộ phân tích tài chính, thì tăng vốn vay có khả năng dẫn ñến tăng rủi ro tài chính,
không trả ñược nợ khi thu nhập giảm.
Hơn nữa, môi trường rủi ro ngày càng phức tạp hơn, rộng lớn hơn làm cho tính nhạy
cảm của khu vực nông nghiệp ñối với lực lượng sản suất, với thị trường quốc tế, chính sách
của chính phủ và thị trường tài chính càng lộ rõ hơn, làm nổi bật vấn ñề rủi ro và tính
không ổn ñịnh trong nông nghiệp. Có thể ñưa ra dẫn chứng về sự phức tạp và rộng lớn của
môi trường rủi ro ñó là giá hàng hoá tăng ñột ngột trong những năm 1970 do sửa ñổi các
chương trình quốc gia của Mỹ ñối với một số hàng hoá, thu hẹp dự trữ sản phẩm trồng trọt,
sự biến ñộng sản xuất trên thế giới, sự phá giá và bành trướng của ñồng ñô la Mỹ và nhu
cầu của nước ngoài không ổn ñịnh. ðầu những năm 1980, sự ñảo ngược một cách ñột ngột
một số hiện tượng trên ñã chứng tỏ ảnh hưởng không theo qui luật ñối với các cơ sở sản
xuất nông nghiệp/trang trại và sẽ còn tiếp diễn trong tương lai và qua ñó cho thấy rủi ro
trong nông nghiệp lại thay ñổi.
Cuối những năm 1970 và ñầu những năm 1980 lãi suất và lạm phát tăng lên ñột
ngột chưa từng thấy từ trước tới nay và dự ñoán thu nhập của nông dân sẽ biến ñộng lớn,
ñặc biệt là sự bấp bênh về nhu cầu xuất khẩu, chi phí ñầu vào và các vấn ñề quốc tế trong
ñó bao gồm cả năng lượng và vận tải .
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội - Giáo trình Qủan trị rủi ro -----------------------------------------------2


Quan hệ mạnh hơn giữa khu vực nông nghiệp và phi nông nghiệp làm lan toả sự
bất ổn của thị trường tài chính và thị trường nguồn lực sang nông dân nhanh hơn và toàn
diện hơn trước ñây. Rủi ro của nông dân bây giờ không chỉ là rủi ro từ tài sản và các hoạt
ñộng tạo thu nhập mà cả từ những thay ñổi không lường trước ñược do vay nợ. Tóm lại,
hiệu ứng tổng hợp của rủi ro kinh doanh và rủi ro tài chính là rất cao ñối với hầu hết các
trang trại.
Phản ứng của chính phủ ñối với rủi ro cũng ñược xem xét kỹ lưỡng và sát thực hơn,
trong ñó vấn ñề ổn ñịnh giá hàng hoá và thu nhập của nông dân ñược nhấn mạnh nhiều hơn
là hỗ trợ thu nhập như ñã làm trong các thập niên trước ñây. Chính sách của chính phủ Mỹ
ñã gánh chịu hầu hết rủi ro trong nông nghiệp thông qua các chương trình ổn ñịnh giá và
thu nhập, kiểm soát sản xuất, bảo hiểm và những hỗ trợ thảm hoạ, dự trữ tài chính kỹ
lưỡng hơn và nề nếp hơn cho hoạt ñộng marketing và cung cấp tín dụng. Song, chính phủ
cũng gây ra rủi ro do thay ñổi ñột ngột chính sách giá, các chương trình và phương pháp
quản lý. Ví dụ việc cắt giảm ñột ngột chương trình rủi ro, chương trình vay khẩn cấp, các
công cụ khác như tuyên truyền quảng cáo cho nông nghiệp những thập niên sau này ñối
với nông dân trong những năm 1970 khi thu nhập trong nông nghiệp ñã cao là những bằng
chứng.
Triển vọng tài chính của nông nghiệp trong những năm 1980 phụ thuộc nhiều vào
sức cạnh tranh và sự bấp bênh của nông nghiệp và phi nông nghiệp, nhu cầu sản phẩm
nông nghiệp giảm, thu nhập từ chăn nuôi cũng thấp. Thu nhập của nông nghiệp không khả
quan do hạn hán nặng năm 1980 và 1983. Ở một số trang traị, ñặc biệt là trang trại lớn, nợ
nhiều, lãi suất lại cao, rõ ràng quản lý trang trại lúc này rất khó khăn .Việc cố gắng ñể ñạt
các mục tiêu quốc gia ñã dẫn tới hậu quả yếu kém về tài chính của nông nghiệp Mỹ vào
năm 1990.
Nhiều quan sát cho thấy, càng hướng tới sản xuất hàng hoá cao càng cần nguồn
nhân lực với chất lượng cao và có kỹ năng quản lý sản xuất, marketing, tài chính và thông
tin. Vì vậy ñề cập ñến rủi ro là một phần quan trọng của hoạt ñộng quản trị doanh nghiệp.
Ứng dụng
Môi trường rủi ro ngày nay rộng lớn hơn, toàn diện hơn vì vậy ñòi hỏi nhiều hơn ở
kỹ năng quản lý. Môi trường hiện nay yêu cầu nhiều hơn về các vấn ñề như làm rõ các
khái niệm và phương pháp nghiên cứu rủi ro, hiểu hiệu ứng ứng xử của nông dân ñối với
rủi ro và ñánh giá những phương pháp phản ứng mới và tiến bộ hơn ñối với rủi ro. Kế tục
phương pháp phân tích rủi ro theo kinh nghiệm là phương pháp xử lý toàn diện hơn
nguyên nhân gây nên rủi ro, ño lường rủi ro, thái ñộ ñối với rủi ro, phương pháp quản lý
rủi ro, hiệu ứng thị trường và quan hệ với chính sách của nhà nước. Việc kết hợp hợp lý
giữa phân tích rủi ro theo kinh nghiệm với lý thuyết phân tích và ñánh giá rủi ro trong nông
nghiệp là rất khó khăn, ñó là chuyển những ñiều khám phá tới khách hàng.
Sự phát triển của phân tích rủi ro trong thời gian qua
Những nghiên cứu thái ñộ ñối với rủi ro và phương pháp cải thiện quyết ñịnh trong ñiều
kiện rủi ro ñược ñề cập trong nhiều tác phẩm viết về kinh tế nông nghiệp nói riêng và về
kinh doanh nói chung.
Knight (1921) ñã ñưa ra sự khác biệt giữa rủi ro và không chắc chăn, cái mà
ñã chế ngự trong các tài liệu cho ñến khi khái niệm xác suất chủ quan trong lý thuyết quyết
ñịnh hiện ñại ra ñời.
Nhiều khái niệm rủi ro ñã ñược ñề cập từ những năm 1930, khi Bernoulli ñã thừa
nhận rằng các nhà ñầu tư muốn tối ña hoá những lợi ích kỳ vọng, chứ không phải là thu
nhập kỳ vọng.
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội - Giáo trình Qủan trị rủi ro -----------------------------------------------3


Johnson và Schulz (1947) ñã gợi ra mối liên quan giữa rủi ro sản xuất, tín dụng,
ñiều chỉnh nguồn lực và tăng trưởng trang trại. Heady (1952) trong cuốn “kinh tế nông
nghiệp và sử dụng nguồn lực” ñã nói nhiều về phân tích rủi ro.
Năm 1947 Neumann và Morgenstern ñã tổng hợp và mở rộng cách tiếp cận thoả
mãn lợi ích kỳ vọng (expected utility) và ñã luận giải làm thế nào ñể ñoán ñược người ta
lựa chọn như thế nào trong tình huống rủi ro. Savage (1954) lại tập trung sự chú ý vào khái
niệm xác suất chủ quan và mối quan hệ của nó với lợi ích kỳ vọng.
Tobin (1958) và Marcowitz (1959) là các bậc tiền bối về lý thuyết kết cấu
(fortfolio). Marcowitz (1959), Baumol (1963), Hanoch và Levy (1969), và Hadar va
Russell (1969) là lớp trẻ ñã phát triển các tiêu chuẩn rủi ro (risk efficiency criteria) giúp
các nhà quyết ñịnh lựa chọn rủi ro.
Trong tác phẩm “lý thuyết thị trường vốn”, mô hình ñịnh giá vốn tài sản do Sharpe
(1964) và Linter (1965) phát triển, ñã ñề cập ñến rủi ro ñịnh giá ở mức ñộ hiệu quả thị
trường khác nhau ñối với các tài sản khác nhau.
Các khái niệm phân tích phúc lợi công cộng ñã ñược Waugh (1966), Oi (1961) xây
dựng và mở rộng trong một tác phẩm tổng hợp và Massell (1969), Turnopsky (1976) ñã
ứng dụng ñể phân tích hiệu ứng phúc lợi công cộng (Welfare effect) về sự bất ổn thị
trường và các chính sách ổn ñịnh thị trường của chính phủ ñối với người sản xuất và người
tiêu dùng.
Phương pháp mô hình hóa của Brainard và Copper (1968), Hueth và Schmitz
(1972), Just et al. (1978) ñã mở rộng khả năng phân tích ñể hạch toán hiệu ứng rủi ro trên
các phương diện khác nhau của thương mại quốc tế.
Jensen (1977) ñã ñề cập ñến các vấn ñề như chất lượng những kỳ vọng của nông
dân, ño lường thái ñộ ñối với rủi ro và tính ñặc thù của quản lý, sự phản ứng ñối với thay
ñổi năng suất và thu nhập trong những năm tiếp.
Tổng quan tài liệu của Brandow (1977), Brake và Melichar (1977) cho thấy, ñã có
những hiểu biết hơn về nguồn gốc của sự bất ổn trong nông nghiệp, mối quan hệ của nó
với thu nhập, phân bổ nguồn lực và lựa chọn chính sách giải quyết sự bất ổn ñó.

2. Rủi ro và không chắc chắn
2.1. Bàn về khái niệm rủi ro
Theo tác giả ðoàn Thị Hồng Vân, cho ñến nay chưa có ñược ñịnh nghĩa thống nhất
về rủi ro, những trường phái khác nhau, tác giả khác nhau ñưa ra những ñịnh nghĩa khác
nhau về rủi ro. Những ñịnh nghĩa ñược ñưa ra rất ña dạng, phong phú, nhưng tóm lại có thể
chia làm 2 trường phái lớn, trường phái truyền thống (hay còn gọi là trường phái tiêu cực)
và trường phái trung hòa.
Trường phái tiêu cực
Theo trường phái tiêu cực hay cách nghĩ truyền thống thì “rủi ro là những thiệt hại, mất
mát, nguy hiểm, khó khăn, hoặc ñiều không chắc chắn có thể xảy ra cho con người”. Theo
cách nghĩ của trường phái này thì rủi ro ñược ñịnh nghĩa như sau:
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội - Giáo trình Qủan trị rủi ro -----------------------------------------------4


-

“Rủi ro là ñiều không lành, không tốt, bất ngờ xảy ra” (Từ ñiển tiếng Việt, 1995)
“Rủi ro (ñồng nghĩa với rủi) là sự không may”( GS. Nguyễn Lân, “Từ và ngữ Việt
Nam”, 1998)
- “Rủi ro là khả năng gặp nguy hiểm hoặc bị ñau ñớn, thiệt hại” (Từ ñiển Oxfort)
- “Rủi ro là sự bất trắc, gây ra mất mát, hư hại” hoặc “rui ro là yếu tố liên quan ñến
nguy hiểm, sự khó khăn hoặc ñiều không chắc chắn”
- Trong lĩnh vực kinh doanh, tác giả Hồ Diệu ñịnh nghĩa “ rủi ro là sự tổn thất về tài
sản hay là sự giảm sút lợi nhuận thực tế so với lợi nhuận dự kiến”
- Hoặc rủi ro là những bất trắc ngoài ý muốn xảy ra trong quá trình sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp, tác ñộng xấu ñến sự tồn tại và phát triển của doanh
nghiệp”
Theo trường phái trung hòa
Theo trường phái này thì “rủi ro là sự bất trắc có thể ño lường ñược” (Frank Knight)
- “Rủi ro là sự bất trắc có thể liên quan ñến việc xuất hiện những biến cố không
mong ñợi “ (AllanWillett)
- Rủi ro là một tổng hợp những ngẫu nhiên có thể ño lường ñược bằng xác suất” (
Irving Preffer)
- Rủi ro là giá trị và kết quả mà hiện thời chưa biết ñến”
- Rủi ro là sự biến ñộng tiềm ẩn ở những kết quả. Rủi ro có thể xuất hiện trong hầu
hết mọi hoạt ñộng của con người. Khi có rủi ro người ta không thể dự ñoán ñược
chính xác kết quả. Sự hiện diện của rủi ro gây nên sự bất ổn ñịnh. Nguy cơ rủi ro
phát sinh bất cứ khi nào một hành ñộng dẫn ñến khả năng ñược hoặc mất không thể
ñoán trước”(C. Arthur William, Jr. Smith).
Vậy theo trường phái trung hòa thì “rủi ro là sự bất trắc có thể ño lường ñược”. Rủi
ro vừa mang tính tiêu cực vừa mang tính tích cực. Rủi ro có thể mang ñến những tổn
thất, mất mát, nguy hiểm… cho con người, nhưng cũng có thể mang ñến những cơ hội.
Nếu tích cực nghiên cứu rủi ro, nhận dạng, ño lường rủi ro người ta có thể tìm ra biện
pháp phòng ngừa, hạn chế những rủi ro tiêu cực, ñón nhận những cơ hội mang lại kết
quả tốt ñẹp cho tương lai (ð.Th.H. Vân).
- Rủi ro thuần túy: là rủi ro chỉ mang lại những thiệt hại, mất mát, nguy hiểm: hỏa
hoạn, mất cắp, tai nạn giao thông, tai nạn lao ñộng
- Rủi ro suy ñoán (rủi ro mang tính ñầu cơ) là rủi ro mà trong ñó những cơ hội tạo ra
thuận lợi gắn với những nguy cơ gây ra tổn thất.
- Rủi ro có thể phân tán là rủi ro có thể giảm bớt bằng cách ñóng góp quĩ chung ñể
chia sẻ rủi ro
- Rủi ro không thể phân tán là rủi ro không thể giảm bớt bằng con ñường ñóng góp
quĩ chung và chia sẻ rủi ro
Rủi ro có thể xuất hiện trong mọi ngành, mọi lĩnh vực. Trong mỗi lĩnh vực ngoài
những ñiểm chung như ñã nói ở trên còn có những ñặc ñiểm riêng của từng ngành, từng
lĩnh vực.
2.2. Bàn về khái niệm rủi ro và không chắc chắn trong nông nghiệp
Trong lĩnh vực nông nghiệp chúng ta có thể hiểu rủi ro là những tổn thất, những bất
trắc, khả năng không ñạt ñược kết quả mong muốn và rủi ro có thể ño lường ñược
P. H. Callkin và cộng sự của ông (1983) ñã nói rằng F. H. Knight (1921) ñã phân
biệt giữa rủi ro (risk) và không chắc chắn (uncertainty). Theo Knight: rủi ro tồn tại khi
người sản xuất biết vùng kết quả (Outcome) có khả năng xảy ra và xác xuất của từng kết
quả ñó ñối với quyết ñịnh của anh ta. Ngược lại, sự không chắc chắn xảy ra khi các kết quả
hoặc sự kiện (event) xảy ra và xác xuất của chúng không biết. Thông thường, không chắc
chắn bao gồm các sự cố thỉnh thoảng xảy ra như lụt của một con sông hoặc cái chết của
một con bò ñực giống ñáng giá và trong thực tế hàng ngày có thể không ñể ý ñến hoặc bỏ
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội - Giáo trình Qủan trị rủi ro -----------------------------------------------5


qua. Nhưng người nông dân có thể thu thập số liệu về lượng mưa và nhiệt ñộ ñể vẽ lên một
phân phối xác suất và những hiện tượng rơi vào vùng rủi ro
Còn R. D. Kay (1988) nói rằng có nhiều tác giả phân biệt giữa rủi ro và không chắc
chắn. Họ ñịnh nghĩa rủi ro là tình trạng mà ở ñó tất cả các kết quả có khả năng xảy ra và
xác suất của nó là biết trước ñối với người ra quyết ñịnh. Ví dụ ñơn giản về tung ñồng xu
hay chơi một con xúc xắc thì tất cả các kết quả có khả năng xảy ra của hai sự kiện trên và
xác suất của nó ñều ñã biết trước khi người quyết ñịnh thực hiện trò chơi.
Thường thường xác suất ñược gán cho các sự kiện, ví dụ xác suất mưa trong dự báo
thời tiết hay dự báo kết quả của một sự kiện thể thao. Những xác suất ñó là xác suất chủ
quan vì nó dựa vào kinh nghiệm và sự ñiều chỉnh của cá nhân, còn xác suất thực của nó
trong nhiều trường hợp không thể xác ñịnh ñược. Chỉ có xác suất chủ quan là luôn tồn tại
và nó có thể không giống nhau giữa người này và người khác.
Không chắc chăn là tình trạng mà cả các kết quả có khả năng xảy ra và xác suất của
nó không biết trước khi quyết ñịnh quản lý. Với sự phân biệt này, phần lớn các quyết ñịnh
trong nông nghiệp ñược phân biệt ra thành rủi ro và không chắc chắn. Mặc dù tất cả các
kết quả có khả năng xảy ra ñều có thể liệt kê ra nhưng xác suất thực của nó hiếm khi xác
ñịnh ñược, vì vậy cái tốt nhất có thể làm ñó là gán cho nó xác suất chủ quan. ðó là xác suất
ước lượng tốt nhất của xác suất thực của người ra quyết ñịnh dựa trên kinh nghiệm và
thông tin sẵn có về sự kiện quyết ñịnh.
Sự phân biệt giữa rủi ro và không chắc chắn trên ñây ít có ý nghĩa ñối với nhà quản
lý sản xuất nông nghiệp. Rủi ro thuần tuý là rất hiếm, it khi thấy vì không biết ñược xác
suất thực. Do ñó mà một số tác giả ñã cho rằng người quản lý sản xuất nông nghiệp luôn
luôn phải quyết ñịnh trong môi trường không chắc chắn, hay nói cách khác là họ cho rằng
mọi quyết ñịnh ñều chứa ñựng rủi ro. Cơ sở của những tranh luận này là mặc dù không biết
xác suất thực nhưng các nhà quyết ñịnh vẫn ñưa ra hàng loạt xác suất chủ quan phục vụ
cho việc ra quyết ñịnh. Lý lẽ cuối cùng nêu trên có thể giải thích tại sao hai nhà quản lý
gặp phải cùng một vấn ñề như nhau trong ñiều kiện như nhau lại có hai quyết ñịnh khác
nhau. Vì kiến thức, kinh nghiệm, và những thông tin sẵn có của họ ñã khiến họ ñưa ra
những xác suất chủ quan khác nhau và do ñó họ có thể có những quyết ñịnh khác nhau.
Sự tranh cãi trên ñây ñã làm lu mờ ñi nhiều sự phân biệt giữa rủi ro và không chắc
chắn. Cả hai khái niệm thường sử dụng thay thế cho nhau với cách gọi xác xuất chủ quan
ñược ưa chuộng hơn là khái niệm rủi ro .
Lại có tác giả như J.B. Hardaker (1997) cho rằng rủi ro và không chắc chắn có thể
ñịnh nghĩa theo nhiều cách khác nhau, song cách phân biệt thông thường ñó là: Rủi ro là sự
biết không hoàn hảo về kết quả có khả năng xảy ra và xác suất của nó, còn không chắc
chắn là kết quả có khả năng xảy ra và xác suất của nó là không biết trước (J.B. Hardaker et.
al, 1997). Nhưng sự phân biệt này thực sự không có ích lắm vì nhiều trường hợp có biết
xác suất khách quan. Thông thường, chúng ta ñịnh nghĩa không chắc chắn là sự biết không
hoàn hảo, còn rủi ro là những hậu quả không chắc chắn, thường là những hậu quả không
thuận lợi, không mong muốn. Một ví dụ ñể làm rõ ñiều này, có một người nào ñó nói
không biết thời tiết ngày mai ra sao- ñó là một lời nói không có giá trị xác ñịnh nào cả, chỉ
ñơn giản nói lên sự hiểu biết không hoàn hảo về một tương lai. Nhưng người ñó có thể tiếp
tục nói rằng anh hay chị ấy ñã có kế hoạch picnic cho ngày tiếp theo nếu có rủi ro là mưa,
ñiều ñó biểu thị các sở thích ñối với các hậu quả khác nhau.
Gọi là rủi ro khi tự nó tỏ rõ một khả năng tổn thất thực sự. ðối với những quyết
ñịnh hàng ngày thì rủi ro không quan trọng bởi vì tổn thất không lớn hoặc xác suất gánh
chịu mất mát ñược cho là nhỏ không ñáng kể. Ví dụ ñi ngang qua ñường có chứa ñựng rủi
ro là bị chết do xe cộ ñâm phải, một số ít người thấy rằng rủi ro này là ñủ nguy hiểm ñể
ngăn họ không ñi ngang qua ñường ñể có một lợi ích không ñáng kể như niềm vui mua
một tờ báo hay một que kem. Nhưng như ví dụ ñã nói ñến trước ñây, ñối với những quyết
ñịnh quan trọng của cuộc ñời hoặc ñối với một vài quyết ñịnh trong kinh doanh hoặc của
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội - Giáo trình Qủan trị rủi ro -----------------------------------------------6


chính phủ thì khác, cần phải cân nhắc kỹ về sự không chắc chắn vì nó sẽ có những khác
nhau quan trọng giữa hậu quả tốt và hậu quả xấu, do ñó với những quyết ñịnh như vậy thì
rủi ro có thể ñược ñánh giá là có ý nghĩa quan trọng. Trong nông nghiệp cũng vậy, có
những quyết ñịnh không cần tính ñến ruỉ ro, nhưng nhiều quyết ñịnh nên chú ý khi lựa
chọn các khả năng sẵn có.
Có tính ñến rủi ro có thể là quan trọng kể cả ñối với một số quyết ñịnh sản xuất
hàng ngày, ñó là ñối với các trường hợp mà hiệu ứng tích luỹ của các lựa chọn có thể có
ảnh hưởng lớn ñến toàn bộ kết quả kinh doanh. Ví dụ, việc kiểm tra bệnh viêm vú ở bò
sữa, nếu kiểm tra không chặt chẽ, sữa của một con bò bị bệnh sẽ trộn lẫn cả vào khối lượng
sữa lớn và hậu quả là làm cho sữa không ñảm bảo tiêu chuẩn chất lượng và cuối cùng dẫn
ñến tổn thất lớn về thu nhập, vì vậy lựa chọn chiến lược kiểm tra theo thói quen cũ chính là
quyết ñịnh rủi ro ñối với những người nuôi bò sữa.
Những quyết ñịnh rủi ro khác thường thường ñòi hỏi phải suy nghĩ phân tích kỹ
lưỡng, ñó là các quyết ñịnh có khả năng mang ñến những tổn thất lớn, hoặc có khả năng bỏ
lỡ món lời lãi lớn. Trong những trường hợp như vậy thì cần có thời gian và sự nỗ lực ñể
sắp xếp các vấn ñề một cách chính thức, thu thập các chứng cứ thích hợp và phân tích các
lựa chọn sẵn có ñể có thể lựa chọn tốt hơn.
2.2. Các loại rủi ro và nguyên nhân gây ra rủi ro
Có nhiều loại rủi ro và không chắc chắn có thể áp dụng trong quyết ñịnh quản lý
sản xuất nông nghiệp, ví dụ những rủi ro nào liên quan ñến chọn cây trồng vật nuôi, chọn
lượng thức ăn gia súc hợp lý, chọn lượng phân bón hợp lý và những rủi ro nào liên quan
ñến quyết ñịnh vay thêm vốn? Cái gì khiến cho không ñạt ñược các kết quả mong muốn?
P. H. Callkin (1983) ñã chia rủi ro thành hai loại: rủi ro kinh doanh và rủi ro tài
chính (P. H. Callkin et. al, 1983, tr.202). Rủi ro kinh doanh liên quan ñến tất cả các yếu tố
ảnh hưởng ñến thu nhập thuần của trang trại. Các rủi ro này có thể hạn chế ñược bằng cách
thay ñổi quyết dịnh sản xuất. Sau ñây là sáu yếu tố chính dẫn ñến rủi ro kinh doanh:
- Biến ñộng năng suất
- Biến ñộng giá
- Công nghệ kỹ thuật mới (thiếu kiến thức về kỹ thuật sản xuất hiện tại)
- Các chương trình của chính phủ
- Thay ñổi luật pháp
- Thay ñổi sở thích của người tiêu dùng.
Rủi ro tài chính phản ánh “sự mất an toàn” về tài chính của doanh nghiệp/trang
trại, nó thể hiện ở tỉ số giữa nợ và tài sản của chủ sở hữu (là chỉ tiêu về khả năng trả nợ) và
ñặc biệt là tỉ số giữa tài sản lưu ñộng và nợ hiện hành (là chỉ tiêu về khả năng thanh toán).
Có những tác giả phân loại rủi ro thành ba loại: rủi ro sản xuất, rủi ro marketing, rủi
ro tài chính, nhưng cũng có tác giả phân biệt thành nhiều loại rủi ro hơn: Rủi ro sản xuất,
Rủi ro giá hoặc rủi ro marketing, Rủi ro thể chế, Rủi ro liên quan ñến con người gây ra
hoặc rủi ro cá nhân, rủi ro tài chính.
Rủi ro sản xuất
Biến ñộng năng suất là một ví dụ về rủi ro sản xuất . Sở dĩ có rủi ro sản xuất (hay
còn gọi là rủi ro năng suất) là vì nông nghiệp chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố không kiểm
soát ñược ñó là thời tiết (mưa quá ít hoặc quá nhiều, mưa ñá, sương muối, nhiệt ñộ bất
thường), sâu bệnh, cỏ dại và giống xấu. Do tác ñộng của các yếu tố không kiểm soát ñược
mà thậm chí hàng năm sử dụng cùng số lượng và chất lượng ñầu vào như nhau nhưng năng
suất vẫn khác nhau. Những rủi ro vì thời tiết xấu là những rủi ro chỉ riêng nông nghiệp mới
có. Ngoài ra kỹ thuật mới cũng là một yếu tố gây ra rủi ro cho người sản xuất, vì ñưa giống
mới vào sản xuất không phải lúc nào cũng mang lại kết quả như mong muốn.
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội - Giáo trình Qủan trị rủi ro -----------------------------------------------7


Một loại rủi ro sản xuất ñược thể hiện ở ðồ thị 1.1, trong ñó thời tiết là yếu tố quan
trọng tác ñộng ñến năng suất.

ðầu ra
Thời tiết tốt

Thời tiết bình thường

Thời tiết xấu

ðầu vào
ðồ thị 1.1: Rủi ro sản xuất do thời tiết xấu
ðồ thị 1.1 là 3 hàm sản xuất với 3 ñiều kiện thời tiết khác nhau. Thời tiết ảnh hưởng
ñến năng suất cây trồng, gây ra tình trạng không chắc chắn về ñầu ra.
Cùng với sự không chắc chắn về ñầu ra là sự không chắc chắn về giá thành sản
xuất. Giá ñầu vào có xu hướng biến ñộng ít hơn giá ñầu ra nhưng vẫn là một nguyên nhân
gây ra rủi ro sản xuất. Giá thành sản xuất phụ thuộc vào cả hai yếu tố chi phí và năng suất
vì vậy nó có thể biến ñộng khi cả hai yếu tố ñó biến ñộng.
Công nghệ mới cũng là một nguyên nhân nữa gây ra rủi ro sản xuất. Chuyển từ công
nghệ cũ sang công nghệ mới bao giời cũng chứa ñựng yếu tố rủi ro trong ñó. Liệu công
nghệ mới có ñáp ứng mong muốn không? Có thực sự giảm chi phí hoặc tăng năng suất
không? Những câu hỏi như thế và nhiều câu hỏi khác nữa ñược ñặt ra trước khi một công
nghệ mới ñược chấp nhận. Nhiều công nghệ ñã ñược chứng minh là ưu việt nhưng những
nông dân tiếp thu chậm luôn luôn tìm thấy mặt không ưu việt về chi phí hoặc năng suất khi
họ sử dụng lần ñầu, về vấn ñề này ngạn ngữ có câu: ðừng là người ñi ñầu cũng ñừng là
người ñi sau cùng.
Rủi ro giá
Rủi ro giá (hoặc còn gọi là rủi ro marketing, rủi ro thị trường) là rủi ro liên qua ñến
biến ñông giá ñầu ra. Biến ñộng giá ñầu ra là một nguyên nhân quan trọng nữa gây ra rủi
ro trong nông nghiệp. Giá nông sản thay ñổi năm này qua năm khác và ñặc biệt là biến
ñộng lớn theo mùa vụ sản xuất ngay trong một năm. Nhiều rủi ro có thể lường trước ñược
nếu chu kỳ sản xuất rất ngắn ñể giá không kịp thay ñổi. Nhưng nông nghiệp lại có chu kỳ
sản xuất dài, thường là 3- 4 tháng và dài hơn, do ñó các quyết ñịnh sản xuất phải trước ñó
3- 4 tháng hoặc nhiều hơn nữa, với thời gian ñó ñủ ñể giá các nông sản có thể thay ñổi.
Giá nông sản thay ñổi do vô số lý do mà nông dân không có khả năng kiểm soát.
Cung nông sản chịu tác ñộng của quyết ñịnh sản suất của từng người nông dân và thời tiết
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội - Giáo trình Qủan trị rủi ro -----------------------------------------------8


xảy ra năm ñó. Còn nhu cầu nông sản cũng chịu ảnh hưởng bởi vô số yếu tố, như thu nhập
của người tiêu dùng, xuất khẩu và chính sách xuất khẩu, nền kinh tế nói chung, tất cả
những cái ñó ñều ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp ñến nhu cầu thông qua chính sách của
chính phủ. Ví dụ xuất khẩu rất quan trọng ñối với nhiều nông sản, do ñó chính sách thương
mại của chính phủ, chính sách thương mại của các nước nhập khẩu và giá trị ñồng tiền nội
ñịa là những yếu tố quan trọng xác ñịnh giá nông sản. Thị trường, kể cả thị trường trong
nước và thị trường thế giới, rất phức tạp và có thể ảnh hưởng lớn ñến thu nhập của người
sản suất. Những năm gần ñây giá gạo và cà phê trên thế giới biến ñộng ñã làm ảnh hưởng
ñến thu nhập của người trồng lúa vùng ñồng bằng sông Cửu Long và cà phê Tây Nguyên là
những bằng chứng cụ thể.
Rủi ro thể chế
Các chính thể cũng là một nguồn rủi ro. Thay ñổi các qui ñịnh có ảnh hưởng ñến sản
xuất nông nghiệp có thể làm cho lợi nhuận ñã ñịnh không ñạt ñược như mong muốn. Ví dụ
thay ñổi lụât quản lý chất thải chăn nuôi có thể có ảnh hưởng tốt, nhưng thay ñổi quá nhiều
các ñiều khoản thuế thu nhập hoặc trả nợ thì có thể ngược lại. Người sản xuất có thể bị
ảnh hưởng xấu bởi việc giới hạn sử dụng thuốc trừ sâu, hoặc người chăn nuôi cũng có thể
bị ảnh hưởng lớn bởi việc hạn chế sử dụng thuốc chữa bệnh. Những qui ñịnh của chính phủ
về sử dụng thuốc sâu, bệnh có thể làm giảm nhập khẩu của nước ngoài ñối với một số sản
phẩm. Loại rủi ro này gọi là rủi ro thể chế .
Rủi ro do con người gây ra hoặc rủi ro cá nhân
Người sản xuất tự họ cũng có thể là nguyên nhân gây ra rủi ro, ví dụ ốm ñau, bệnh
tật, những khủng hoảng lớn của cuộc ñời như người chủ bị chết, hoặc vợ chồng li dị cũng
ñe doạ sự tồn tại của trang trại, ốm ñau kéo dài của chủ có thể ảnh hưởng ñến sản xuất
hoặc tăng chi phí một cách ñáng kể. Tương tự, người làm công thiếu cẩn thận trong chăm
sóc gia súc hoặc sử dụng máy móc cũng có thể dẫn ñến những thiệt hại lớn (cháy, làm
hỏng tài sản). Một loại rủi ro khác nữa là rủi ro hợp ñồng, rủi ro này liên quan ñến ứng xử
và sự tin tưởng của ñối tác. Các rủi ro này gọi là rủi ro do con người gây ra (individual
risk).
Tổng hợp lại tất cả các rủi ro sản xuất, rủi ro thị trường, rủi ro thể chế và rủi ro liên
quan ñến con người gọi là rủi ro kinh doanh. Rủi ro kinh doanh không phụ thuôc vào cách
tài trợ (cấp vốn). ðó là tác ñộng chung của tất cả những cái không chắc chắn tới lợi nhuận
của doanh nghiệp, nó ảnh hưởng ñến các chỉ tiêu kết quả kinh doanh như dòng tiền mặt
thuần ñược tạo ra từ các hoạt ñộng nông nghiệp hoặc thu nhập thuần của doanh
nghiệp/trang trại.
Rủi ro tài chính
Rủi ro tài chính liên quan ñến sự an toàn hoặc mất an toàn về tài chính của doanh
nghiệp. An toàn tài chính của doanh nghiệp thể hiện ở khả năng trả nợ và khả năng thanh
toán. Khác với rủi ro kinh doanh, nguyên nhân sinh ra rủi ro tài chính là do sử dụng vốn
vay. Tăng vốn vay làm tăng tỉ số nợ trên vốn của chủ sở hữu, làm tăng cán cân tài chính,
tăng cán cân tài chính có khả năng dẫn ñến rủi ro tài chính khi thu nhập giảm.
Tỉ trọng vốn vay càng lớn so với tổng vốn của chủ thì hệ số nhân ñóng góp vào rủi
ro kinh doanh càng cao. Chỉ khi doanh nghiệp/trang trại tự tài trợ 100% vốn thì mới không
có rủi ro về cán cân tài chính. Tăng lãi suất vốn vay cũng dẫn ñến khả năng tăng rủi ro tài
chính.
Rủi ro sản xuất, marketing, và rủi ro tài chính tồn tại ở hầu hết các cơ sở sản xuất
kinh doanh nông nghiệp và chúng có mối quan hệ tương tác bên trong với nhau. ðó là, khả
năng trả nợ phụ thuộc vào sản xuất và giá cả ñầu ra mong ñợi có thể nhận ñược từ thị
trường, còn tài trợ cho sản xuất và dự trữ tạm thời sản phẩm sản xuất ra phụ thuộc vào khả
năng vay vốn cần thiết. Từ ñó cho thấy cả ba loại rủi ro sản xuất, rủi ro marketing, rủi ro
tài chính cần ñược suy xét/ cân nhắc ñồng thời khi xây dựng kế hoạch toàn doanh nghiệp.
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội - Giáo trình Qủan trị rủi ro -----------------------------------------------9


2.3. Tác ñộng của rủi ro
Có hai lý do dưới ñây làm cho rủi ro trong nông nghiệp trở nên phức tạp
Phần lớn người ta không thích rủi ro
Hầu hết mọi người trong chúng ta ñều né tránh rủi ro thu nhập. Một người gọi là né
tránh rủi ro là người ñó muốn bỏ qua lãi kỳ vọng ñể hạn chế rủi ro, mức ñộ/hoặc tỉ lệ ñánh
ñổi này phụ thuộc vào cá nhân người ñó né tránh rủi ro như thế nào. Chứng cứ né tránh rủi
ro của người nông dân ñược nhìn thấy qua nhiều hành vi của họ, như họ muốn mua bảo
hiểm, hoặc họ có xu hướng thích hệ thống canh tác ña dạng hơn hệ thống canh tác ñơn
canh mặc dù hệ thống ñơn canh có thể mang lại lợi nhuận cao hơn.
Rủi ro xấu (Downside Risk)
Phần lớn trong ñầu tư, khi ñánh giá dự án thường liên quan ñến rủi ro thuần tuý (pure
risk), ñó là hiệu số giữa một vài chỉ tiêu kết quả ñại diện so với giá trị trung bình. Nhưng
chúng ta có thể thắc mắc là, khái niệm ruỉ ro xấu (DSR) có phù hợp cho phân tích rủi ro
của nhiều tình huống khác nhau, trong ñó có cả nông nghiệp hay không ?.
DSR là cách diễn tả tóm tắt tình trạng trong ñó mỗi thay ñổi so với ñịnh mức hay
tiêu chuẩn dẫn ñến những kết quả xấu. Nghĩa là, khi DSR trội hơn rủi ro thuần tuý thì kết
quả bình thường biểu thị ñuôi trên của phân phối kết quả. Hầu hết rủi ro kỹ thuật trong
nông nghiệp ñược coi như là DSR (vì hầu hết những biến ñộng so với kế hoạch là ñiều né
tránh hơn là ưng thuận ).
DSR cũng có thể tăng lên nếu rủi ro là quan hệ phi tuyến về tương tác bên trong
giữa các biến ngẫu nhiên. Năng suất cây trồng là một ví dụ rất rõ, nó phụ thuộc vào lượng
mưa, nhiệt ñộ ở mỗi giai ñoạn của vụ sản xuất, nếu các yếu tố này chênh lệch nhiều ở từng
giai ñoạn sẽ dẫn ñến kết quả ngược lại, còn nếu chênh lệch nhỏ so với giá trị trung bình
của nó thì một số giá trị này lại có thể là giá trị tốt hơn giá trị trung bình. Tuy nhiên, thông
thường cũng có trường hợp giảm lợi nhuận, ñó là khi phần tổn thất do những biến ñộng
ngược lại (như biến ñộng lượng mưa so với giá trị trung bình của nó) lớn hơn phần ñược
thêm do những biến ñộng mong muốn mang lại (Andeson 1979). Chúng ta hiểu một vụ
sản xuất bình thường là vụ sản xuất trong ñó tất cả các biến số có giá trị gần/sát với giá trị
kỳ vọng. Tuy nhiên, vụ sản xuất bình thường có xác xuất nhỏ, và xác suất năng suất thấp
hơn năng suất ở vụ sản xuất bình thường là lớn. Như vậy ý nghĩa của quan niệm về một
năm sản xuất bình thường là ở chỗ nó là cơ sở ñể phân tích một trường hợp DSR. Ngược
lại, nếu sử dụng giá trị trung bình của các giá trị thống kê năng suất ñể làm cơ sở cho phân
tích thì sẽ dẫn ñến trường hợp rủi ro thuần túy nhiều hơn.
Chúng ta có thể biểu thị DSR bằng một ví dụ ñơn giản về năng suất cây trồng của
một vụ sản xuất nhờ nước trời (không có tưới tiêu ) như sau:
(1.1)
y = cx + dx2
y: năng suất 1 héc-ta
x: lượng mưa trong vụ sản xuất ñó (mm).
Giả sử lượng mưa trong vụ là không chắc chắn và biểu thị bằng phân phối kiểu hình tam
giác, với Min là 100mm, Max là 300mm và giá trị mode là 225mm, thời ñiểm quan sát có
giá trị trung bình là 208mm, (ðồ thị 2.1) .

Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội - Giáo trình Qủan trị rủi ro -----------------------------------------------10


60

0.012

f(x)
55

n¨ng suÊt

0.010

50

ns mode

0.008

45

ns tb

40

f(x) 0.006

n¨ng suÊt
(t/ha)

35

0.004

30
0.002

trung b×nh

mode

25

0.000

20
100

125

150

175

200

225

250

275

300

l¦îng m¦a (x) (mm)

ðồ thị 2.1: Rủi ro xấu, hàm mật ñộ xác suất của lượng mưa và năng suất cây trồng
Giả sử vụ tới là vụ sản xuất bình thường, tức là lượng mưa 225mm là giá trị có khả
năng xảy ra nhất hay giá trị chắc chắn nhất (most likely) như ñã nói ở trên, và năng suất
tính toán là 47,3 tạ/ha (xem ñồ thị 2.1). Nhưng nếu chúng ta thay lượng mưa bằng giá trị
kỳ vọng (giá trị trung bình) 208mm thì năng suất tính toán giảm xuống còn 45,1tạ/ha. Mặt
khác, nếu chúng ta tính hết toàn bộ phân phối lượng mưa thì năng suất kỳ vọng là
44,5ta/ha. ðấy là năng suất mà người sản xuất có thể mong ñợi nếu họ không biết trước
lượng mưa là bao nhiêu dựa trên thông tin trình bày ở tam giác phân phối xác suất. Như
vậy công bố những thông tin trên vào thời ñiểm lập kế hoạch là cần thiết ñối với người sản
xuất. Như ñã chỉ ra ở bảng 1.1, chúng ta có 2 năng suất ước ñoán với giả thiết không thật
về lượng mưa và một sự thoả mãn từ việc nhận thấy rủi ro ngay từ ban ñầu. Hiệu số giữa
năng suất ước lượng thứ ba với hai năng suất ước lượng kia có thể liên quan ñến DSR. Kết
quả ước lượng thứ 3 có tính thực tế hơn 2 cái kia. Ngoài các yếu tố về lượng mưa, còn
nhiều yếu tố khác có thể ñóng góp vào DSR, ñó là ảnh hưởng của sâu bệnh, băng giá, mưa
ñá, bão, lụt, hoả hoạn…
Bảng 1.1: Ảnh hưởng của giả thiết về lượng mưa ñối với năng suất kỳ vọng
Giả sử lượng mưa
Giả sử chắc nhắn: Mode 225mm
Giả sử chắc nhắn: Mean 208 mm
Tính toán rủi ro qua phân phối xác suất kiểu tam giác

Năng suất kỳ vọng (tạ/ha)
47,3
45,1
44,5

3. Những ñối tượng quan tâm ñến rủi ro trong nông nghiệp
Rủi ro trong nông nghiệp nói chung là quan trọng ñối với toàn xã hội. Thái ñộ
không ưa thích rủi ro có thể ảnh hưởng ñến vấn ñề phân bổ nguồn lực một cách hiệu quả
của người nông dân. Ví dụ , những nông dân không ưa thích rủi ro có thể tiếp nhận chậm
chạp các tiến bộ kỹ thuật. Một sự cọ sát nhằm giảm rủi ro như vậy có nghĩa là dẫn ñến tổng
ñầu ra sẽ ít hơn. Như vậy, giá nông sản phẩm có chiều hướng cao hơn, người tiêu dùng
phải trả nhiều hơn. Hơn nữa, nếu sở thích của người tiêu dùng chuyển dịch sẽ dẫn ñến thay
ñổi giá nông sản, người nông dân sản xuất trong ñiều kiện rủi ro cao thì sự ñiều chỉnh của
họ ñể ñáp ứng nhu cầu thay ñổi chậm hơn so với trong ñiều kiện rủi ro thấp. Sự cọ sát với
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội - Giáo trình Qủan trị rủi ro -----------------------------------------------11


rủi ro này cũng ñóng góp vào sự chậm trễ thu nhập trong nông nghiệp so với các ngành
kinh tế khác, vì thế chính phủ phải phân bổ doanh thu từ thuế ñể hỗ trợ các chương trình
nông thôn
Thường thường, những người cần quan tâm ñến rủi ro là:
1. Nông dân,
2. Những người tư vấn, hướng dẫn nông dân,
3. Các hãng, công ty thương mại mua bán với nông dân,
4. Các nhà nghiên cứu nông nghiệp,
5. Các nhà hoạch ñịnh chính sách
Nông dân, hiểu biết về rủi ro cần thiết cho công tác kế hoạch của họ. Phúc lợi của gia
ñình và sự sống còn trong kinh doanh có thể phụ thuộc vào vấn ñề quản lý rủi ro như thế
nào. Những lúc khó khăn có thể phá sản, nhiều trang trại (farm) sống sót ñược là do thắt
chặt quản lý, nếu không sẽ phải tìm ngành khác ngoài nông nghiệp.
Người tư vấn, hướng dẫn nông dân (các nhà khuyến nông) cần nhận thấy rằng rủi ro
và thái ñộ ñối với rủi ro có ảnh hưởng ñến quyết ñịnh của người nông dân trong tiếp thu
tiến bộ kỹ thuật. Những người hướng dẫn nông dân có thể ñẩy nhanh tiến ñộ tiếp thu của
nông dân bằng cách cung cấp thông tin kinh tế kỹ thuật cho họ, tổ chức thăm quan trình
diễn tại ruộng, tổ chức thăm những nông dân giỏi ñang áp dụng tiến bộ kỹ thuật cần phổ
biến ñó. Tóm lại là có nhiều cách ñưa thông tin và hướng dẫn nông dân thông qua hình vẽ
về rủi ro ñể nông dân dễ dàng quyết ñịnh cho phù hợp với khả năng và hoàn cảnh của họ.
Những người cung cấp ñầu vào. Những người này cũng có những thách thức
giống những người hướng dẫn nông dân. Họ cần nhận thấy rằng nông dân mua hàng hoá
mới/sản phẩm mới là một quyết ñịnh rủi ro ñối với họ, ñặc biệt là với những khoản ñầu tư
lớn. Những nhà cung ững ñầu vào cũng có thể áp dụng các biện pháp như ñã nêu ở trên ñể
hạn chế rủi ro nhận thấy ở khách hàng mục tiêu của họ. Cho mượn/vay có thể là hình thức
tốt hơn hình thức bán trực tiếp cho khách hàng không thích rủi ro, vì vậy những nhà cung
cấp chào mời theo cách này thường thành công hơn. Tương tự, các nhà kinh doanh nông
nghiệp (agricultural trader) là những người mua sản phẩm của nông dân có thể tìm cách
khuyến khích nông dân ñể hạn chế rủi ro giá. Một số nông dân sẵn sàng chấp nhập giá kỳ
vọng, mặc dù có thể thấp hơn, nếu người mua chào mời hợp ñồng trước với giá ñảm bảo.
Bằng cách này cả người mua và người bán ñều có lợi .
Các nhà nghiên cứu trong nông nghiệp. ðặc biệt ñối với những người trực tiếp
xây dựng phương pháp canh tác mới cần phải suy nghĩ nhiều về các khía cạnh rủi ro. Ví
dụ, các báo cáo kết quả thí nghiệm thường là những con số bình quân mà không báo cáo
ñầy ñủ vể ñộ phân tán của kết quả. Người nghiên cứu trực tiếp phải nhận thấy vấn ñề rủi
ro quan trọng hơn nhiều so với báo cáo kết quả thí nghiệm ñược ñơn giản hoá cho tốt hơn,
tròn trịa hơn. Suy nghĩ về những khó khăn của nông dân và những cơ hội cũng như rủi ro
của họ sẽ giúp người nghiên cứu xác ñịnh vấn ñề cần nghiên cứu mới hoặc giải quyết các
vấn ñề một cách toàn diện hơn. Ví dụ các nhà chọn giống hướng vào chọn lọc năng suất
trong ñiều kiện kiểm tra ñược về dinh dưỡng chẳng hạn nhưng với cái ñó có thể làm mất
khả năng di truyền về tính chống chịu ñiều kiện xấu và do ñó làm tăng rủi ro trong ñiều
kiện sản xuất không thuận lợi.
Các nhà hoạch ñịnh chính sách cũng cần quan tâm ñến rủi ro và phản ứng của
nông dân với rủi ro. Ước lượng phản ứng cung bằng các mô hình không tính ñến thái ñộ né
tránh rủi ro của nông dân có thể sẽ dẫn ñến sự chệch hướng ñáng kể. Nói cách khác các mô
hình ước lượng có tính ñến rủi ro sẽ cho kết quả ước lượng tốt hơn mô hình không tính ñến
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội - Giáo trình Qủan trị rủi ro -----------------------------------------------12


rủi ro. Tương tự, hoạch ñịnh chính sách và kế hoạch hoá là những công việc mang tính rủi
ro, vì vậy một vài phương pháp phân tích rủi ro sẽ ñược giới thiệu trong các chương sau.
Các nhà hoạch ñịnh và chính sách cần cân nhắc ñến thái ñộ của nông dân ñối với
rui ro không những trong khi ñề ra các chính sách và chương trình ảnh hưởng trực tiếp ñến
rủi ro trong nông nghiệp, như chính sách ổn ñịnh giá, mà phải cân nhắc ñến tất cả các
chính sách khác, vì khi thay ñổi sẽ dẫn ñến sự phản ứng của của nông dân, ñó là nhận thức
và thái ñộ của họ với rủi ro. Ví dụ, luật môi trường có thể cấm nông dân rải phân chuồng
ngay sau khi thu hoạch, ñiều này ñòi hỏi nông dân phải dự trữ phân bón cho ñến khi họ
ñược phép sử dụng. Vậy họ phải ñầu tư vào việc xây dựng phương tiện ñể dự trữ tại nông
trại hoặc phải thuê dự trữ ñâu ñó ngoài nông trại. Mặc dù dự trữ tại nông trại phải ñầu tư
thêm, nhưng về lâu về dài sẽ rẻ hơn. Nhưng ñầu tư vào việc dự trữ phân chuồng tại trang
trại thì người nông dân có thể gặp phải rủi ro là nếu luật môi trường thay ñổi thì công suất
dự trữ có thể quá nhỏ hoặc quá lớn. Rủi ro này là do ñầu tư không ñủ cho việc dự trữ tại
nông trại và dẫn ñến hiệu quả thấp và có thể dẫn ñến những ảnh hưởng phụ không mong
muốn như phải có ñường xá ñể vận chuyển phân chuồng ñến nơi dự trữ ngoài nông trại.
Các nhà chính sách cần nhận thấy và hiểu phản ứng của nông dân ñối với rủi ro do các
chính sách của họ ñưa ra.
4. Quản trị rủi ro trong nông nghiệp
Quản trị rủi ro là áp dụng một cách hệ thống các chính sách, các phương pháp và các
hành ñộng nhằm xác ñịnh, phân tích, ñánh giá, xử lý và theo dõi kiểm tra rủi ro. ðối với
bất kỳ một tổ chức nào, dù là một công ty lớn, một cơ quan nhà nước hay một nông trại gia
ñình thì quản trị rủi ro là hoặc phải là một bộ phận không thể thiếu của quản trị giỏi, ñó là
một cách ñể một tổ chức tránh những thiệt hại và tối ña hoá những cơ hội. Quản trị rủi ro
không phải là một loạt những phương pháp “tiêm phòng” ñể chống lại rủi ro, ñiều ñó là
không thể trên thế giới này vì thế giới luôn thay ñổi, ñặc tính và hậu quả của rủi ro cũng
luôn thay ñổi, mà ñó là một quá trình chấp nhận liên tục và cần thiết gắn liền với tất cả các
khía cạnh quyết ñịnh của một tổ chức. Quản trị rủi ro có thể chia thành nhiều bước, thông
thường ñược chia thành các bước sau:
Xác ñịnh bối cảnh và phạm vi quản trị rủi ro
Bước này liên quan ñến việc ñưa ra bối cảnh và xác ñịnh các tham số của rủi ro hoặc
miền của rủi ro. Phạm vi quản trị rủi ro có thể là thuộc phạm vi quản trị chiến lược, phạm
vi tổ chức hoặc khía cạnh khác.

Xác ñịnh bối
cảnh và phạm vi

Xác ñịnh rủi
ro

Phân tích rủi
ro

Theo dõi ,
giám sát

Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội - Giáo trình Qủan trị rủi ro -----------------------------------------------13

ðánh giá rủi
ro


Sơ ñồ 1.1: Các bước quản trị rủi ro
Nói về phạm vi chiến lược là liên quan ñến quan hệ giữa tổ chức và môi trường
của nó, xác ñịnh những ñiểm mạnh, ñiểm yếu, cơ hội và thách thức của tổ chức. Thông
thường, vấn ñề quan trọng là xác ñịnh các thành tố chiến lược quan trọng xác ñịnh vị thế
của tổ chức trong môi trường của nó, qua ñó mà tăng cường khả năng thoả mãn nhu cầu
của những người có liên quan trong tổ chức. Những người có liên quan có thể là người
chủ, nhân viên, khách hàng, ñịa phương hoặc xã hội nói chung. Ví dụ, một nông trại gia
ñình thì những người có liên quan trước tiên là gia ñình sau ñó là những người khác như
người tiêu dùng sản phẩm của nông trại mình, mà những người này họ cần ñược cung cấp
sản phẩm an toàn với giá cả hợp lý. Trong các tổ chức trong nông nghiệp, những người có
liên quan là người sản xuất, những người luôn tìm kiếm các phương pháp canh tác tiến bộ;
người tiêu dùng, những người có thể ñược hưởng lợi từ hiệu quả sản xuất mang lại; người
ñóng thuế, người có lợi tức nếu họ bù ñược mọi khoản chi phí của mình.
Ở phạm vi tổ chức thì quản trị rủi ro có liên quan ñến quá trình ñưa ra và thảo luận
các mục ñích và mục tiêu, phân công trách nhiệm ñối với từng loại quyết ñịnh cho từng
người. Quản trị rủi ro trong phạm vi này có nghĩa là quản trị toàn diện một tổ chức, hiểu rõ
cơ cấu quản trị và hoạt ñộng của nó. Có thể nói rằng, rủi ro cần quản trị ở ñây là rủi ro về
phương pháp quản trị hiện tại không ñáp ứng ñược mục tiêu của tổ chức.
Phạm vi quản trị rủi ro liên quan ñến vấn ñề xác ñịnh tầm mức của quá trình quản trị
rủi ro (ñã thể hiện ở sơ ñồ 1.1). Tuy nhiên ñề cập ñến mọi rủi ro cùng một lúc là ñiều
không thể làm ñược vì vậy nên tiến hành một cuộc ñiều tra phù hợp với thời gian và các
nguồn lực sẵn có, ví dụ nên bắt ñầu với những rủi ro mà con người có thể ñiều chỉnh ñược
ñể phục vụ cho công tác quản trị có hiệu quả hơn.
Xác ñịnh rủi ro
Xác ñịnh rủi ro cần quản trị ở ñây quan trọng là phải tiếp cận một cách hệ thống ñể
bảo ñảm không bỏ sót một loại rủi ro nào, vì vậy cần liệt kê các sự kiện có thể ảnh hưởng
lớn ñến kết quả hoạt ñộng của một tổ chức. Cụ thể là cần cân nhắc cái gì có thể xảy ra, tại
sao và như thế nào và nó ảnh hưởng ñến tổ chức như thế nào.
ðiều rất tự nhiên là rủi ro không phải lúc nào cũng dễ tưởng tượng ra nó sẽ xảy ra như
thế nào. Có những rủi ro bất thường không thể tưởng tượng ñược, nhưng ñiều ñó không có
nghĩa là nó không xảy ra và không có hại gì nếu nó xảy ra. Bây giờ rõ ràng là không có khả
năng quản lý những rủi ro không thể tưởng tượng ñược. Như vậy cái gì là quan trọng, ñiều
chắc chắn là mọi rủi ro quan trọng có thể tưởng tượng ñược qua việc suy nghĩ cân nhắc kỹ
lưỡng.
Phân tích rủi ro
Trong quản trị rủi ro hiện nay, người ta chia quá trình phân tích rủi ro thành 2 bước:
Cân nhắc khả năng xảy ra và ñánh giá hậu quả của nó. Bước thứ nhất gọi là phân tích
không chính thức, ở bước này sẽ trình bày một cách chung chung/tổng quát với những khái
niệm như “rất không có khả năng xảy ra - very unlikely” hoặc “hoàn toàn có khả năng xảy
ra - quite likely” ñể mô tả các khả năng xảy ra, hoặc các khái niệm “nguy hiểm” hoặc
“thảm hoạ” ñể mô tả hậu quả. Mục ñích của phân tích không chính thức là ñể phân chia
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội - Giáo trình Qủan trị rủi ro -----------------------------------------------14


các sự kiện ra thành loại có xác xuất xảy ra nhỏ hoặc tác ñộng của nó không lớn, ñối với
loại rủi ro này cần phải phân tích hết sức cẩn thận và hệ thống. Bước thứ hai gọi là phân
tích chính thức. Khi nào cần phân tích chính thức, sẽ ñề cập ở phần sau.
ðánh giá rủi ro
ðánh giá rủi ro là bước tiếp theo và có liên quan chặt chẽ với các bước phân tích rủi ro
trên ñây, nó liên quan tới vấn ñề xác ñịnh các rủi ro hoạt ñộng quản trị rủi ro hiện tại không
còn phù hợp và cần phải ñiều chỉnh trong tương lai.
ðiều chỉnh sự chấp nhận rủi ro cần phải cân nhắc ñến thái ñộ ñối với rủi ro bên
trong và bên ngoài tổ chức. Vấn ñề mấu chốt liên quan ñến ñiều chỉnh thái ñộ chấp nhận
rủi ro bên trong tổ chức ñó là mức ñộ né tránh rủi ro của người ra quyết ñịnh. Chúng ta có
thể thấy các công ty lớn hoặc tổ chức lớn như tổ chức của nhà nước thì thái ñộ ñối với rủi
ro là trung tính, trừ những rủi ro có tính chất sống còn, nhưng ñối với nông dân nghèo ở
các nước ñang phát triển thì họ lại có thái ñộ rất né tránh hoặc không chấp nhận rủi ro.
Trong cân nhắc phản ứng bên ngoài tổ chức ñối với rủi ro không chỉ ñơn giản là nó
nguy hiểm thế nào khi rủi ro xảy ra mà còn phải cân nhắc cả ñến vấn ñề hậu quả của nó thế
nào. Ví dụ về vấn ñề an toàn thực phẩm hay vấn ñề hút thuốc cũng có những thái ñộ khác
nhau trong xã hội. Người quản lý rủi ro trong nông nghiệp cần biết những nhận thức có vẻ
như bất hợp lý trong xã hội về những rủi ro bắt nguồn từ ngành nông nghiệp.
Quản trị rủi ro
Quản lý rủi ro nghĩa là xác ñịnh miền lựa chọn ñể xử lý các rủi ro thông thường,
sau ñó ñánh gía các lựa chọn ñó, chọn lựa chọn phù hợp nhất và thực hiện nó.
Nhìn chung một số rủi ro có thể tránh ñược. Ví dụ các rủi ro ñầu tư có thể tránh
ñược bằng cách không ñầu tư, và như vậy sẽ ñể mất cơ hội kiếm lời qua ñầu tư; hoặc
thường thường rủi ro ñược bảo ñảm thông qua phần ñền bù lớn hơn phần mất. Có những
rủi ro có thể quản lý ñược bằng cách hạn chế khả năng xảy ra, hoặc giới hạn tối ña hậu quả
xấu.
Theo dõi, giám sát
Mặc dù kế hoạch quản trị rủi ro ñã ñược xây dựng, duy trì và thực hiện nhưng
những phương án lựa chọn ñều ñược dựa trên những thông tin không hoàn hảo, vì vậy có
những phương án có thể tỏ ra không thoả mãn, vì vậy việc theo dõi, giám sát là cần thiết ñể
bảo ñảm cho kế hoạch chắc chắn ñang ñược thực hiện và nhằm phát hiện ra những vấn ñề
cần phải giải quyết và ñiều chỉnh trong tương lai. Nếu có ñiều chỉnh ở một hoặc nhiều
bước thì cần phải làm lại các bước khác cho phù hợp.
5. Khi nào cần tiến hành phân tích chính thức về rủi ro
Phân tích chính thức lựa chọn rủi ro trong nông nghiệp rõ ràng là tốn kém, ít nhất là
tốn công sức, thời gian ñể suy nghĩ và mô hình hoá. Có hai trường hợp phân tích chính
thức cần phải tính ñến dưới ñây
Thứ nhất, ñối với những quyết ñịnh nhanh thì cần có chiến lược nhạy cảm…. ích
lợi từ các quyết ñịnh riêng biệt có thể không lớn, nhưng ích lợi tích luỹ qua nhiều quyết
ñịnh có thể làm thay ñổi thời gian và nỗ lực ban ñầu cũng như những nỗ lực tiếp theo cho
phân tích. Ví dụ, xây dựng chiến lược ñiều trị bệnh kinh niên của gia súc trong chăn nuôi,
như bệnh viêm vú ở bò sữa. Những bệnh khó chẩn ñoán chắc chắn khi ñiều trị có thể phát
sinh những chi phí trực tiếp hoặc gián tiếp ñáng kể, hoặc các gia súc bị bệnh ñưa vào ñiều
trị cũng có thể bị chết, vì vậy thiết kế và thực hiện một chiến lược quản lý dịch bệnh tốt là
vấn ñề nhạy cảm.
Trường hợp phân tích quyết ñịnh nhanh này có thể mở rộng ứng dụng ra ñối với
quản lý dịch vụ khuyến nông ở khía cạnh tiếp thu các biện pháp canh tác mới. Ví dụ chọn
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội - Giáo trình Qủan trị rủi ro -----------------------------------------------15


chiến lược trồng khoai tây ở vùng giá lạnh, người ta biết rằng năng suất khoai tây có thể
ñược cải thiện nếu trồng sớm, nhưng rõ ràng trồng sớm rất có thể gặp phải giá lạnh mùa
xuân. Người hướng dẫn/nhân viên khuyến nông có thể sử dụng tài liệu ghi chép thời tiết ñể
phân tích quyết ñịnh ñơn giản ñể xây dựng các khuyến cáo hướng dẫn những người trồng
khoai tây tại nới ñó.
Trường hợp thứ hai, ñối với quyết ñịnh rất quan trọng, với nghĩa nếu có khoảng
cách lớn ñáng kể giữa kết quả tốt nhất và xấu nhất, ví dụ quyết ñịnh ñầu tư lớn. Một nông
dân có thể thấy rất có giá trị nếu ñầu tư mua một trang trại khác ñể mở rộng qui mô kinh
doanh ñáp ứng mục tiêu dài hạn, nhưng nếu ñầu tư thì có thể ñòi hỏi một lượng tiền vay
lớn và có thể dẫn ñến phá sản nếu mọi việc không ñúng.
Thực ra một quyết ñịnh hay một loạt các quyết ñịnh quan trọng ñể ñiều chỉnh các
nỗ lực nhằm ñạt ñược lựa chọn tốt hơn không chỉ cân nhắc quyết ñịnh có phân tích chính
thức hay không phân tích. Nhiều lựa chọn trong nông nghiệp thực sự là phức tạp, và có thể
không ñược trình bày rõ có sử dụng phương pháp phân tích chính thức hay không. Một số
ñặc ñiểm gây nên sự phức tạp của quyết ñịnh là:
1.Thông tin sẵn có về vấn ñề quyết ñịnh không ñầy ñủ
2. Vấn ñề quyết ñịnh bao hàm ña mục tiêu và mâu thuẫn với nhau
3. Nhiều ngươi tham gia lựa chọn hoặc có ảnh hưởng ñến kết quả
4. Có thể liên quan ñến nhiều vấn ñề quyết ñịnh phức tạp khác
5. Môi trường quyết ñịnh có thể thay ñổi hoặc xáo ñộng, bất ổn
6. Biện pháp giải quyết vấn ñề có thể bao hàm các ñề xuất chi phí tốn kém không
nhìn thấy
Phản ứng tâm lý của con người ñối với sự phức tạp này thay ñổi/không ổn ñịnh và
có thể ít nhiều hợp lý. Một số lựa chọn ñơn giản khác, thậm chí khi làm như thế là ñể tránh
thảm hoạ. Ví dụ, trong những lúc tài chính khó khăn là lúc nợ trở thành vấn ñề lớn, người
ta quan sát thấy một số nông dân ñã cắt quan hệ với các nhà băng rất kịp thời khi họ có thể
thảo luận với nhà băng làm thế nào ñể giải quyết khủng hoảng. Những phản ứng ít nhiều
mang tính hợp lý như vậy có thể kể là:
1.ðơn giản hoá những cái phức tạp (xem lại phương pháp quyết ñịnh trong tất cả các quyết
ñịnh, suy nghĩ những cơ hội nào ñã bỏ lỡ phải hoặc không phải cân nhắc)
2.Ngăn ngừa những ñiều không chắc chắn hoặc từng bước hạn chế nó (hình như hợp lý
hoặc ở chi phí vừa phải)
3.Tập trung vào các mức gia tăng hơn là tập trung vào tổng mức thay ñổi
4. Tìm cách thu hẹp những mâu thuẫn quyền lợi hoặc những khác biệt ñáng kể qua thảo
luận giữa những người có liên quan (thường thường, một cách thông minh và ñơn giản là
dẫn dắt một quyết ñịnh khó khăn sang vai những người khác bằng cách thành lập một ban
hoặc tìm cách chuyển lựa chọn sang vai những người khác)
Câu hỏi ôn tập
1. Tại sao hiện nay cần phải quan tâm ñến rủi ro trong nông nghiệp?
2. Phân biệt rủi ro và không chắc chắn
3. Rủi ro kinh doanh, các loại rủi ro kinh doanh và các nguyên nhân gây ra rủi ro kinh
doanh
4. Rủi ro tài chính và nguyên nhân gây ra rủi ro tài chính
5. Thế nào là rủi ro sản xuất, rủi ro marketing, rủi ro thể chế, rủi ro cá nhân?
6. Những ñối tượng quan tâm ñến rủi ro trong nông nghiệp là những người nào và tại
sao họ cần quan tâm ñến rủi ro?
Tài liệu tham khảo:
- Lê Hữu Ảnh,1997.Tài chính nông nghiệp. 164 trang. 19-49?
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội - Giáo trình Qủan trị rủi ro -----------------------------------------------16


- ðoàn Thị Hồng Vân, 2002. Quản trị rủi ro và khủng hoảng. Nhà xuất bản Thống kê, Hà
Nội. 321 trang. tr.24-60.
- Jock R. Anderson, John L. Dillon and J. Brian Hardaker. Agricultural Decision Analysis.
Iowa State University Press/Ames Iowa. 344 pages
- Peter J. Barry (Editor), 1984. Risk Management in Agriculture. Iowa State University
Press/Ames Iowa. 282 pages
-J.B. Hardaker, R.B.M. Huirne and J.R. Anderson, 1997. Coping with Risk in Agriculture.
Cab Internatinal. 274 pages
-Peter H. Callkins, Dennis D. DiPietre, 1983. Farm Business Management. Macmillan
Publishing Co. Inc New York, Collier Macmillan Publishers London. 441 pages (p. 202)
- Ronald D. Kay, 1988. Farm Management (Second Edition). McGRAW-Hill Book
Company. 384 pages.
--------------------------------------------------------------------------------Hết

Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội - Giáo trình Qủan trị rủi ro -----------------------------------------------17


CHƯƠNG II- 3
THÁI ðỘ ðỐI VỚI RỦI RO VÀ PHƯƠNG PHÁP ðO
Mục ñích chương
Chương này sẽ làm rõ:
- Các thái ñộ ñối với rủi ro
- ðo lường thái ñộ ñối với rủi ro
- ðánh giá các phương pháp mô hình hoá ñể ño lường thái ñộ ñối với rủi ro
- Các phương pháp ước lượng hệ số không thích rủi ro
- ða mục tiêu và ñánh giá tầm quan trọng của rủi ro trong mối quan hệ với các mục tiêu khác
Có ba thái ñộ ñối với rủi ro: Né tránh hay không thích rủi ro; trung tính hay chấp nhận
rủi ro và thích rủi ro hay người mạo hiểm.
Trong khi xây dựng lý thuyết về thái ñộ không thích rủi ro (risk averse), K.Arrow
(1974) ñã quan sát và thấy rằng: a) Các cá nhân có xu hướng không thích rủi ro và b) không
thích rủi ro là biểu hiện của nhiều hiện tượng quan sát ñược của thế giới kinh tế. Trong nông
nghiệp, nông dân biểu hiện thái ñộ ñối với rủi ro bằng nhiều cách: ñịnh giá trước, bảo hiểm,
ña dạng hoá sản xuát, dự trữ tiền mặt, quản lý nợ….Nhà nước biểu thị thái ñộ ñối với rủi ro
nông nghiệp bằng các chương trình tín dụng ổn ñịnh, và các chương trình hỗ trợ. Vì vậy,
thông tin về thái ñộ ñối với rủi ro của nông dân và các tác nhân kinh tế khác ñóng một vai trò
quan trọng trong quản lý rủi ro.
Các nhà kinh tế và các nhà nghiên cứu khác ñã ñầu tư nhiều vào việc làm rõ các khái
niệm, xây dựng mô hình, và ño thái ñộ ñối với rủi ro của người ra quyết ñịnh. Mặc dù ñã ñạt
ñược nhiều tiến bộ, nhưng cũng còn nhiều vẫn ñề còn phải tiếp tục nghiên cứu và hoàn thiện.
Trong chương này chúng ta sẽ xem lại các phương pháp mô hình hoá và các phương pháp ño
thái ñộ ñối với rủi ro và ứng dụng của nó trong nghiên cứu, trong ñó nhấn mạnh mô hình thoả
mãn lợi ích kỳ vọng và lợi ích ngẫu nhiên.
1. Mô hình lợi ích kỳ vọng
Mong muốn của người ra quyết ñịnh là muốn thoả mãn các mục tiêu hoặc thoả mãn
lợi ích kỳ vọng (expected Utility). Mô hình hoá các mục tiêu (goals) là một công việc phức
tạp. Mục tiêu có thể là ñơn hoặc là ña mục tiêu và nếu là ña mục tiêu thì có thể ñánh giá ñồng
thời hoặc ñánh gía theo thứ bậc. Ví dụ, nếu mục tiêu là tối ña hoá lợi nhuận, thì kết quả hoạt
ñộng (action) sẽ phải biểu thị bằng giá trị (biểu thị bằng tiền), và hoạt ñộng ưa thích nhất sẽ
có giá trị cao nhất. Nhưng tối ña hoá giá trị tiền kỳ vọng ñã tỏ ra rất trìu tượng và không có
hiệu quả trong giải thích nhiều kiểu ứng xử kinh tế vì nó ñòi hỏi phải phân biệt các thái ñộ
của người quyết ñịnh ñối với giá trị tăng thêm. Vì vậy, một phương pháp chung dựa trên
thuyết vụ lợi ñã cố gắng giải thích thái ñộ của người ra quyết ñịnh trong ñiều kiện rủi ro.
Mô hình lợi ích kỳ vọng (Expected Utility Model -EUM) là một công cụ ñộc nhất ñưa
ra nguyên tắc ño thái ñộ ñối với rủi ro. Nó suy ra rằng người quyết ñịnh tuân theo một tiên ñề
nhất ñịnh sẽ chọn những hoạt ñộng (actions) thoả mãn tối ña lợi ích kỳ vọng . Mô hình EUM
cũng ñã ñược sử dụng ñể miêu tả thái ñộ ñối với rủi ro, và khả năng dự ñoán của nó ñã ñược
kiểm chứng qua nhiều thí nghiệm và qua các ứng xử kinh tế quan sát ñược (Robinson 1982,
Schoemaker 1982). Do ñó EUM là một phương pháp biểu diễn các mục tiêu của người ra
quyết ñịnh.

Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội - Giáo trình Qủan trị rủi ro ---------------------------------------------------18


1.1. Xác ñịnh mô hình lợi ích kỳ vọng
Mô hình EUM cung cấp cho chúng ta một danh mục các giá trị ñơn lẻ về các hoạt
ñộng cần lựa chọn ñược sắp xép theo sở thích hoặc thái ñộ của người ra quyết ñịnh.
Các thành phần cấu thành một quyết ñịnh rủi ro bao gồm:
1) Các hoạt ñộng mà người ra quyết ñịnh cần lựa chọn, ký hiệu Aj (ví dụ chọn mức
phân bón)
2) Các sự kiện hoặc các ñặc tính tự nhiên mà người ra quyết ñịnh không kiểm soát
ñược, ký hiệu Si (ví dụ lượng mưa: nhiều, trung bình, ít)
3) Xác suất xảy ra sự kiện hoặc ñặc tính Si, ký hiệu P(Si)
4) Các kết quả của các hoạt ñộng lựa chọn, tính bằng tiền và ký hiệu Xij.
Hàm mục tiêu ñược biểu thị dưới dạng toán học như sau:
Max EU(x) = ∑ U(Xij) P(Si);

j = 1, 2, …, n (2.1.)

Trong ñó, EU(x) là lợi ích kỳ vọng của các kết quả hoạt ñộng, U(Xij) là lợi ích ñạt ñược nếu
Aj ñược lựa chọn và Si xảy ra, P(Si) là xác suất xảy ra ñặc tính Si, các khái niệm khác ñã giải
thích ở trên.
Ví dụ có 2 hoạt ñộng người nông dân cần lựa chọn A1 là bán sản phẩm ngay sau khi
thu hoạch và A2 là dự trữ một thời gian sau mới bán. Hai sự kiện S1 là thị trường bình thường
và S2 là thị trường thiếu hụt cung. Xác suất chủ quan của người nông dân này về ñiều kiện thị
trường S1 là 0,8 và S2 là 0,2, ta có ma trận kết quả và lợi ích kỳ vọng như sau:
P(Si)
Si
S1
0,8
S2
0,2
Lợi ích kỳ vọng

A1
100
100
100

A2
90
150
102

Hàm EUM ñược dựa trên một qui tắc bắt nguồn từ các tiên ñề về ứng xử cá nhân. Việc phát
triển hoàn chỉnh phương pháp này chúng ta tìm thấy ở các tác phẩm của Von Neumann và
Morgenstern (1947) hoặc Luce và Raiffa (1957), ở ñây chỉ trình bày tóm tắt một số nội dung
cốt yếu nhất. Các tiên ñề ñề cập ñến các ñiều kiện hoặc các giả thiết con người ta ứng xử như
thế nào; chung qui lại một giả thiết chung là con người ta lựa chọn rủi ro một cách hợp lý
nhất và nhất quán. Nếu ñã tuân theo các tiên ñề thì tiếp ñến là qui tắc lựa chọn dựa trên cơ sở
tối ña hoá lợi ích kỳ vọng.
Một số tiên ñề ñược tóm tắt lại như sau:
1. Thứ tự các lựa chọn
ðối với bất cứ lựa chọn nào giữa 2 hoạt ñộng A1 và A2 thì người ra quyết ñịnh hoặc là
thích A1 hơn A2, thích A2 hơn A1 hoặc không khác nhau giữa chúng.
2. Tính chất liên hoàn giữa các lựa chọn
Nếu A1 ưa thích hơn A2 và A2 ưa thích hơn A3 thì A1 phải ưa thích hơn A3.
3. Tính chất thay thế giữa các lựa chọn
Nếu A1 ưa thích hơn A2, và A3 là lựa chọn khác, thì lựa chọn rủi ro PA1 + (1-P)A3 ưa
thích hơn lựa chọn PA2 + (1-P) A3, trong ñó P là xác suất xảy ra
4. Tính chất tương ñương giữa các lựa chọn
Nếu A1 ưa thích hơn A2, và A2 ưa thích hơn A3 thì sẽ tồn tại một vài xác suất P người
quyết ñịnh thấy có cùng mức ñộ thoả mãn khi có A2 ñể chắc chắn, hoặc nhận A1 với xác suất
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội - Giáo trình Qủan trị rủi ro ---------------------------------------------------19


P và A3 với xác suất (1-P). Như vậy A2 là giá trị tương ñương chắc chắn (certainty
equivalent: CE) của PA1 + (1-P) A3 .
(CE có thể hiểu là một giá trị chắc chắn nào ñó mà người quyết ñịnh cảm thấy có
cùng mức ñộ thoả mãn như nhau khi ñược hoặc mất một giá trị nào ñó trong khi quyết ñịnh
lựa chọn một vấn ñề nào ñó. Ví dụ CE tương tự như số tiền cược trong các trò chơi cờ bạc,
hoặc số tiền cá ñộ trong các cuộc chơi cá ñộ bóng ñá hoăc ñua ngựa, hoặc ñối với người nông
dân ñó là giá bảo hiểm thấp nhất hoặc số tiền ñược bù bảo hiểm cao nhất.)
Nếu người quyết ñịnh tuân theo các tiên ñề này thì một hàm lợi ích có thể ñược xây dựng
ñể phản ánh sở thích của người ra quyết ñịnh (HEY 1979)
Giả sử người nông dân A gặp một lựa chọn rủi ro với giá trị thu ñược tối ña là 1000 $
với xác suất P và một giá trị mất tối ña là 1000 $ với xác suất là 1-P. Phạm vi giới hạn của
hàm lợi ích có giá trị là 1,0 ñối với phần ñược, U(1000) = 1, và bằng 0,0 ñối với phần mất,
tức là U(-1000) = 0. Giả sử lợi ích của giá trị tương ñương (CE) bằng lợi ích kỳ vọng:
U(CE) = P(1,0) + (1-P)(0,0) = P
(2.2)
Ví dụ, nếu P = 0,5, người nông dân A có thể ñưa ra một lượng mất chắc chắn là 250 ñô la
như là giá trị tương ñương ñể ñánh cược cho việc mất 1000 ñô la là lợi thế, vì lợi ích của 250 ñô la là 0,5, tức là U(-250) = 0,5. Nếu P = 0,8 thì người nông dân A có thể ñưa ra 400 ñô
la là giá trị tương ñương (CE), vì lợi ích của 400 ñô la ñối với người nông dân A là 0,8,
U(400) = 0,8. ðến bây giờ chúng ta ñã có 4 quan sát về lợi ích và giá trị tiền ñối với người
nông dân A. Nếu có ñủ các gía trị về lợi ích thì chúng ta có thể xây dựng một bảng về lợi ích
hoặc một hàm lợi ích tương ứng với các giá trị này bằng phương pháp ñồ thị hoặc phương
pháp thống kê. Hàm này sẽ cho một sắp xêp các lựa chọn rủi ro của nông dân A một cách tin
cậy.
1.2. Thái ñộ ñối với rủi ro
Thái ñộ của người quyết ñịnh ñối với rủi ro có thể nhìn thấy từ dạng hàm lợi ích của
anh ta. Hàm tuyến tính hàm ý là người có thái ñộ trung tính (risk neutrality), hàm có dạng
lõm về phía gốc toạ ñộ hàm ý người không thích rủi ro và hàm có dạng lồi hàm ý người thích
rủi ro. Người quyết ñịnh cũng có thể có hàm lợi ích với cả 2 dạng lõm và lồi ở các ñoạn khác
nhau, ñiều ñó có nghĩa là có sự thay ñổi thái ñộ ñối với các kết quả khác nhau.
ðể làm rõ các vấn ñề nêu trên chúng ta xét các dạng hàm lợi ích. Hàm lợi ích tuyến
tính:
U(X) = kX

với k > 0

(2.3)

Trong ñó U(X) là hàm lợi ích; X là các kết quả của các hoạt ñộng; k là tham số.
Nếu gặp phải một lựa chọn với hai kết quả riêng X1 và X2 thì có xác suất tương ứng là 1-P
và P, và lợi ích kỳ vọng của lựa chọn này là
(1-P) kX1 + P kX2 = k X

(2.4)

Trong ñó X là giá trị kỳ vọng của hoạt ñộng. Trong trường hợp này thì lợi ích kỳ
vọng bằng số tiền kỳ vọng (ðồ thị 1.2 phần a). Hoạt ñộng này ñược sắp xếp theo số tiền kỳ
vọng của người quyết ñịnh với hàm tuyến tính. Vì sự sắp xếp này chỉ dựa vào giá trị kỳ vọng
mà không ñề cập ñến các ñặc ñiểm khác của hàm xác suất, do ñó người quyết ñịnh với hàm
lợi ích là hàm tuyến tính thì gọi là người có thái ñộ trung tính ñối với rủi ro. Hay nói cách
khác, người có thái ñộ trung tính ñối với rủi ro sẽ có hàm lợi ích dạng tuyến tính.

Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội - Giáo trình Qủan trị rủi ro ---------------------------------------------------20


Người không thích rủi ro sẽ có hàm lợi ích dạng phi tuyến, lõm về phía gốc toạ ñộ
(phần b của ðồ thị 1.2) có ñạo hàm bậc nhất không âm {U’(x) ≥ 0} và ñạo hàm bậc hai âm
(U”(x) ≤ 0), có nghĩa là lợi ích luôn luôn tăng cùng của cải/hoặc lợi nhuận tăng nhưng lợi ích
cận biên lại giảm dần. Như vậy người không thích rủi ro với hàm lợi ích lõm sẽ thích hành
ñộng có lợi nhuận hoàn toàn chắc chăn hơn là hành ñộng có lợi nhuận tương ñương nhưng
không chắc chắn. Có sở thích này là vì lợi ích bị mất là tiền thiệt hại lớn hơn tiền ñược thêm.
ðối với hoạt ñộng mô tả ở trên và hàm lợi ích là hàm lõm thì lợi ích kỳ vọng là hàm
tuyến tính kết hợp cả U(X1) và U(X2)
EU(X) = (1-P) U(X1) + P U(X2)

(2.5)

Phần a

Lợi ích

EU (x)=k X

X1

X

X2

Phần b

U (X2)
U( X )
U(XCE)=EU(X)
U(X1)

Kết quả
X1

XCE X

X2

ðồ thị 1.2: Các hàm lợi ích, lợi ích biên không thay ñổi và lợi ích biên giảm dần

Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội - Giáo trình Qủan trị rủi ro ---------------------------------------------------21


Khi P thay ñổi thì lợi ích kỳ vọng cũng thay ñổi. Nói chung, EU(X) có thể mô tả bằng ñường
thẳng:
EU(X) = P[U(X2)- U(X1)] + U(X1) = α0P + α 1,
trong ñó α 0 và α 1 là những tham số, và α 0 bằng U(X2) – U(X1) và α 1 bằng U(X1). Lợi ích kỳ
vọng EU(X) ñược biểu diễn trên trục tung phần b ñồ thị 1.2. Nhưng lợi ích của X lớn hơn
lợi ích kỳ vọng của hoạt ñộng với X là giá trị tiền kỳ vọng. Do ñó người không thích rủi ro
sẽ không mua cái hoạt ñộng với giá bằng giá trị tiền kỳ vọng của nó, vì hàm lợi ích lõm sẽ
chuyển giá trị tiền ñược thêm là số 0 sang lợi ích bị mất.
Tuy nhiên, người không thích rủi ro sẽ muốn trả một giá cho hoạt ñộng rủi ro mang
lại lợi ích bằng lợi ích kỳ vọng; ñấy là tại EU(XCE) = EU(X). Giá trị lợi ích này ñược chuyển
sang giá trị tiền tương ñương xác ñịnh XCE (ñược biểu thị bằng U(XCE) ở phần b của ñồ thị
1.2).
Với người không thích rủi ro thì giá trị CE luôn luôn nhỏ hơn giá trị tiền kỳ vọng.
Hiệu số giữa giá trị tiền kỳ vọng và CE gọi là phí bảo hiểm rủi ro ∏, tiền ñể bù cho người
không thích rủi ro chọn hoạt ñộng rủi ro.
Phí bảo hiểm rủi ro ñược biểu thị bằng ñộ cong của ñồ thị hàm lợi ích lõm của người
không thích rủi ro. Mức ñộ cong càng lớn thì phí bảo hiểm rủi ro càng lớn . Ở ñồ thị 2.2 là
hai hàm lợi ích cắt kết quả rủi ro tại X1 và X2 với xác xuất tương ứng P-1 và P, có phí bảo
hiểm rủi ro cao hơn ñối với U*(X), nơi có ñộ cong lớn hơn, còn tại XCE thì thấp hơn.

U( X )

U(x)

EU( X )

U*(x)

Kết quả
X1 CE* CE X

X2

ðồ thị 2.2 . Hàm lợi ích và phí bảo hiểm rủi ro
Mối quan hệ giữa hàm lợi ích và thái ñộ ñối với rủi ro hàm ý là dấu của ñạo hàm bậc
hai của hàm lợi ích cho biết thái ñộ không thích rủi ro, trung tính hay thích rủi ro, chúng ta có
thể biểu thị các mối quan hệ ñó như sau:

Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội - Giáo trình Qủan trị rủi ro ---------------------------------------------------22


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×