Tải bản đầy đủ

SANG KIEN KINH NGHIEM vương 2

I. PHẦN MỞ ĐẦU.
1. Lí do chọn đề tài.
Học sinh tiểu học như một tờ giấy trắng dễ vẽ nên một bức tranh đẹp
nhưng cũng dễ bị vấy bẩn. Chính vì thế, là một giáo viên dạy tiểu học công việc
không đơn giản chút nào. Chúng ta không đơn thuần chỉ là dạy học, truyền đạt
kiến thức từ sách vở đến học sinh mà chúng ta phải giáo dục, uốn nắn đạo đức,
rèn cho các em từng hành vi đạo đức đơn giản nhất, để từ đó giúp các em hình
thành một nhân cách, phẩm chất tốt đẹp. Điều này quả là không dễ, bởi lẽ một
lớp học với 23 học sinh là 23 tính cách, tâm lý, đạo đức khác nhau. Có em
ngoan ngoãn, vâng lời, có em hiếu động, ngổ nghịch, có em lại trầm tĩnh, ít biểu
lộ cảm xúc, ... Thật khó để đưa các em vào một khuôn khổ nhất định. Để làm
được điều này, đòi hỏi người giáo viên phải có những cách giáo dục khác nhau
phù hợp với từng đối tượng. Công tác chủ nhiệm lớp là một việc làm hết sức
quan trọng và cần thiết mà ngay từ đầu năm học, mỗi giáo viên phải tự lập cho
mình một kế hoạch chủ nhiệm thật cụ thể nhằm giáo dục học sinh mình phát
triển tốt cả về kiến thức, kỹ năng lẫn phẩm chất đạo đức. Nhận thức được tầm
quan trọng của công tác chủ nhiệm tôi đã mạnh dạn chọn đề tài “Một số biện
pháp nâng cao chất lượng giáo dục thông qua công tác chủ nhiệm” tại lớp
1B trường TH AMAPUI xã Cư pơng, Huyện Krông Buk.
2. Mục tiêu nhiệm vụ của đề tài:
Cải tiến, đề xuất một số biện pháp chủ nhiệm nhằm nâng cao chất lượng

giáo dục từ đó tạo cho các em có ý thức hơn trong việc học; chấp hành tốt mọi
nội quy, quy định mà lớp học, trường học đưa ra; Giáo dục về mọi mặt như: Đạo
đức, học tập, nề nếp, ngoài giờ lên lớp, phối hợp với gia đình và xã hội để các
em có ý thức kỉ luật tốt, biết giữ gìn vệ sinh trường lớp sạch đẹp; Luôn có tinh
thần tương thân tương ái giúp đỡ lẫn nhau trong tất cả mọi lĩnh vực.
3. Đối tượng nghiên cứu
Đề tài này tập trung nghiên cứu một số biện pháp nâng cao chất lượng
giáo dục thông qua công tác chủ nhiệm tại lớp 1B năm học 2019 – 2020 trường
TH AMAPUI .
4. Giới hạn của đề tài
Do thời gian và khả năng của bản thân có hạn nên đề tài này tôi chỉ tập
trung nghiên cứu công tác chủ nhiệm tại lớp 1B và áp dụng những thành công
của đề tài cho năm học này.
5. Phương pháp nghiên cứu.
Việc nghiên cứu thực hiện đề tài tôi đã sử dụng các phương pháp sau:
phương pháp quan sát; phương pháp điều tra; phương pháp thực nghiệm;
phương pháp thống kê phân loại-so sánh đối chứng; phương pháp phân tích tổng
hợp; phương pháp giáo dục cá nhân; để thực hiện đề tài.
II. PHẦN NỘI DUNG
1


1. Cơ sở lý luận.
Như chúng ta đã biết trong hệ thống giáo dục, Tiểu học được ví như nền
móng của một ngôi nhà. Đây là nền tảng có vai trò hết sức quan trọng, bền vững
về tri thức hình thành thói quen phát triển nhân cách và tư duy. Giáo viên chủ
nhiệm lớp được thay mặt hiệu trưởng quản lí và giúp lớp tổ chức học tập, rèn
luyện đạt mục tiêu đào tạo, giáo viên chủ nhiệm vừa đóng vai quản lí hành chính
nhà nước, vừa đóng vai trò người thầy giáo, đồng thời còn đóng vai trò người
đại diện cho quyền lợi của tập thể lớp. Vậy người giáo viên chủ nhiệm có nhiệm
vụ bồi dưỡng và rèn luyện phẩm chất của một con người mới. Bên cạnh truyền
thụ những kiến thức trong sách giáo khoa còn phải biết dìu dắt, hướng dẫn trang
bị cho học sinh tất cả kiến thức và kỹ năng sống hàng ngày của chính các em. Vì
thế, để làm tốt công tác chủ nhiệm lớp, theo tôi việc đầu tiên của mỗi giáo viên
chủ nhiệm là phải nhận thức rõ về vai trò chủ nhiệm của chính mình như:
Là người chủ chốt của trường làm công tác giáo dục học sinh.
Nắm chắc tư tưởng, tinh thần thái độ và kết quả học tập, rèn luyện của học
sinh, phối hợp với gia đình và đoàn thể để giúp đỡ, cảm hóa học sinh trong rèn
luyện để trở thành người tốt cho xã hội.
Giáo viên chủ nhiệm có vai trò rất lớn trong việc nâng cao chất lượng


cũng như hình thành nhân cách cho học sinh. Vai trò của giáo viên chủ nhiệm
khi tham gia công tác giáo dục không chỉ là nắm được những chỉ số của quản lí
hành chính đơn thuần như tên, tuổi, số lượng, hoàn cảnh gia đình của học sinh,
trình độ học sinh về học lực, hạnh kiểm mà còn phải dự báo xu hướng, tổ chức
giáo dục, dạy học phù hợp điều kiện khả năng của từng học sinh.
Như vậy: Vai trò của giáo viên chủ nhiệm cũng như người làm vườn,
trồng cây, tuy không đúng hoàn toàn nhưng hoạt động của giáo viên chủ nhiệm
gần như người trồng cây, chăm sóc, vun trồng cây giống. Người làm việc không
thể cầm ngọn cây kéo lên mà phải chăm sóc, tạo điều kiện cho hạt giống nảy
mầm. Cho nên, bản thân là một giáo viên chủ nhiệm, tôi luôn tâm niệm dạy dỗ
giáo dục cho các em trở thành những con người hữu ích cho xã hội để xứng
đáng với những hình ảnh đẹp mà xã hội ban tặng như đồng chí Phạm Văn Đồng
đã nói: “Nghề dạy học là nghề cao quý nhất trong tất cả các nghề cao quý vì nó
sáng tạo ra những con người sáng tạo”.
2. Thực trạng vấn đề nghiên cứu:
Đầu năm học 2019 - 2020 tôi được Ban giám hiệu nhà trường phân công
chủ nhiệm lớp 1B. Tuy trường nằm ở vùng dân cư phần lớn là người lao động
chân tay, trình độ văn hóa của người dân chưa cao nhưng được sự quan tâm của
các cấp lãnh đạo, Ban giám hiệu và nhân dân nên trường lớp khang trang, cơ sở
vật chất đầy đủ.
Hầu hết các em đi học đúng độ tuổi, ngoan, lễ phép. Có đồ dùng học tập
tương đối đầy đủ phục vụ cho việc học tập.

2


Trang thiết bị phục vụ cho việc giảng dạy tương đối đầy đủ. Đội ngũ giáo
viên luôn đoàn kết, có tinh thần trách nhiệm cao, thường xuyên trao đổi và học
hỏi kinh nghiệm lẫn nhau, cùng nhau dạy tốt được sự quan tâm giúp đỡ của các
cấp lãnh đạo, Ban giám hiệu, Công Đoàn, tổ chuyên môn, đồng nghiệp trong
nhà, trường tạo mọi điều kiện thuận lợi để giáo viên an tâm công tác. Được sự
quan tâm của Hội cha học sinh của lớp, trường rất nhiệt tình gắn bó với các hoạt
động của nhà trường về mọi mặt, góp phần động viên CB, GV, NV nhà trường
hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.
Bên canh thuận lợi đó tôi còn gặp phải một số khó khăn sau: trường đóng
trên địa bàn xã thuần nông, tỉ lệ dân tộc thiểu số cao, trình độ dân trí thấp, đời
sống nhân dân còn khó khăn, một số gia đình không quan tâm đến việc học của
con em mình, giao phó con em của mình cho giáo viên. Học sinh nhỏ, nhận thức
các em còn non nớt nên các em ham chơi hơn ham học. Ngoài ra, với sự xâm
nhập của trò chơi điện tử, các tệ nạn xã hội phần nào ảnh hưởng đến việc học tập
của các em.
Tuy trường chỉ tổ chức 1 buổi/ngày, thời gian của cô trò khá ít nhưng với
những phương pháp chủ nhiệm này dạy này, trong những năm qua tôi nhận thấy
kết quả chất lượng giáo dục được nâng lên rõ rệt, đa số các em đã biết chấp hành
tốt nội qui trường lớp, biết lễ phép với thầy cô, biết hợp tác với bạn bè…GVCN
đã động viên cổ vũ các em kịp thời bằng những lời động viên, khuyến khích,
nhắc nhở, giáo dục các các em trong học tập cũng như trong sinh hoạt tạo cho
các em lòng tự tin, sự hứng thú say mê trong học tập, tình cảm Cô - Trò luôn gần
gũi, gắn bó.
Năm học 2019 – 2020 lớp tôi có 23 học sinh, trong đó có 11 em nữ; 12
em nam đồng bào dân tộc thiểu số 23 em. Đa số gia đình các em có hoàn cảnh
khó khăn. Phần lớn các em học sinh thường không có ý thức trong học tập thậm
chí các em không hề xem bài mới hay học bài ở nhà. Một số em còn ham chơi,
bỏ bê việc học hành, thường xuyên vi phạm nội qui trường, lớp.
Trường tôi thực hiện dạy học 1 buổi /ngày nên giáo viên chủ nhiệm phải
khéo léo trong việc sắp xếp thời gian, đồ dùng hạy học thì mới có thể có đủ thời
gian dạy đủ các môn theo qui định nên thời gian dành cho công tác chủ nhiệm
có phần hạn chế.
Vì vậy tôi đã thực hiện một số khảo sát sau để hiểu được học sinh của lớp
mình:
1. Khảo sát đối tượng học sinh để đưa ra phương pháp giáo dục phù hợp:
Khảo sát đối tượng thông qua hồ sơ học bạ, qua giáo viên chủ nhiệm ở
trường mầm non, qua học sinh trong lớp hoặc qua phụ huynh.Tiến hành phân
loại đối tượng để đưa vào sổ kế hoạch công tác chủ nhiệm, cụ thể: Học sinh gặp
hoàn cảnh khó khăn. Học sinh khuyết tật. Học sinh cá biệt về đạo đức. Học sinh
yếu. Học sinh có những năng lực đặc biệt.
2. Áp dụng các phương pháp giáo dục phù hợp với từng loại đối tượng:
3


a. Đối với những học sinh có hoàn cảnh gia đình khó khăn :
Giáo viên chủ nhiệm thường xuyên động viên giúp đỡ cả về vật chất lẫn
tinh thần. Kêu gọi học sinh cả lớp có tinh thần đoàn kết giúp bạn vượt khó. Đề
đạt với chi hội phụ huynh lớp, nhà trường tạo điều kiện giúp đỡ những em đó.
Tính ưu việt của việc làm này là vừa khắc phục được khó khăn lại vừa giáo dục
được lòng nhân ái cho học sinh và tranh thủ được sự hỗ trợ của nhà trường của
hội phụ huynh học sinh.
b. Đối với những học sinh khuyết tật:
Giáo viên chủ nhiệm cần dành tình cảm ưu ái hơn. Chú ý cách bố trí chỗ
ngồi phù hợp, cách đặt câu hỏi gợi mở khi tìm hiểu bài và sự đòi hỏi yêu cầu về
nội dung bài học sẽ khác hơn so với học sinh bình thường. Thường xuyên gặp
gỡ phụ huynh để kết hợp theo dõi diễn biến về sức khoẻ và học tập của các em.
c. Đối với học sinh cá biệt về đạo đức:
Tìm hiểu nguyên nhân qua gia đình: Gia đình có sự mâu thuẫn giữa bố và
mẹ, gia đình thiếu quan tâm hoặc có thể bị bạn bè, kẻ xấu lôi kéo….Hoặc trẻ có
những tính xấu mà bản thân gia đình chưa giáo dục được…
Dùng phương pháp tác động tình cảm, nghiêm khắc đối với học sinh
nhưng không cứng nhắc. Tuyệt đối không sử dụng phương pháp trách phạt, chú
ý gần gũi các em và thường xuyên nhắc nhở động viên khen chê kịp thời. Giao
cho các em đó một chức vụ trong lớp nhằm gắn với các em trách nhiệm để từng
bước điều chỉnh mình.
d. Đối với học sinh học yếu:
Tìm hiểu nguyên nhân vì sao em đó học yếu, học yếu những môn nào. Có
thể là ở gia đình các em đó không có thời gian học tập vì phải làm nhiều việc
hoặc em đó có lỗ hỏng về kiến thức nên cảm thấy chán nản.
Giáo viên lập kế hoạch giúp đỡ đối tượng bằng những việc cụ thể như
sau: Giảng lại bài mà các em chưa hiểu hay còn hiểu mù mờ vào những thời
gian ngoài giờ lên lớp . Đưa ra những câu hỏi từ dễ đến khó để học sinh có thể
trả lời được nhằm tạo hứng thú và củng cố niềm tin ở các em. Thường xuyên
kiểm tra các đối tượng đó trong quá trình lên lớp. Tổ chức cho học sinh học theo
nhóm để học sinh khá giỏi giúp đỡ học sinh yếu kém tiến bộ. Gặp gỡ phụ huynh
học sinh trao đổi về tình hình học tập, cũng như sự tiến bộ của con em để phụ
huynh giúp đỡ thêm việc học ở nhà cho các em. Chú ý tránh thái độ miệt thị,
phân biệt đối xử làm cho các em nhụt chí, xấu hổ trước bạn bè.
e. Đối với những học sinh có năng lực đặc biệt:
Điều quan trọng là phát hiện những năng lực đặc biệt ở học sinh về văn
hoá văn nghệ, thể dục thể thao, hội hoạ… Cùng với nhà trường lập kế hoạch bồi
dưỡng thường xuyên cho các đối tượng này.Bồi dưỡng, khơi dậy ở các em lòng
say mê hứng thú học tập thông qua những hội thi, những buổi nói chuyện ngoại
khoá hoặc gần gũi nhất ngay trong tiết học chính khoá. Tóm lại dù với đối
tượng nào bản thân giáo viên phải lưu ý dùng phương pháp tác động tình cảm,
4


động viên khích lệ kịp thời, phối hợp với phụ huynh để giáo dục và đặc biệt xác
định vấn đề giáo dục đạo đức là then chốt.
3. Thực hiện tốt tiết sinh hoạt Chủ nhiệm
Trong giờ sinh hoạt Chủ nhiệm, cần tạo cho các em tâm thế thoải mái,
không gây sức ép nặng nề đối với học sinh bằng những lời trách phạt, phê bình
mà giáo viên tập cho các em biết phê và tự phê. Trong mỗi tiết sinh hoạt Chủ
nhiệm, giáo viên cho học sinh tự nhận xét ưu, khuyết điểm bằng nhiều hình thức
khác nhau như: Cán bộ lớp nhận xét, cá nhân tự nhận xét. Bên cạnh đó, giáo
viên cũng tạo điều kiện cho học sinh bày tỏ những suy nghĩ của mình qua một
tuần học: những điều em thích, những điều em chưa thích, mong muốn của
em, ... Qua đó, giáo viên nắm được tâm tư, nguyện vọng của từng học sinh mà
có những biện pháp giáo dục phù hợp.
Cũng trong tiết sinh hoạt Chủ nhiệm, giáo viên đưa ra những yêu cầu, nội
dung về rèn luyện đạo đức, học tập rồi tổ chức cho học sinh thảo luận lập kế
hoạch hành động cụ thể. Giáo viên nhận xét và chọn những hành động thiết thực
để các em thực hiện. Sau mỗi tuần, hoặc thời gian quy định, giáo viên cho học
sinh tự nhận định, đánh giá lại những việc đã làm được và chưa làm được so với
kế hoạch, từ đó rút kinh nghiệm để thực hiện tốt hơn.
Bên cạnh đó, trong các tiết sinh hoạt Chủ nhiệm, giáo viên lồng ghép một
số hoạt động giáo dục về quyền trẻ em, an toàn giao thông, giáo dục bảo vệ môi
trường, rèn các kĩ năng sống , tìm hiểu về lịch sử, ... nêu những tấm gương tốt
cho học sinh noi theo.
Ngoài ra, trong giờ sinh hoạt Chủ nhiệm, giáo viên cũng lồng ghép giáo
dục, rèn luyện học sinh một số hành vi đạo đức.
4. Hướng học sinh đến những hoạt động đoàn kết, quan tâm, giúp đỡ
nhau.
Ngay từ những ngày đầu năm học, giáo viên tổ chức các hoạt động cho
học sinh giao lưu, tìm hiểu về nhau. Để giúp các em biết quan tâm, giúp đỡ nhau
thì ban đầu trong mỗi ngày học, giáo viên dành ra một khoảng thời gian để trò
chuyện cùng các em, hỏi các em có những gì vui, buồn, điều gì hay, ... chia sẻ
với Cô và các bạn. Dần dần sau đó, giáo viên cho các em tự đi tìm hiểu, chia sẻ
với nhau. Qua những hoạt động đó tạo mối gắn kết các em lại thành một tập thể
đoàn kết, thương yêu, quý mến nhau.
Ngoài ra, giáo viên còn tạo cho học sinh biết đối xử thân thiện, hòa nhã
với nhau, xưng hô lịch sự, biết dùng lời hay ý đẹp để nói với nhau.
Ví dụ: Uốn nắn học sinh thay đổi cách xưng hô “ông – bà” sang xưng hô
“mình – bạn”, “cậu – tớ”, xưng hô tên.
5. Giáo dục qua các câu chuyện kể.
Trong những giờ học đạo đức, tiết sinh hoạt Chủ nhiệm, ...giáo viên kể
cho các học sinh nghe những câu chuyện về những tấm gương vượt khó học
5


giỏi, con ngoan trò giỏi, những người bạn tốt nhằm giáo dục các em về cách ứng
xử, giao tiếp trong cuộc sống.
Ví dụ: Câu chuyện kể “Mẹ mãi mãi bên con” kể vể một cậu bé lúc nhỏ
mang bệnh tật không thể học được nhưng bằng tất cả sự yêu thương, giúp đỡ,
động viên của mẹ cùng với ý chí, quyết tâm của mình mà cậu đã vượt qua được
khó khăn và trở thành một người tài giỏi. Nhưng chính lúc mà cậu thành công
thì cũng là lúc mẹ cậu lâm bệnh nặng rồi qua đời. Cậu vô cùng thương tiếc và
đau buồn vì mình chưa đền đáp công ơn mẹ, chưa lo lắng chăm sóc cho mẹ một
ngày nào. Và với cậu hình ảnh người mẹ luôn mãi mãi ở bên cậu.
Qua câu chuyện giáo viên giáo dục học sinh về ý chí vươn lên, vượt khó
trong cuộc sống. Học sinh còn được học về sự hiếu thảo, cách cư xử với cha mẹ
ngay từ khi còn nhỏ.
3. Nội dung và hình thức của giải pháp:
a. Mục tiêu của giải pháp, biện pháp.
Nhằm giúp giáo viên tìm ra các phương pháp chủ nhiệm phù hợp với đặc
điểm tâm sinh lí của từng học sinh qua đó nâng cao hiệu quả giáo dục các em
trong giai đoạn hiện nay.
b. Nội dung và cách thức thực hiện giải pháp.
Biện pháp 1. Hồ sơ lớp chủ nhiệm.
Khi đã điều tra kỹ đối tượng học sinh, tôi bắt đầu xây dựng cho mình một
kế hoạch chủ nhiệm theo đặc điểm của lớp. Phải thể hiện tính toàn diện, cụ thể,
có trọng tâm, trọng điểm của từng thời gian và từng mặt nội dung giáo dục tuần
tự theo các bước sau:
Sau khi họp đầu năm học, căn cứ vào chỉ đạo của ngành và kế hoạch của
nhà trường, tôi đề ra kế hoạch năm cho lớp mình chủ nhiệm. Từ kế hoạch năm,
tôi thực hiện phân tích và đưa ra kế hoạch từng tháng. Ở mỗi tháng, theo thời
gian từng tuần, tôi vạch ra kế hoạch cụ thể từng tuần học. Trong kế hoạch chủ
nhiệm của từng tuần, tôi luôn đưa ra dự kiến thời gian thực hiện từng kế hoạch
cụ thể, biện pháp thực hiện và kết quả đạt được.
Lập sổ chủ nhiệm theo mẫu quy định (ghi chép đầy đủ các phần, các mục
theo yêu cầu). Đặc điểm của lớp chủ nhiệm (bao gồm các đặc điểm về truyền
thống, tập thể, những mặt khó khăn và thuận lợi cơ bản, hoàn cảnh, điều kiện
của số đông học sinh và gia đình học sinh, …). Công tác của các tổ chức đoàn
thể trong trường học. Đặc điểm tình hình của địa phương. Dự báo của tôi về khả
năng phát triển từng mặt của lớp.
Lập danh sách cán sự lớp, chia tổ, phân chỗ ngồi hợp lý cho từng em.
Lập sổ cho cán sự lớp mỗi mảng một cuốn có mẫu khác nhau để quản lý.
Theo dõi tình hình thực hiện nội quy, quy định của nhà trường, lớp học đề ra
hàng tuần. Ghi nhận xét tính điểm, cuối tuần tổng kết, xếp hạng giữa các tổ, cá
nhân với nhau.
6


Tóm lại: Kế hoạch chủ nhiệm càng khoa học thì khả năng thực hiện càng
cao và vì vậy mà bản kế hoạch này có khả năng quyết định to lớn đối với hiệu
quả công tác chủ nhiệm của tôi.
Biện pháp 2. Nề nếp lớp học.
a. Xây dựng đội ngũ cán bộ lớp.
b. Để xây dựng đội ngũ cán sự lớp tốt giáo viên chủ nhiệm phải làm được
những công việc sau:
Lựa chọn những phần tử tích cực phân công vào các chức danh trong đội
ngũ cán bộ lớp. Cụ thể: trong năm học 2019 – 2020 tôi cùng tập thể lớp thống
nhất bầu chọn đội ngũ ban cán sự lớp như sau:
+ Em Y thái Niê lớp trưởng + chi đội trưởng .
+ Em H SimMy Ayun lớp phó học tập .
+ Em H Nhã Niê lớp phó văn nghệ.
Quy định rõ chức năng, nhiệm vụ của từng vị trí trong đội ngũ cán bộ lớp.
* Nhiệm vụ của Lớp trưởng:
- Theo dõi, kiểm tra mọi hoạt động của lớp.
- Điều khiển các bạn xếp hàng vào lớp, xếp hàng chào cờ đầu tuần, xếp
hàng tập thể dục.
- Theo dõi bạn nào vắng học để báo cô giáo.
- Giữ trật tự lớp khi giáo viên chấm bài, khi giáo viên có việc phải ra khỏi
lớp và khi lớp dự lễ chào cờ đầu tuần.
- Nêu tên những bạn đã thực hiện tốt, ít vi phạm trong tuần để cô giáo
khen.
* Nhiệm vụ của Lớp phó
- Tổ chức lớp truy bài 15 phút đầu giờ; giúp đỡ các bạn học yếu học bài,
làm bài.
- Điều khiển các bạn trao đổi, thảo luận hoặc trả lời câu hỏi trong tiết học
khi giáo viên yêu cầu.
- Theo dõi việc học tập của lớp.
- Làm mọi việc của lớp trưởng khi lớp trưởng vắng mặt hoặc nghỉ học.
* Nhiệm vụ của Lớp phó văn thể:
- Phân công, theo dõi và kiểm tra các tổ trực nhật và lau bảng,vệ sinh lớp
học,...
- Điều khiển các giờ sinh hoạt của lớp mà có văn nghệ ( hát, chơi trò chơi)
- Phối hợp với lớp trưởng, lớp phó học tập giữ trật tự lớp.
7


- Thường xuyên kiểm tra, đánh giá hoạt động của cán sự lớp, giúp các em
khắc phục khó khăn, động viên kịp thời những cố gắng của các em.
Như vậy giáo viên chủ nhiệm chỉ đóng vai trò cố vấn cho các em, định
hướng cho các em hoạt động cùng các em tháo gỡ những vướng mắc khi thực
hiện công việc.
b. Xây dựng nề nếp.
Trong học tập không những chỉ chú trọng rèn luyện cho học sinh bằng
nhiều hình thức khác nhau mà còn chú trọng khâu nề nếp ngay từ đầu năm như
truy bài đầu giờ, trật tự nghe giảng trong giờ học, trong lớp tổ tự quản kiểm tra
bài tập về nhà của các bạn trong tổ ... Vì nề nếp tốt là cực kì quan trọng, nó góp
một phần lớn quyết định kết quả học tập của học sinh. Chính vì thế ngay từ đầu
năm học tôi phải quán triệt nề nếp bằng cách:
- Cho cả lớp học nội quy lớp học, và mọi quy định của giáo viên. Nội quy
của nhà trường.
VD: Bắt đầu có trống báo vào lớp là các em có mặt đầy đủ ở lớp để xếp
hàng, xong vào lớp ngồi ngay ngắn. Lớp trưởng, lớp phó, tổ trưởng kiểm tra
việc chuẩn bị bài ở nhà. Nếu giáo viên chưa có mặt ở lớp các em vẫn làm tốt.
- Giáo viên phải kiểm tra đột xuất một số bài của học sinh trong mỗi tổ.
Áp dụng biện pháp này đỡ tốn thời gian, không chiếm mất giờ dạy mà còn rèn
cho học sinh tính tự giác cao, đồng thời hạn chế việc mất trật tự của các em khi
chưa vào học.
- Tuyên dương, nhắc nhở kịp thời với những cá nhân tiến bộ và chưa tiến
bộ trong việc thực hiện nề nếp chung của lớp.
VD: Đi học đúng giờ, nghỉ học phải xin phép. Các em đi học mặc đồng
phục, vệ sinh cá nhân, để dép đúng nơi quy định, … Từ đó tạo cho các em sự tự
giác biết tự lo cho bản thân, tự giác học tập, thi đua để tạo thành tích giữa các
thành viên trong lớp và thi đua giữa các khối lớp trong toàn trường.
Tóm lại: Khi kết hợp chặt chẽ những hoạt động trên thì nề nếp lớp học sẽ
đi vào khuôn khổ và điều đó sẽ là một phần quan trọng giúp giáo viên tiến hành
các hoạt động dạy học dễ dàng hơn.
Biện pháp 3. Giáo dục đạo đức.
Giáo dục Đạo đức là một bộ phận rất quan trọng đặc biệt là ở tiểu học.
Nhằm hình thành những cơ sở ban đầu về mặt đạo đức cho học sinh, giúp các
em ứng xử đúng đắn qua các mối quan hệ đạo đức hằng ngày. Có thể nói, nhân
cách của học sinh Tiểu học thể hiện trước hết qua bộ mặt đạo đức. Trong quá
trình giáo dục, công tác lớn được đặt ra đó là giáo dục cho học sinh những phẩm
chất đạo đức theo mục tiêu giáo dục đã đề ra. Cụ thể, phải hình thành ở học sinh
niềm tin đạo đức, ý thức chấp hành luật pháp, động cơ học tập tích cực, thái độ
ứng xử đúng đắn, hệ thống xu hướng và tính cách tốt đẹp, … Kết quả giáo dục
cần đạt được là học sinh tự giác biến những yêu cầu của xã hội thành hành vi và
thói quen tương ứng. Vì vậy, việc rèn luyện hành vi và đặc biệt rèn thói quen
8


đạo đức cho học sinh là không thể thiếu trong công tác giáo dục học sinh mà
giáo viên chủ nhiệm chính là người chịu trách nhiệm trước nhà trường. Được tôi
thực hiện ở các bước sau: Giáo dục học sinh chấp hành nội quy trường, lớp.
Giáo dục học sinh hiểu ý nghĩa các ngày lễ lớn trong tháng, trong năm, có thái
độ lễ phép với thầy cô, người lớn, gần gũi yêu mến bạn bè qua các buổi sinh
hoạt tập thể, nghe kể chuyện (phối hợp với Đội, trong tiết dạy hàng ngày, hoạt
động ngoài giờ lên lớp). Xây dựng một tập thể đoàn kết, sẵn sàng giúp đỡ bạn bè
khi gặp khó khăn. VD: Tham gia phong trào “Lá lành đùm lá rách”. Phát huy
năng lực của cán bộ lớp, xây dựng lớp tự quản bằng cách giao việc cho các tổ
trưởng, lớp trưởng tự quản lý một số hoạt động của tổ mình dưới sự theo dõi của
giáo viên. Giáo dục học sinh biết thăm hỏi bạn bè trong lớp, trong trường khi
gặp khó khăn hoạn nạn .Vận động học sinh tham gia ủng hộ các hoạt động nhân
đạo từ thiện. Ngoài ra còn tham gia phong trào khác của nhà trường phát động.
Quan tâm giúp đỡ đến thành phần học sinh trong lớp đặc biệt là đối tượng học
sinh ít được gia đình quan tâm, học sinh có hoàn cảnh khó khăn. Giáo viên luôn
theo dõi, động viên kịp thời để các em phấn đấu vươn lên. Để việc giáo dục đạo
đức cho các em không phải là giáo viên chỉ hướng dẫn, yêu cầu các em thực
hiện mà chính bản thân giáo viên phải là tấm gương sáng cho các em noi theo.
Nắm bắt tâm lý học sinh Tiểu học rất thích khen, động viên, khích lệ học sinh
học tập. Giúp học sinh hiểu và vận dụng phù hợp các chuẩn mực đạo đức đã
học. Ngoài ra, giáo viên chủ nhiệm còn phải biết phối hợp chặt chẽ với đồng
nghiệp, tổ chuyên môn, với đoàn Đội, … để có kết quả giáo dục tốt hơn.
Biện pháp 4. Hoạt động ngoài giờ lên lớp:
Căn cứ vào kế hoạch chung của nhà trường và dựa vào tình hình cụ thể
của lớp, tôi xây dựng kế hoạch cụ thể như sau: Hàng tuần đề nghị TPT Đội biểu
dương những tấm gương người tốt việc tốt ở trường, ở từng lớp trong giờ chào
cờ đầu tuần,... Từ đó kích thích tinh thần phấn đấu vươn lên trong học tập, lao
động, rèn luyện đạo đức của các em. Giáo dục các em ý thức tiết kiệm để làm
những việc có ích. Động viên các em tham gia những phong trào đoàn thể,
phong trào do trường tổ chức để rèn luyện thêm sự nhanh nhẹn. Giáo dục học
sinh có ý thức xây dựng trường lớp “Xanh – Sạch – Đẹp” thường xuyên chăm
sóc cây xanh trong trường học. Giáo dục học sinh biết lao động tự phục vụ. Giáo
dục học sinh có ý thức rèn luyện thể dục thể thao như tập thể dục mỗi buổi sáng,
thể dục giữa giờ ở trường. Tham gia các hoạt động y tế để bảo vệ sức khỏe như
uống thuốc tẩy giun, phòng chống sốt xuất huyết, cúm, khám sức khỏe định kỳ.
Tôi luôn coi tổ chức Đội là lực lượng nòng cốt hỗ trợ trong việc giáo dục học
sinh. Phối hợp với Đoàn, Đội để giáo dục học sinh, khuyến khích các em tích
cực học tập và làm theo 5 điều Bác Hồ dạy. Tóm lại: Trong các tiết hoạt động
ngoài giờ lên lớp, tôi thường xuyên sắp xếp xen kẽ các hoạt động để tạo cho các
em sự tự tin hơn trong khi thực hiện. Kết quả là lớp tôi đã tham gia tất cả các
hoạt động mà các cấp lãnh đạo đã đưa ra và đạt được kết quả
Biện pháp 5. Mảng giáo dục phối hợp với các lực lượng khác:
a. Phối hợp với các giáo viên bộ môn
9


Tôi luôn lắng nghe và tiếp thu ý kiến của giáo viên bộ môn về tình hình
của lớp, đặc biệt là những học sinh có hoàn cảnh khó khăn, những em còn rụt rè
trong giờ học cũng như những học sinh chưa ngoan trong giờ học bộ môn.
VD: Với tiết Mỹ thuật, tôi thường xuyên trao đổi với giáo viên để nắm
được những em học tốt, đặc biệt những em học chưa tốt, tìm hiểu nguyên nhân
để phối hợp giúp học sinh đó tháo gỡ những vướng mắc, khó khăn.
b. Phối hợp với Ban giám hiệu của trường và các lực lượng giáo dục khác.
Tôi thường xuyên báo cáo, tâm sự cùng Ban giám hiệu về tình hình học
tập, kết quả học tập, nguyện vọng của học sinh để tìm ra những biện pháp thích
hợp giáo dục các em một cách tốt hơn.
Tôi luôn có sự phối hợp cùng với thư viện, bảo vệ, … để nắm được tinh
thần chấp hành kỷ luật, nội quy của nhà trường như thế nào? Đặc biệt với những
học sinh quá hiếu động.
c. Phối hợp với gia đình và xã hội.
Cùng với nhà trường, gia đình và xã hội cũng góp phần quan trọng trong
việc giáo dục cho học sinh. Là giáo viên chủ nhiệm, tôi thiết nghĩ, nếu việc liên
lạc với phụ huynh học sinh chỉ đơn thuần là để thông tin một chiều, về những sai
phạm của học sinh thì sẽ làm giảm sút hiệu quả giáo dục. Cho nên, ngay sau khi
khảo sát chất lượng đầu năm học tôi tiến hành họp phụ huynh học sinh. Trước
tiên tôi phải giúp cho phụ huynh học sinh hiểu được mục đích và yêu cầu giáo
dục cần đạt là gì? Từ đó tôi cùng phụ huynh trao đổi, bàn bạc để tìm ra biện
pháp, hình thức giáo dục cho học sinh.
Vì thế giáo viên cần có sự kết hợp chặt chẽ giữa gia đình, nhà trường,
cộng đồng. Thường xuyên thăm hỏi, tìm hiểu hoàn cảnh gia đình của từng học
sinh, có kế hoạch giúp đỡ những em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn. Kết hợp
với phụ huynh học sinh, thông qua các hoạt động ở nhà, ở trường để kiểm tra
đánh giá các em. Cũng bằng hình thức này, giáo viên trao đổi cùng phụ huynh
giúp đỡ những học sinh chưa tiếp cận được với hành vi đúng đắn, uốn nắn để
hướng các em theo kịp cùng bạn bè và có những mối quan hệ ứng xử trong cuộc
sống.
Từ những sự phối hợp trên đã cho tôi rất nhiều sự thành công trong quá
trình giáo dục nề nếp, học tập của học sinh.
Điều kiện thực hiện giải pháp, biện pháp.
Nhà giáo dục học K.Đ.Usinxki nói: “Muốn giáo dục cho con người mọi
mặt thì phải hiểu con người về mọi mặt”. Công tác chủ nhiệm đòi hỏi phải hiểu
học sinh một cách đầy đủ, cụ thể và toàn diện nhằm có thể lựa chọn những tác
động sư phạm phù hợp, có khả năng mang lại hiệu quả cao nhất. Vì vậy người
giáo viên chủ nhiệm phải thực sự tâm huyết với nghề, yêu thương học sinh với
cả tấm lòng. Ngoài ra, để thực hiện hiệu quả công tác chủ nhiệm phải có sự phối
hợp đồng bộ lâu dài giữa chính giáo viên chủ nhiệm với giáo viên bộ môn,
BGH, các ban ngành đoàn thể trong và ngoài nhà trường.
10


c. Mối quan hệ giữa các biện pháp, giải pháp
Mỗi biện pháp, giải pháp đều có những ưu và nhược điểm khác nhau nên
chúng ta cần linh hoạt để áp dụng đối với từng lớp từng học sinh .
d. Kết quả khảo nghiệm, giá trị khoa học của vấn đề nghiên cứu
Chất lượng giáo dục đến nay như sau:
CÁC MÔN HỌC VÀ CÁC HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC
TỔNG
SỐ

T. VIỆT

TOÁN Đ.ĐỨC

TNXH

23

23

23

23

23

23

23

23

HTT

9

10

13

13

13

13

13

13

HT

11

10

10

15

15

15

15

10

CHT

3

3

0

0

0

0

0

0

Â.N

MT

TC

TD

PHẨM CHẤT

NĂNG LỰC

Tụ phục
vụ tự
TỔNG quản
SỐ
23

Hợp
tác

Chăm
học,
Tự học, chăm
GQVĐ làm

23

23

23

23

23

23

TỐT

13

13

13

15

15

15

15

ĐẠT

6

6

6

6

6

6

6

CCG

4

4

4

2

2

2

2

Tự tin,
trách
nhiệm

Trung
thực kỷ
luật

Đoàn
kết yêu
thương

Từ kết quả trên, tôi nhận thấy một số em có hoàn cảnh khó khăn, chưa
ngoan, ở nhà chưa trang bị góc học tập cho các em, phần lớn các em đã quên
kiến thức cũ gây không ít khó khăn cho công tác chủ nhiệm lớp của giáo viên.
Bên cạnh đó, đầu năm học nề nếp lớp học chưa có.Các em chưa ý thức
được việc tự học, chưa ý thức được nội quy ra vào lớp, nội quy của nhà trường
đề ra. Để ổn định và đưa nề nếp các em đi vào quỹ đạo của mình là điều rất khó
và phải mất một thời gian dài mới ổn định được.
Tóm lại: Tôi luôn xác định tìm hiểu nắm vững đối tượng giáo dục. Đây
không phải là việc làm có thời hạn, trong một, hai ngày, cũng không phải là
công việc chỉ được tiến hành trong giai đoạn đầu mới nhận lớp mà phải là công
việc thường xuyên, liên tục trong suốt năm học sao cho có thể hiểu học sinh một
cách đầy đủ, toàn diện và sâu sắc nhất.

11


Ngoài những kết quả đã đạt được ở trên thì công tác giáo dục ngoài giờ
lên lớp và kết hợp với các lực lượng khác trong, ngoài nhà trường cũng từng
bước hoàn thiện và đã đạt được những kết quả đáng khích lệ. Cụ thể là:
- Các hoạt động diễn ra ngày 20/11 lớp đã dành được nhiều giải cao như:
+ Giải nhì nam, nữ : Nhảy bao bố
+ Giải ba nam : Đá bóng vào gôn
Vậy để làm tốt công tác chủ nhiệm, trước hết người giáo viên phải tự
hoàn thiện nhân cách của mình. Không ngừng học tập chuyên môn nghiệp vụ sư
phạm nhằm đổi mới công tác giáo dục - dạy học góp phần nâng cao công tác
giáo dục toàn diện ở nhà trường. Giáo viên chủ nhiệm phải là người tổ chức liên
kết toàn xã hội để xây dựng môi trường sư phạm lành mạnh thống nhất để thực
hiện các mục tiêu giáo dục.
III. PHẦN KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ
1. Kết luận.
Việc làm tốt công tác chủ nhiệm lớp ở cấp Tiểu học là vấn đề hết sức quan
trọng, đặc biệt là với lớp đầu cấp. Giáo dục cho thế hệ trẻ trở thành những con
người phát triển toàn diện về: đức, trí, thể, mỹ và các kỹ năng cơ bản để học sinh
tiếp tục học lên các lớp trên. Vì vậy người giáo viên phải có cách nhìn nhận
mới, truyền thụ kiến thức cho học sinh một cách chính xác, có hệ thống, có chọn
lọc, để thế hệ trẻ trở thành chủ nhân tương lai của đất nước. Là người giáo viên
Tiểu học ai cũng có một tấm lòng yêu nghề mến trẻ và mong học sinh của mình
trở thành con ngoan trò giỏi. Muốn đạt được đều đó cần phải áp dụng đề tài vào
thực tế giảng dạy. Để trở thành một người chủ nhiệm lớp có đầy đủ khả năng thì
mỗi giáo viên chủ nhiệm lớp cần được bồi dưỡng và tự bồi dưỡng về chuyên
môn nghiệp vụ, thường xuyên cập nhật thông tin để phục vụ cho giảng dạy và
điều cần thiết hơn cả là mỗi giáo viên chúng ta cần có lòng nhân ái lòng vị tha,
tấm lòng yêu trẻ, tâm huyết với nghề.
Thành công của người giáo viên chủ nhiệm lớp phần lớn đòi hỏi người
giáo viên phải hiểu được những động cơ thúc đẩy cùng những hành vi của các
em. Ngoài việc dạy học, người giáo viên chủ nhiệm lớp còn phải tìm hiểu xem
học sinh của mình có cuộc sống như thế nào, những hứng thú của các em ra sao,
đặc điểm cùng ý chí, kết hợp với những nét thuộc về tính cách của các em. Qua
đó mới có thể có những biện pháp sư phạm hợp lý nhất tác động vào các em thì
việc giáo dục mới có hiệu quả. Trong quá trình dạy học, giáo viên cần kịp thời
giúp đỡ học sinh khi các em gặp khó khăn, không hiểu điều gì đó (nhất là các
em yếu kém). Khen thưởng động viên kịp thời, nhằm phát huy tác dụng trực tiếp
đến tinh thần tự học của các em.
Cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa gia đình - nhà trường - xã hội trong
công tác giáo dục học sinh.
2. Kiến nghị:
12


a. Đối với Ban giám hiệu: Tạo mọi điều kiện về trang thiết bị và đồ dùng
học tập, các tài liệu tham khảo để giáo viên làm tốt hơn nữa về công tác chủ
nhiệm.
b. Đối với giáo viên bộ môn luôn luôn kết hợp chặt chẽ với giáo viên chủ
nhiệm để làm tốt công tác giáo dục học sinh.
c. Đối với PHHS: Cần quan tâm hơn nữa tới việc tự học, tự rèn và thái độ
đạo đức của các em ở nhà nhiều hơn nữa . Ngoài ra cần quan tâm sát sao tới việc
tự học của con em mình.
d. Đối với các ban ngành đoàn thể trong và ngoài nhà trường: Luôn tạo
điều kiện giúp đỡ vật chất cho những em học sinh nghèo, có hoàn cảnh khó khăn
để các em được đến trường như các bạn cùng trang lứa.
e. Đối với GVCN:
Để thực hiện tốt đề tài “Một số biện pháp nâng cao chất lượng giáo dục
thông qua công tác chủ nhiệm” người giáo viên cần phải:
- Có tâm huyết với nghề nghiệp, yêu nghề, mến trẻ, có năng lực, nhiệt tình
sẵn sàng tất cả vì học sinh thân yêu.
- Nắm vững tâm sinh lý học sinh
- Phối hợp chặt chẽ giữa gia đình, nhà trường, và xã hội.
- Lập kế hoạch rõ ràng, phù hợp với những đối tượng học sinh.
- Thường xuyên học tập để nâng cao trình độ, sử dụng phương pháp hợp
lý, sử dụng đồ dùng học dạy học thiết thực, tối ưu vào bài giảng.
- Thường xuyên giáo dục phẩm chất đạo đức cho học sinh, tổ chức các
hoạt động vui chơi, rèn luyện thân thể, bảo vệ sức khoẻ.
- Giáo viên cần chấp hành và tuân thủ mọi điều hành, giúp đỡ của BGH
nhà trường, ngành Giáo dục.
Trên đây một số biện pháp mà tôi đã rút ra được sau những năm làm công
tác chủ nhiệm lớp. Rất mong được sự góp ý của các cấp lãnh đạo và các anh chị
em đồng nghiệp.
Xin chân thành cảm ơn!
Cư pơng, ngày 10 tháng 12 năm 2019
Người viết
Đặng Nữ Hoài Vương

13


TÀI LIỆU THAM KHẢO.
- Điều lệ trường Tiểu học
- Quy chế hoạt động của trường
- Những điều giáo viên chủ nhiệm cần biết
- Sổ chủ nhiệm

14


MỤC LỤC
TT

NỘI DUNG

Phần I

SỐ
TRANG

Mở đầu

1

1

Lí do chọn đề tài

1

2

Mục tiêu nghiên cứu của đề tài

1

3

Đối tượng nghiên cứu

1

4

Giới hạn phạm vi nghiên cứu

1

5

Phương pháp nghiên cứu

1

Nội dung

1

1

Cơ sở lí luận

1-2

2

Thực trạng vấn đề nghiên cứu

2-5

3

Nội dung và hình thức của giải pháp

5

a

Mục tiêu của giải pháp

5

b

Nội dung và cách thực hiện giải pháp

5-9

c

Mối quan hệ giữa giải pháp, biện pháp

9

Phần II

d
Phần III

Kết quả khảo nghiệm, giá trị khoa học của vấn đề 9 - 11
nghiên cứu, phạm vi và hiệu quả ứng dụng
Kết luận, kiến nghị

11

1

Kết luận

11-12

2

Kiến nghị

12

15


NHẬN XÉT, ĐÁNH GIÁ CỦA BAN GIÁM HIỆU
.......................................................................................................................
.................................................................................................................................
.................................................................................................................................
.................................................................................................................................
.................................................................................................................................
.................................................................................................................................
.................................................................................................................................
.................................................................................................................................
.................................................................................................................................
.................................................................................................................................
.................................................................................................................................
.................................................................................................................................
.................................................................................................................................
.................................................................................................................................
.................................................................................................................................
.................................................................................................................................
.................................................................................................................................
.................................................................................................................................
..................................................................................
.......................................................................................................................
.................................................................................................................................
.................................................................................................................................
.................................................................................................................................
.................................................................................................................................
.................................................................................................................................
..................................
.......................................................................................................................
.................................................................................................................................
.................................................................................................................................
.................................................................................................................................
.................................................................................................................................
.................................................................................................................................
.................................................................................................................................
.................................................................................................................................
.................................................................................................................................
.................................................................................................................................
.................................................................................................................................
.................................................................................................................................
.................................................................................................................................
.................................................................................................................................
.................................................................................................................................
16


.................................................................................................................................
.................................................................................................................................
.............................................................................

17


18



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×