Tải bản đầy đủ

noi dung do an

MỞ ĐẦU

1. Đặt vấn đề
Sự bùng nổ các sản phẩm hữu cơ, thân thiện với môi
trường hiện nay không còn là một cơn sốt mà hứa hẹn sẽ
là ngành kinh doanh đầy tiềm năng. Điều đó mở ra rất
nhiều cơ hội lớn cho những doanh nhân quan tâm tới môi
trường và kinh doanh bền vững vì theo ước tính trong thế kỷ
này, ngành công nghiệp xanh đã, đang và sẽ phát triển
một cách nhanh chóng.
Từ những năm 1990, người tiêu dùng, đặc biệt là người
tiêu dùng từ các nước Châu Âu và Mỹ đã bắt đầu quan
tâm tới vấn đề môi trường khi đã ra quyết đònh mua một
sản phẩm nào đó, và họ bắt đầu đặt ra yêu cầu về các
sản phẩm mang tính “thân thiện với môi trường”. Chính nhu
cầu này đã thúc đẩy các nhà sản xuất chú tâm đến
việc tạo ra các sản phẩm “xanh” và dấy lên làn sóng
nhãn sinh thái trên toàn thế giới.
Ngày nay, người tiêu dùng ở Mỹ đã có thói quen đọc danh
mục thành phần dinh dưỡng khi mua sắm thực phẩm. Cũng
giống như các nhãn thực phẩm khác, nhãn sinh thái giúp

người mua sắm phân biệt các sản phẩm trên kệ siêu thò
và cho phép họ có những sự lựa chọn dựa trên thông tin
sản phẩm. Nhưng, nhãn sinh thái khác với danh mục thành
phần dinh dưỡng, mà trong đó là thông tin cho người tiêu
dùng về quá trình tạo ra sản phẩm và các vấn đề xã hội
∼ 1∼


ngoài các thuộc tính của sản phẩm. Và giống như con dấu
“Good housekeeping”, nhãn sinh thái hoạt động như một con
dấu kiểm duyệt. Nhãn sinh thái xác đònh rõ sản phẩm
được sản xuất theo quy trình cụ thể.
Hiện nay, do sự cạnh tranh toàn cầu ngày càng trở nên gay
gắt, các yếu tố môi trường đang có nguy cơ bò lợi dụng để
làm các rào cản kỹ thuật trong thương mại quốc tế. Vấn
đề nhãn môi trường đã được thảo luận tại cuộc họp của
Tổ chức thương mại thế giới (WTO) tại Singapore năm 1997 về
vấn đề thương mại và môi trường. Nhiều thò trường xuất
khẩu lớn của Việt Nam trong đó có Cộng đồng các quốc
gia Châu Âu (EU), trên thực tế đã yêu cầu có nhãn sinh
thái đối với hàng nhập khẩu.
Chính vì vậy, việc hiểu biết sớm về nhãn sinh thái là vô
cùng quan trọng đối với doanh nghiệp Việt Nam, bởi nó sẽ
giúp cho doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp xuất khẩu
nắm bắt được các thách thức về thương mại tại các thò
trường nhập khẩu để có chiến lược kinh doanh thích hợp và
nhất là khắc phục các khó khăn tiềm tàng xảy ra trong
tương lai có liên quan đến nhãn môi trường.
Theo các chuyên gia, cùng với việc xây dựng hệ thống
quản lý môi trường (ISO 14001), nên sử dụng hệ thống
nhãn môi trường để đạt được lợi ích tối đa cho công ty. Nắm
bắt được nhu cầu cấp thiết này, tỉnh Bình Dương đã, đang
và sẽ xúc tiến việc nghiên cứu đánh giá tiềm năng áp
dụng nhãn sinh thái cho một số ngành công nghiệp ưu tiên,
cơng nghiệp mũi nhọn, trong đó có ngành da giày.

∼ 2∼


Bình Dương thuộc miền Đông Nam Bộ, nằm trong vùng tứ


giác kinh tế trọng điểm phía Nam (Bình Dương – Đồng Nai – Bà
Ròa Vũng Tàu – Thành phố Hồ Chí Minh), là một trong những
tỉnh có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, phát triển công
nghiệp năng động của cả nước. Đẩy mạnh chuyển dòch cơ
cấu kinh tế, cơ cấu lao động theo hướng phát triển công
nghiệp, dòch vụ. Tiếp tục giữ vững tốc độ tăng trưởng kinh
tế cao hơn tốc độ tăng trưởng kinh tế của Vùng kinh tế
trọng điểm phía Nam, hoàn thành sự nghiệp công nghiệp
hóa và tạo sự phát triển cân đối, bền vững giai đoạn sau
năm 2015. Từ những u cầu thực tế trên, đề tài “Nghiên cứu đề xuất
tiêu chí dán nhãn sinh thái và đánh giá tiềm năng áp
dụng cho sản phẩm da giày của Công ty TNHH Hài Mỹ –
Nhà máy Sài Gòn, huyện Thuận An, tỉnh Bình Dương” được thực
hiện nhằm góp phần nâng cao uy tín, khẳng định thương hiệu cho cơng ty Hài Mỹ nói
riêng và tạo tiền đề cho việc áp dụng đại trà cho các doanh nghiệp khác có cùng loại
hàng của ngành da giày trên địa bàn tỉnh Bình Dương. Đồng thời, tạo sự thành cơng
trong sự nghiệp cơng nghiệp hóa, phát triển kinh tế bền vững của tỉnh Bình Dương nói
riêng và của cả nước nói chung.
2. Mục tiêu đề tài
Nghiên cứu các cơ sở khoa học và thực tiễn để xây dựng
tiêu chí và đánh giá tiềm năng áp dụng nhãn sinh thái cho
sản phẩm da giày nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho việc
đăng ký xin cấp nhãn sinh thái của các doanh nghiệp khi
nhà nước tiến hành đánh giá chứng nhận. Xa hơn nữa là
nhằm nâng cao uy tín và giá trò thương hiệu của các công
ty nói riêng và của tỉnh Bình Dương cũng như Việt Nam trên
thò trường thế giới, giúp tạo lợi thế cạnh tranh trên thò

∼ 3∼


trường trong và ngoài nước. Đồng thời góp phần vào công
cuộc bảo vệ môi trường nói chung.

3. Nội dung nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu đề ra, đề tài cần phải thực hiện
những nội dung sau:
-

Tổng hợp, tham khảo, kế thừa các nghiên cứu, tài liệu
có liên quan về công cụ nhãn sinh thái và đánh giá
vòng đời sản phẩm.

-

Đánh giá vòng đời sản phẩm cho sản phẩm đối
tượng.

-

Đề xuất các tiêu chí đánh giá

-

Khảo sát thực tế và thu thập dữ liệu về Công ty đối
tượng và đánh giá thử nghiệm theo tiêu chí đã đưa ra.

4. Phương pháp nghiên cứu


Phương pháp thu thập tài liệu: Thu thập các số
liệu, tài liệu có liên quan từ các sách, giáo trình,
nghiên cứu, báo cáo khoa học, trang thông tin điện tử…



Phương pháp quan sát: Khảo sát thực tế tại nhà
máy sản xuất để đánh giá vòng đời sản phẩm.



Phương pháp đánh giá vòng đời sản phẩm: Từ
việc khảo sát nhà máy sản xuất và tham khảo tài
liệu từ đó tiến hành việc đánh giá vòng đời sản
phẩm.



Phương pháp phân tích dòng vật chất: dùng phương
pháp này để trả lời các câu hỏi: ở đâu, tại sao và
bao nhiêu lượng nguyên nhiên vật liệu biến đổi thành
sản phẩm cuối cùng, chất thải và năng lượng tổn
thất.
∼ 4∼




Phương pháp phân tích tổng hợp: Sau khi tiến hành
việc khảo sát thực tế để thu thập số liệu cụ thể và
phân tích tổng hợp các số liệu, tài liệu đã thu thập
được từ đó đánh giá khả năng xây dựng chương trình
dán nhãn sinh thái cho sản phẩm.



Phương pháp trao đổi ý kiến với chuyên gia: Trao
đổi ý kiến với các chuyên gia có kinh nghiệm về
nhãn sinh thái, tham khảo ý kiến của giáo viên hướng
dẫn.

5. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Sản phẩm của ngành da giày được lựa chọn làm đối tượng
cho việc nghiên cứu đánh giá tiềm năng áp dụng nhãn
sinh thái bởi các lý do sau:
-

Đây là loại sản phẩm được khá nhiều người biết đến
trên thò trường.

-

Thương hiệu được gắn nhãn sinh thái sẽ có nhiều
thuận lợi trong quảng bá hình ảnh cho doanh nghiệp và
tăng tính cạnh tranh. Dễ dàng hòa nhập thò trường quốc
tế.
6. Tính khoa học, thực tiễn và tính mới của đề tài

Đối với các nước phát triển thì nhãn sinh thái không còn
quá xa lạ, nhưng nó là một vấn đề mới đối với các nước
đang phát triển và vẫn còn khá mới mẻ đối với Việt
Nam. Do đó, nghiên cứu đề xuất tiêu chí dán nhãn sinh thái
và đánh giá tiềm năng áp dụng nhãn sinh thái cho sản
phẩm da giày của công ty Hài Mỹ tại tỉnh Bình Dương là
nghiên cứu rất mới tạo tiền đề cho các đề tài nghiên cứu
cho các sản phẩm khác.
∼ 5∼


Ý nghóa thực tiễn

Đề tài nghiên cứu giúp sản phẩm của các công ty có
bước chuẩn bị tốt, đáo ứng phần nào các yêu cầu của tiêu chuẩn cấp
nhãn sinh thái của cơ quan chức năng nhà nước ban hành
và đánh giá. Các sản phẩm của các công ty dễ dàng đạt
được tiêu chuẩn để được cấp nhãn sinh thái cho sản phẩm
của mình. Đáp ứng được xu thế phát triển chung của thế
giới. Điều này giúp các doanh nghiệp tăng thò phần tại thò
trường nội đòa, cũng như có thể xâm nhập vào những thò
trường khó tính, họ đòi hỏi các sản phẩm hàng hóa không
chỉ đáp ứng các tiêu chuẩn về chất lượng mà còn phải
đáp ứng các tiêu chuẩn về môi trường, tạo tính cạnh tranh
với các sản phẩm cùng loại của nước ngoài.
Các doanh nghiệp tại Việt Nam có thể tham khảo mô hình
này để xây dựng chương trình nhãn sinh thái cho doanh
nghiệp của mình.
7. Kết cấu đồ án
Gồm 4 chương, phần mở đầu và phần kết luận – kiến nghò
Chương 1 – Tổng quan về nhãn sinh thái
Chương 2 – Hiện trạng phát triển da giày tại tỉnh Bình Dương –
Tổng quan công ty TNHH Hài Mỹ
Chương 3 – Đề xuất tiêu chí dán nhãn sinh thái cho sản
phẩm da giày
Chương 4 – Đánh giá tiềm năng dán nhãn sinh thái cho sản
phẩm giày thể thao công ty Hài Mỹ

∼ 6∼


CHƯƠNG I
TỔNG QUAN VỀ NHÃN SINH THÁI
1.1 Quá trình ra đời và phát triển của nhãn sinh

thái
Trong những năm gần đây, con người không khỏi lo lắng về
những tác động tiêu cực đối với môi trường trong quá trình
tạo ra sản phẩm như cạn kiệt các nguồn tài nguyên thiên
nhiên, gây ô nhiễm nguồn nước, đất, không khí,…và các
vấn đề tiềm ẩn mang tính toàn cầu như mưa axit, lỗ thủng
tầng ôzôn ngày càng lớn, sự biến đổi rất lớn của khí
hậu mà con người không thể lường trước được. Các nhân
tố này ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe, sức lao
động của con người. Đặc biệt là tại các thành phố lớn,
số người bò mắc bệnh hô hấp, tuần hoàn, ung thư, strees …
tăng lên nhanh chóng.
Trong bối cảnh đó, nhiều nhà tiêu dùng đã có những
hành động thiết thực để bảo vệ môi trường, làm giảm
các tác động xấu đến môi trường bằng cách đưa ra yêu
cầu và chỉ mua những sản phẩm mà họ cho rằng ít có hại
cho môi trường và không hại đến sức khỏe của họ. Điển
hình như, họ không mua các bình xòt CFC vì biết rằng đây là
loại khí chủ yếu phá hủy tầng ôzôn, họ chỉ mua hàng có
bao gói có thể tái chế được hoặc có thể phân hủy về
mặt sinh học, họ mua xăng không pha chì,... Do vậy, để đáp
ứng cho người tiêu dùng, các hãng sản xuất đã thay đổi
phương pháp sản xuất để làm giảm những tác động xấu
đến môi trường, thiết kế lại sản phẩm mang tính thân
thiện với môi trường hơn và sau đó, giới thiệu, quảng cáo
∼ 7∼


với người tiêu dùng về các đặc điểm môi trường của
sản phẩm.
Việc giới thiệu, quảng cáo sản phẩm tới người tiêu dùng
được thể hiện dưới hình thức nhãn hiệu trên sản phẩm
hoặc trên bao bì. Để đảm bảo uy tín, các nhà sản xuất
thường đưa sản phẩm của mình cho bên thứ ba cấp nhãn.
Các nước trên thế giới đã thành lập các chương trình cấp
nhãn, chuyên cấp các nhãn hiệu theo nhu cầu này của
nhà sản xuất, từ đó, chương trình nhãn sinh thái ra đời.
1.2

Khái niệm về nhãn sinh thái

Nhãn sinh thái là một khái niệm được hiểu theo nhiều cách
khác nhau, tuy nhiên khi nghiên cứu về những khái niệm
liên quan đến tính thân thiện với môi trường sinh thái của
hàng hoá và dòch vụ, khái niệm nhãn sinh thái có những
cách hiểu tương đối phổ biến như sau:
Theo mạng lưới nhãn sinh thái toàn cầu (GEN) thì khái niệm
nhãn sinh thái được hiểu như sau:“ Nhãn sinh thái là nhãn
chỉ ra tính ưu việt về mặt môi trường của một sản phẩm,
dòch vụ so với các sản phẩm, dòch vụ cùng loại dựa trên
các đánh giá vòng đời sản phẩm”.
Theo quan điểm của tổ chức thương mại thế giới (WTO) và
ngân hàng thế giới (WB): Nhãn sinh thái là một công cụ
chính sách do các tổ chức phát hành ra để truyền thông
và quảng bá tính ưu việt tương đối về tác động tới môi
trường của một sản phẩm so với các sản phẩm cùng
loại”.
Theo tổ chức tiêu chuẩn quốc tế (ISO): “Nhãn sinh thái là
sự khẳng đònh, biểu thò thuộc tính môi trường của sản

∼ 8∼


phẩm hoặc dòch vụ có thể dưới dạng một bảng công bố,
biểu tượng hoặc biểu đồ trên sản phẩm hoặc nhãn bao
gói, trong tài liệu về sản phẩm”.
Dù hiểu theo phương diện nào, nhãn sinh thái đều cho thấy
mức độ giảm thiểu tác động xấu của các sản phẩm đến
môi trường trong suốt vòng đời của sản phẩm, từ lúc khai
thác nguyên, nhiên liệu để làm đầu vào cho quá trình sản
xuất đến quá trình sản xuất, đóng gói, vận chuyển, sử
dụng và loại bỏ sản phẩm đó.
1.3 Mục đích của việc áp nhãn sinh thái
1.3.1

Mục đích chung

Nhằm đảm bảo quyền lợi chung của cộng đồng thế giới,
tạo nên một môi trường sinh thái trong sạch, lành mạnh, từ
đó tạo đà cho phát triển sản xuất, nâng cao chất lượng
cuộc sống của cộng đồng.
1.3.2

Mục đích cụ thể

Nhãn sinh thái cung cấp các thông tin rõ ràng về đặc tính
môi trường, khía cạnh môi trường cụ thể của các sản
phẩm hoặc dòch vụ. Người tiêu dùng có thể sử dụng các
thông tin trên trong việc mua sắm hàng hóa, dòch vụ. Bên
cạnh đó, từ những thông tin môi trường giới thiệu, cộng
đồng có thể thay đổi nâng cao kiến thức của mình về môi
trường, về sự biến đổi thành phần tính chất môi trường
dưới tác động của con người, đến hoạt động của hệ thống
kinh tế, từ đó có những hành động đúng đắn để bảo vệ
môi trường dựa trên sự hiểu biết.
Bất cứ nhà sản xuất hoặc cung cấp dòch vụ nào cũng
mong muốn nhãn sinh thái sẽ ảnh hưởng đến quyết đònh

∼ 9∼


mua sắm theo hướng có lợi cho sản phẩm hoặc dòch vụ của
mình. Nếu nhãn sinh thái thật sự có được những ảnh hưởng
đó, thò phần của những sản phẩm và dòch vụ này sẽ
tăng lên. Từ đó, nhà sản xuất hoặc cung cấp dòch vụ sẽ
cải thiện khía cạnh môi trường trong sản phẩm và dòch vụ
của mình, dẫn đến giảm những tác động xấu đến môi
trường.
1.4

Phân loại nhãn sinh thái

Dựa vào tiêu chuẩn quốc tế ISO, nhãn sinh thái được chia
làm ba loại, gọi tắt là loại I, loại II, loại III với các yêu cầu
cụ thể được nêu trong tiêu chuẩn ISO 14024 :1999, ISO
14021:1999, ISO 14025:2000.
1.4.1

Chương trình nhãn sinh thái loại I – ISO

14024
Chương trình nhãn sinh thái loại I, là chương trình tự nguyện, do
một bên thứ ba cấp giấy chứng nhận nhãn sinh thái trên
sản phẩm biểu thò sự thân thiện với môi trường dựa trên
các nghiên cứu vòng đời sản phẩm. Bảng 1.1 sau đây cung
cấp thông tin về chương trình nhãn sinh thái loại I đang được
áp dụng tại một số nước trên thế giới.

∼ 10 ∼


Bảng 1.1: Một số nước trên thế giới áp dụng chương trình
nhãn sinh thái loại I

TT

Tên nước

Tên nhãn

Năm ban
hành
1977

1

Đức

Thiên thần xanh

2

Canada

Sự lựa chọn của môi

1988

3

Nhật bản

trường
Nhãn sinh thái

1989

4

Các

5

Bắc Âu
Mỹ

Con dấu xanh

1989

6

Thụy Điển

Sự lựa chọn tốt cho

1990

7

Ấn Độ

môi trường
Nhãn sinh thái

1991

8

Hàn Quốc

Nhãn sinh thái

1992

9

Liên

nước Thiên Nga trắng

minh Bông hoa châu Âu

1989

1993

châu Âu
Nguồn: www.ecolabelindex.com
1.4.2 Chương trình nhãn sinh thái loại II – ISO 14021
Nhãn môi trường kiểu II là giải pháp môi trường do các
nhà sản xuất, nhập khẩu, hoặc bất cứ ai khác được lợi
nhờ các công bố môi trường không có sự tham gia của cơ
quan chứng nhận. Đây là một sự tự công bố về môi
trường mang tính doanh nghiệp.
1.4.3

Chương trình nhãn sinh thái loại III – ISO

14025
Chương trình nhãn sinh thái kiểu III là chương trình tự nguyện
do một ngành công nghiệp hoặc một tổ chức độc lập xây
dựng nên, trong đó có việc đặt ra những yêu cầu tối
∼ 11 ∼


thiểu, lựa chọn các loại thông số, xác đònh sự liên quan của
các bên thứ ba và hình thức thông tin bên ngoài.
Điểm chung của cả ba loại này là đều phải tuân thủ



các nguyên tắc được nêu trong tiêu chuẩn ISO 14020:1998
(TCVN ISO14020:2000), trong đó điểm mấu chốt là các thông
tin đưa ra phải khoa học, chính xác và dựa trên kết quả của
quá trình đánh giá vòng đời sản phẩm, các thủ tục phải
không cản trở cho hoạt động thương mại quốc tế.
Trong cả ba kiểu nhãn sinh thái như đã nêu trên, thì nhãn
môi trường kiểu I có ưu thế hơn cả, do có khả năng phổ
biến rộng rãi, minh bạch và độ tin cậy cao, dễ tạo ra thúc
đẩy việc bảo vệ môi trường dựa trên thò trường lớn. Trong
thực tế, nhãn kiểu I ngày càng chiếm ưu thế và được rất
nhiều quốc gia trên thế giới sử dụng.

Phương pháp đánh giá tác động chu trình

1.5

sống của sản phẩm
1.5.1

Khái quát đánh giá chu trình sống của sản

phẩm (LCA) – các tiêu chuẩn thuộc nhóm TCVN
ISO14040
LCA là kỹ thuật để đánh giá các khía cạnh môi trường và
các tác động tiềm tàng kèm theo với một số sản phẩm,
bằng
- việc thu thập số liệu kiểm kê đầu vào và đầu ra tương
ứng của một hệ thống sản phẩm
- việc diễn giải kết quả của sự phân tích kiểm kê và các
giai đoạn đánh giá tác động trong mối quan hệ của đối
tượng nghiên cứu.

∼ 12 ∼


LCA gồm có bốn giai đoạn: xác đònh mục tiêu và phạm vi,
phân tích kiểm kê chu trình sống, đánh giá tác động của
chu trình sống và diễn giải kết quả chu trình sống, xem hình
bên dưới:

∼ 13 ∼


Khuôn khổ đánh giá chu
trình sống (ISO 14040)
Xác đònh
mục tiêu và
phạm vi
(ISO 14041)

Phân tích
kiểm kê
(ISO 14041)

Diễn
giải
(ISO
14043)

Đánh giá
tác động
(ISO 14042)

Ứng dụng
trực tiếp:
- thiết kế và
cải tiến sản
phẩm
- Xây dựng
kế hoạch
chiến lược
- Xây dựng
chính sách
cộng đồng
- Tiếp thò
- Các ứng
dụng khác

Hình 1.1: Các giai đoạn đánh giá chu trình sống
Một số thuật ngữ và đònh nghóa
 Dòng cơ bản: Vật liệu hoặc năng lượng đưa vào hệ
thống nghiên cứu, đã được khai thác từ môi trường nhưng
trước đó chưa bò con người làm biến đổi.
Vật liệu hoặc năng lượng đưa ra khỏi hệ thống nghiên cứu,
được thải vào môi trường và sau đó không bò con người
làm biến đổi.
 Đơn vò chức năng: đặc tính đònh lượng của hệ thống sản
phẩm được sử dụng như là một đơn vò chuẩn nghiên cứu
đánh giá chu trình sống.
 Chu trình sống: các giai đoạn phối hợp và liên quan với
nhau của hệ thống sản phẩm, từ việc thu thập các
nguyên liệu thô hoặc các tài nguyên thiên nhiên đến
việc thải bỏ cuối cùng.

∼ 14 ∼


 Đánh giá chu trình sống: Thu thập và đánh giá đầu vào,
đầu ra và các tác động môi trường tiềm ẩn của hệ
thống sản phẩm trong suốt chu trình sống của nó.
 Đánh giá tác động chu trình sống: Giai đoạn đánh giá chu
trình sống để hiểu và đánh giá qui mô, tầm quan trọng
của các tác động môi trường tiềm ẩn của hệ thống
sản phẩm.
 Đầu vào: Nguyên liệu hoặc năng lượng đưa vào một quá
trình đơn vò.
 Đầu ra: Nguyên liệu hoặc năng ra khỏi một quá trình đơn
vò.
 Diễn giải chu trình sống: Giai đoạn đánh giá chu trình sống
trong đó các phát hiện của các phân tích kiểm kê hoặc
các đánh giá tác động hoặc cả hai, được kết hợp một
cách nhất quán với mục tiêu và phạm vi đã được xác
đònh để đưa ra các kết luận và kiến nghò.
 Phân tích kiểm kê chu trình sống: Giai đoạn đánh giá chu
trình sống bao gồm việc thu thập và lượng hóa các đầu
vào và đầu ra đối với hệ thống sản phẩm được đònh
trước trong suốt chu trình sống của nó.
 Hệ thống sản phẩm: Một tập hợp của các quá trình đơn
vò được kết nối với nhau về nguyên vật liệu và năng
lượng để thực hiện một hoặc nhiều chức năng xác đònh
 Nguyên liệu thô: Nguyên liệu chính hoặc nguyên liệu phụ
sử dụng để sản xuất ra sản phẩm.
 Quá trình đơn vò: Phần nhỏ nhất của hệ thống sản
phẩm mà từ đó các dữ liệu được thu thập khi thực hiện
đánh giá chu trình sống.
∼ 15 ∼


 Chất thải: Bất cứ đầu ra nào bò thải bỏ từ hệ thống
sản phẩm.
1.5.2

Các phương pháp đánh giá tác động chu

trình sống
Trong đánh giá tác động chu trình sống có hai phương pháp
tối quan trọng: phương pháp đònh hướng theo vấn đề (điểm
trung gian) và phương pháp đònh hướng theo tổn hại (điểm
kết thúc).
a. Phương pháp đònh hướng theo vấn đề
Trong phương pháp này thì các dòng vật chất được phân loại
theo các vấn đề môi trường mà chúng có thể gây nên.
Các vấn đề bao trùm lên hầu hết các vấn đề nghiên
cứu đánh giá chu trình sống sản phẩm gồm:
- Hiệu ứng nhà kính (thay đổi khí hậu)
- Suy giảm tầng ozon
- Axit hóa
- Phú dưỡng hóa
- Tạo sương mù
- Suy giảm tài nguyên thiên nhiên
- Gây độc hệ thủy sinh
- Gây độc cho con người
Phương pháp đònh hướng theo vấn đề giúp làm đơn giản
hóa tính phức tạp của hàng trăm dòng vật liệu đi vào một
số giới hạn khu vực môi trường đang nghiên cứu.
b. Phương pháp đònh hướng theo tổn hại
Phương pháp này cũng bắt đầu từ việc phân chia các
dòng vật liệu của hệ thống thành các chủ đề môi
trường khác nhau nhưng tạo mô hình tổn hại của từng chủ

∼ 16 ∼


đề môi trường đến sức khỏe, hệ sinh thái và nguồn tài
nguyên thiên nhiên. Thí dụ, axit hóa thường liên quan đến
mưa có thể làm tổn hại đến hệ sinh thái, nhưng cụng gây
hư hại nhà cửa, cao ốc, tượng đài. Thực chất của phương
pháp này nhằm trả lời câu hỏi: Vì sao chùng ta cần phải lo
lắng đến sự thay đổi khí hậu hoặc suy giảm tầng ozon.
EcoInsicator 99 là một ví dụ về phương pháp đánh giá tác
động theo đònh hướng tổn hại. Còn tồn tại nhiều khó khăn
về vấn đề khoa học đối với phương pháp đònh hướng theo
tổn hại và do đó đối với phương pháp này việc đònh giá
cũng cần phải được thực hiện cẩn thận.
1.6

Các nguyên tắc cấp nhãn sinh thái

Khi tiến hành một chương trình dán nhãn môi trường cho một
sản phẩm, cần phải đảm bảo theo các nguyên tắc chung
là:


Chương trình cấp nhãn sinh thái phải được xây dựng và
quản lý theo nguyên tắc tự nguyện.



Công bố môi trường và nhãn môi trường phải chính
xác có thể kiểm tra xác nhận được, thích hợp không
hiểu lầm.



Nhãn sinh thái không được gây hiểu nhầm hoặc khó
hiểu. Do đó, nhãn sinh thái phải đơn giản, dễ hiểu,
những điểm về nội dung khi được công bố phải rõ
ràng, biểu tượng, biểu đồ không được phức tạp.



Thủ tục và các yêu cầu của nhãn môi trường và
công bố môi trường không được soạn thảo, chấp nhận
hoặc áp dụng theo cách thức mà có thể tạo ra trở
ngại không cần thiết trong thương mại quốc tế.
∼ 17 ∼




Nhãn môi trường và công bố môi trường phải dựa
trên phương pháp luận khoa học hoàn chỉnh để chứng
minh cho các công bố và tạo ra các kết quả chính xác,
có thể tái lặp.



Thông tin liên quan đến thủ tục, phương pháp luận
và chứng cứ dùng để chứng minh các nhãn môi
trường và công bố môi trường phải sẵn có và được
cung cấp theo yêu cầu của các bên hữu quan.



Khi xây dựng các công bố môi trường và nhãn môi
trường cần phải tính đến tất cả các khía cạnh có liên
quan của chu trình sống của sản phẩm.



Nhãn môi trường và công bố môi trường không
được kìm hãm việc tiến hành đổi mới mà sự đổi mới
đó duy trì hoặc có tiềm năng để cải thiện hiệu quả
của môi trường.



Cần phải giới hạn ở mức cần thiết các yêu cầu
mang tính chất hành chính hoặc các nhu cầu thông tin
liên quan đến môi trường và công bố môi trường để
thiết lập sự phù hợp với chuẩn cứ được áp dụng và
các tiêu chuẩn của công bố hoặc nhãn môi trường
đó.



Quá trình xây dựng công bố môi trường và nhãn
môi trường cần phải mở rộng, có sự tham gia tư vấn
rộng rãi với các bên hữu quan cần phải cố gắng để
đạt được một thoả thuận trong quá trình đó.



Bên đưa ra nhãn môi trường hoặc công bố môi
trường phải sẵn có cho khách hàng về khía cạnh môi

∼ 18 ∼


trường của sản phẩm và dòch vụ tương ứng với nhãn
môi trường hoặc công bố môi trường đó.
Bảng 1.2: Nhãn sinh thái của một số nước trên thế
St

Logo

Quốc

t

nhãn

gia

giới
Tên
S
nhãn
Thiên

1

Đức

thần
xanh

Logo

Quốc

Tên

nhãn

gia

nhãn

1

Đài

Nhãn

3

Loan

xanh

tt

Sự lựa
2

Úc

chọn

Nhãn

của môi

xanh

trường

3

Brazil

4

Mỹ

5

Croatia

1

Hong

4

Kong
Nhãn

Nhãn

sinh

sinh thái

thái

Nhãn

Con dấu

1

Nhật

xanh

5

Bản

Nhãn

1

Trung

Nhãn

môi

6

Quốc

môi

trường
INCLUDEPI
∼ 19 ∼

sinh
thái

trường


CTURE
"../../khac
h/Croatia_
files/croati
a.gif" \*
MERGEFO
RMAT
Nhãn
sinh thái
Sản
6

CH

phẩm

1

Hàn

Séc

thân

7

Quốc

thiện

Nhãn
sinh
thái

với môi
trường
Liên
7

Nhãn

1

Ấn

Châu

hoa

8

Độ

1

Philippi

9

ne

2

Singap

Nhãn

0

ore

xanh

Âu

8

9

Nhãn

Minh

5 nước

Thiên

Bắc

nga

Âu

trắng

New

Sự lựa

Zealan

chọn

d

của môi
trường

∼ 20 ∼

sinh
thái
Sự lựa
chọn
xanh


Nhãn
10

Pháp

môi
trường

Nhãn
11

Ukraine

môi
trường

Thụy
12

Điển

2

Thái

Nhãn

1

Lan

xanh

2
2

Sự lựa
Nga

chọn
xanh

Sự lựa
chọn tốt

2

cho môi

3

Israel

Nhãn
xanh

trường

24

Việt

Nhãn

Nam

xanh

Nguồn: www.ecolabelindex.com

1.7

Tình hình áp dụng nhãn sinh thái
1.7.1

Trên thế giới

Vào những năm 90, những người tiêu dùng trên thế giới,
đặc biệt người tiêu dùng ở nước Mỹ và các nước châu
Âu ngày càng quan tâm đến vấn đề bảo vệ môi trường
và họ bắt đầu có nhu cầu về các sản phẩm xanh, các
sản phẩm được quảng bá là thân thiện với môi trường.
Điều này làm cho các nhà sản xuất quan tâm hơn đến các
∼ 21 ∼


sản phẩm xanh. Từ đó, nhãn sinh thái phát triển rộng
khắp thế giới.

Hình 1.2: Các quốc gia trên thế giới có nhãn sinh thái
(Nguồn www.ecolabelindex.com)


Tại Mỹ

Năm 1999, trên 52% người tiêu dùng ở nước Mỹ mua các
sản phẩm được quảng bá là “an toàn môi trường”. Con số
này khá ấn tượng, tuy nhiên, số lượng người mua vẫn thấp
hơn số lượng người quan tâm về sản phẩm thân thiện môi
trường, bởi vì người tiêu dùng vẫn hoài nghi, không tin
tưởng vào một số nhãn tự công bố và không được kiểm
soát.
Hiện nay, ở Mỹ có khoảng 69 nhãn sinh thái cấp cho hàng
hóa và dòch vụ gắn với bảo vệ môi trường, trong đó chỉ
có chương trình nhãn sinh thái với tên gọi “ Con dấu xanh”
thực hiện việc cấp nhãn cho nhiều sản phẩm và dòch vụ
khác nhau.
∼ 22 ∼


“Con dấu xanh” là chương trình của một tổ chức độc lập và
phi lợi nhuận, với mục tiêu làm cho môi trường trong lành
và sạch hơn thông qua việc xác đònh và thúc đẩy những
sản phẩm và dòch vụ ít thải ra chất thải độc hại, tiết kiệm
tài nguyên và bảo vệ môi trường.


Tại châu Âu

Thò trường châu Âu có tiềm năng rất lớn về sản phẩm
xanh, vì họ rất quan tâm đến việc quảng bá cũng như cung
cấp các thông tin, kiến thức về môi trường cho người dân
của họ nói chung và người tiêu dùng nói riêng. Theo kết
quả nghiên cứu có khoảng 40% người tiêu dùng tại châu
Âu trung thành với sản phẩm xanh và 75% người tiêu dùng
sẵn sàng trả thêm chi phí cho sản phẩm xanh. Cũng giống
như nước Mỹ, người tiêu dùng châu Âu cũng không tin
tưởng nhiều về nhãn sinh thái hay những nhãn được công
bố là thân thiện với môi trường, vì sản phẩm có nhãn
sinh thái tràn ngập trên thò trường mà người tiêu dùng thì
không biết nhãn nào thật sự là nhãn thân thiện với môi
trường, không gây tác động xấu đến môi trường.
Tháng 12 năm 1991, hội đồng bộ trưởng môi trường của EU
đã thông qua chương trình cấp nhãn sinh thái EU theo quyết
đònh số 880/92(EEC) của hội đồng pháp luật để thúc đẩy
việc thiết kế, sản xuất, bán và sử dụng sản phẩm xanh,
là những sản phẩm có những tác động đến môi trường
được giảm nhẹ trong toàn bộ vòng đời sản phẩm và cung
cấp cho người tiêu dùng thông tin về những sản phẩm
xanh này. Chương trình thu hút sự tham gia của 18 nước, trong
đó có 15 nước là thành viên của EU bao gồm: Bỉ, Đức,

∼ 23 ∼


Pháp, Ý, Luxembourg, Hà Lan, Đan Mạch, Ireland, Vương quốc
Anh, Hy Lạp, Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Thụy Điển, o, Phần
Lan và 3 nước Nauy, Iceland, Liechtenstein. Trong đó Đức là
nước đầu tiên trên thế giới khởi xướng việc dãn nhãn
sinh thái vào năm 1977.
Nhãn sinh thái châu Âu (hay còn gọi là nhãn sinh thái EU
hoặc Nhãn Hoa) là một nhãn hiệu sinh thái chính thức của
châu Âu, cấp cho những hàng hóa và dòch vụ, không bao
gồm thực phẩm, đồ uống và dược phẩm. Các sản phẩm
có gắn biểu tượng hình bông hoa là dấu hiệu nhận biết
sản phẩm mà những tác động đến môi trường được giảm
hơn so với các sản phẩm cùng loại do những sản phẩm
này đã đáp ứng được tập hợp các tiêu chí môi trường
được công bố bởi các quốc gia thành viên EU.
Càng ngày, mọi người càng quan tâm đến việc tiêu thụ
các sản phẩm và bao bì thân thiện với môi trường, nhưng
việc xác đònh các sản phẩm nào thật sự mang bản chất
“xanh” thì hoàn toàn không dễ dàng chút nào. Nhãn môi
trường với mục đích đem lại thông tin tốt hơn đến người tiêu
dùng, các doanh nghiệp và các xí nghiệp vừa và nhỏ ở
các quốc gia đang phát triển, chương trình dùng sản phẩm
xanh nhằm thu hút các ngành công nghiệp khác áp dụng
vào chương trình này.
Ở Crotia, cộng hoà Czech, Estonia, Hungary, Latvia, Romaria đã
áp dụng chương trình cấp nhãn sinh thái cấp nhãn môi
trường nhưng kết quả không khả quan lắm.Trong khi đó, các
quốc gia thuộc ECC lại nhanh chóng đạt được tốc độ phát
triển của chương trình. Cộng hoà Czech là một nước được
công nhận thực hiện việc áp dụng chương trình cấp nhãn
∼ 24 ∼


môi trường đạt tiêu chuẩn nhất. Có 19 loại hàng hoá có
hơn 50 nhãn sinh thái được cấp vào năm 1997 đem lại tổng
số nhãn được cấp cho cộng hòa Czech là 220 nhãn.


Tại Nhật

Gần đây, người tiêu dùng ở nước Nhật nhận thức rất cao
về sự phát thải các chất thải vào môi trường, vì thế nhu
cầu về sản phẩm có nhãn sinh thái có xu hướng tăng cao.
Theo thống kê, có khoảng 60% người tiêu dùng có ý thức
về việc bảo vệ môi trường và nhiều công ty đã sử dụng
sản phẩm xanh hay nhãn sinh thái để tạo hình ảnh tốt cho
công ty của mình.


Tại Canada

Năm 1988, Canada bắt đầu một chương trình gọi là “Biểu
trưng sinh thái”. Chính phủ nước này đã lựa chọn các loại
sản phẩm quan trọng dành cho việc đánh giá môi trường.
Tiêu chuẩn cho các nhóm sản phẩm này được xây dựng
bởi ngành công nghiệp, các cơ quan của chính phủ và các
tổ chức của môi trường. Tiêu chuẩn được xây dựng đảm
bảo cho các sản phẩm giảm được sự ảnh hưởng xấu đến
môi trường ở mức tối thiểu. Để có được “Biểu trưng sinh
thái”, các sản phẩm phải đáp ứng các tiêu chuẩn mà
chương trình đã đề ra.


Tại Úc

Hiệp hội cấp nhãn môi trường Úc đã xây dựng chương
trình chứng nhận môi trường bao gồm cấp nhãn môi trường
và dòch vụ đònh giá sản phẩm với xu hướng tăng lợi nhuận
thò trường cho các loại hàng hoá thân thiện với môi
trường. Khẩu hiệu của chương trình: “Khuyến khích nhu cầu
∼ 25 ∼


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×