Tải bản đầy đủ

Tìm hiểu khả năng nhận biết và giải nghĩa ý nghĩa từ ngữ của học sinh lớp 4, 5 (2014)

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC
*********
NGUYỄN THỊ NHUNG

TÌM HIỂU KHẢ NĂNG NHẬN BIẾT
VÀ GIẢI NGHĨA Ý NGHĨA TỪ NGỮ
CỦA HỌC SINH LỚP 4, 5

TÓM TẮT KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI
HỌC
Chuyên ngành: Tiếng Việt
Người hướng dẫn khoa học
Th.S LÊ BÁ MIÊN

HÀ NỘI - 2014


LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành cảm ơn trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2, khoa
Giáo dục Tiểu học đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học tập và

nghiên cứu tại trường.
Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết sâu sắc tới thầy giáo - Thạc sĩ Lê Bá
Miên, người đã hướng dẫn tận tình và chỉ bảo giúp đỡ tôi hoàn thành khóa
luận này.
Đồng thời tôi xin gửi lời cảm ơn tới các thầy cô giáo, các em học sinh
trường Tiểu học Xuân Hòa (phường Xuân Hòa - TX. Phúc Yên - Vĩnh Phúc)
đã tạo điều kiện cho tôi khảo sát thực tế.
Bước đầu nghiên cứu khoa học, hơn nữa thời gian nghiên cứu còn hạn
chế tôi khó tránh khỏi những thiếu sót, tôi rất mong nhận được sự đóng góp
chỉ bảo của các thầy cô giáo và các bạn để bài khóa luận của tôi được hoàn
thiện hơn.
Hà Nội, tháng 5 năm 2014
Sinh viên

Nguyễn Thị Nhung


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Những kết
quả và số liệu trong khóa luận là hoàn toàn trung thực. Đề tài chưa được công
bố trong bất cứ công trình khoa học nào khác.
Hà Nội tháng 5 năm 2014
Sinh viên
Nguyễn Thị Nhung


DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Tiếng Việt
Trang

: TV
: tr

Kết quả

: KQ

Lý thuyết

: LT



Thực hành

: TH

Tỉ lệ

: TL


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1
1. Lý do chọn đề tài........................................................................................... 1
2. Lịch sử vấn đề ............................................................................................... 3
3. Mục đích và yêu cầu ..................................................................................... 4
4. Đối tượng nghiên cứu.................................................................................... 5
5. Phạm vi nghiên cứu....................................................................................... 5
6. Phương pháp nghiên cứu............................................................................... 5
7. Ý nghĩa khoa hoc và thực tiễn của đề tài ...................................................... 6
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN....................................... 7
1.1. Cơ sở lí luận ............................................................................................... 7
1.1.1. Nghĩa của từ .................................................................................... 7
1.1.2. Cấu tạo từ ...................................................................................... 11
1.1.3. Từ loại của từ .............................................................................. 13
1.2. Cơ sở thực tiễn ......................................................................................... 14
1.2.1. Chương trình, sách giáo khoa Tiểu học lớp 4, 5........................... 14
1.2.2. Một số biện pháp giải nghĩa từ ở Tiểu học ................................... 16
CHƯƠNG 2: TÌM HIỂU KHẢ NĂNG NHẬN BIẾT VÀ GIẢI NGHĨA
TỪ NGỮ CỦA HỌC SINH LỚP 4, 5.......................................................... 19
2.1. Dựa vào kiểu cấu tạo để hiểu nghĩa của từ .............................................. 19
2.1.1. Khả năng nhận biết và giải nghĩa từ đơn ...................................... 19
2.1.2. Khả năng nhận biết và giải nghĩa từ ghép ................................... 21
2.1.3. Khả năng nhận biết và giải nghĩa từ láy: ...................................... 23
2.2 Dựa vào cấu trúc nghĩa của từ để giải nghĩa............................................. 26
2.2.1 Hiểu biết lý thuyết về nghĩa của từ ................................................ 26
2.2.2 Dựa vào các nét nghĩa để hiểu nghĩa của từ ................................. 33
2.3. Dựa vào từ loại của từ để hiểu nghĩa của từ ............................................ 37


2.3.1. Khả năng hiểu biết và giải nghĩa các danh từ của học sinh lớp 4, 5
......37
2.3.2. Khả nănghiểu biết và giải nghĩa tính từ của học sinh lớp 4, 5...... 40
2.3.3. Khả năng hiểu biết và giải nghĩa động từ của học sinh lớp 4, 5... 42
2.4. Một số đề xuất dạy giải nghĩa từ cho học sinh Tiểu học ......................... 44
KẾT LUẬN .................................................................................................... 46
PHỤ LỤC ....................................................................................................... 48
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................ 54


MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong hệ thống giáo dục quốc dân, giáo dục Tiểu học giữ vai trò nền
tảng với mục đích và nhiệm vụ là trang bị những cơ sở ban đầu quan trọng
nhất của người công dân, người lao động tương lai. Đó là những con người
phát triển toàn diện, có trí thức, có tay nghề, có năng lực thực hành tự chủ,
sáng tạo.
Đất nước Việt Nam đang trên đường đổi mới và phát triển. Để tiến kịp
với thời đại và phục vụ sự nghiệp công nghệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Ngành giáo dục và Đào tạo nói chung, trường Tiểu học nói riêng phải đặt ra
những mục tiêu, yêu cầu và nhiệm vụ phù hợp góp phần nâng cao dân trí, đào
tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài đồng thời cũng chuẩn bị nguồn lực đáp ứng
yêu cầu phát triển của đất nước trong thời đại mới.
Bậc Tiểu học là bậc nền tảng trong hệ thống quốc dân. Vì vậy các môn
học ở bậc Tiểu học ngòai việc cung cấp tri thức thì cần chú trọng hình thành
cho học sinh các kĩ năng học tập. Cùng với các môn học Toán, Tự nhiên - Xã
hội…, môn Tiếng Việt chú trọng hình thành, rèn luyện cho học sinh các kĩ
năng sử dụng tiếng việt, phục vụ cho hoạt động học tập và giao tiếp trong
cuộc sống hàng ngày.
Từ vựng - ngữ nghĩa là một bình diện của ngôn ngữ bên cạnh những
bình diện khác như ngữ pháp, ngữ âm, phong cách,…Dạy từ ngữ là một hoạt
động không thể thiếu trong chương trình Tiếng Việt ở phổ thông nói chung và
chương trình Tiếng Việt bậc tiểu học nói riêng. Mục tiêu đầu tiên của môn
Tiếng Việt trong chương trình mới (sau năm 2000) là: “Hình thành và phát
triển ở học sinh các kĩ năng sử dụng tiếng việt (nghe, nói, đọc, viết) để học
tập và giao tiếp trong môi trường hoạt động lứa tuổi”. Điều này có nghĩa là

1


chương trình tiếng việt Tiểu học giúp các em mở rộng và phát triển vốn từ,
làm cho các em hiểu được nghĩa của các từ cụ thể, từ đó vận dụng vào giao
tiếp và học tập.
Về từ ngữ, các tác giả cuốn “Phương pháp dạy học Tiếng Việt” khẳng
định: “Từ vựng là một trong các bộ phận của hệ thống ngôn ngữ, thiếu từ
vựng thì sẽ không có bất cứ ngôn ngữ nào”. Điều này lý giải tại sao việc dạy
từ ngữ được coi là nhiệm vụ quan trọng trong chương trình Tiếng Việt Tiểu
học, lí giải tại sao việc mở rộng và phát triển vốn từ cho học sinh được chú
trọng ngay từ bậc Tiểu học.
Từ có vai trò rất quan trọng trong hệ thống ngôn ngữ. Con người muốn
tư duy phải có ngôn ngữ. Không có vốn từ đầy đủ, con người không thể sử
dụng ngôn ngữ như một phương tiện giao tiếp. Việc dạy từ ngữ ở Tiểu học sẽ
tạo cho học sinh có năng lực từ ngữ, giúp cho học sinh nắm được tiếng mẹ đẻ,
có phương tiện giao tiếp để phát triển toàn diện
Nghĩa của từ rất quan trọng, trong giao tiếp thông thường cả người phát
(nói, viết) và người nhận (nghe, đọc) đều phải nắm được từ, hiểu được nghĩa
của từ thì mới sử dụng được từ một cách chuẩn xác, từ đó giao tiếp mới có
hiệu quả. Dạy từ mà không cho học sinh hiểu từ, nắm được nghĩa của từ thì sẽ
là việc vô bổ bởi vì như thế học sinh không biết dùng các từ đã cung cấp
Là một giáo viên Tiểu học trong tương lai và là người trực tiếp giảng
dạy các em học sinh trong cấp học đầu tiên để tạo nền tảng kiến thức vững
chắc cho các cấp học tiếp theo, tôi nhận thấy giảng dạy môn Tiếng Việt không
thể có hiệu quả nếu không có ý thức đầy đủ việc dạy nghĩa, đem đến cho học
sinh nhữn hiểu biết về những sắc thái tinh tế của nghĩa từ, cụm từ, câu và bài.
Hơn nữa, để tăng vốn từ cho học sinh phải cung cấp những từ mới, do vậy
công việc đầu tiên của việc dạy từ là làm cho học sinh hiểu nghĩa từ. Nó là
nhiệm vụ sống còn trong sự phát triển ngôn ngữ của trẻ em. Việc dạy nghĩa từ

2


được tiến hành trong tất cả các giờ học, bất cứ ở đâu có cung cấp từ ngữ, thuật
ngữ, khái niệm thì ở đó có sự dạy nghĩa từ. Chẳng hạn như các bài tập đọc
thường có mục ghi chú, giải nghĩa các từ ngữ cho học sinh; các bài tập giải
nghĩa cũng nhằm mục đích này. Bài tập giải nghĩa từ xuất hiện trong phân
môn Luyện từ và câu không nhiều nhưng việc giải nghĩa từ lại thường xuyên
phải thực hiện không chỉ trong giờ luyện từ và câu mà trong rất nhiều giờ học
khác của môn học Tiếng Việt và các môn học khác.
Với những lí do thiết thực trên đây, chúng tôi quyết định chọn nghiên
cứu đề tài “Tìm hiểu khả năng nhận biết và giải nghĩa ý nghĩa từ ngữ của học
sinh lớp 4, 5’’ làm khóa luận của mình.
2. Lịch sử vấn đề
Việc giải nghĩa từ không chỉ sử dụng chủ yếu trong môn Tiếng Việt,
đặc biệt phân môn luyện từ và câu mà còn được sử dụng trong các môn khác
nữa, nó được nhiều nhà khoa học trong và ngoài nước để tâm nghiên cứu. Sau
đây chúng tôi xin điểm qua một vài công trình nghiên cứu trong nước về vấn
đề này:
Tác giả Đỗ Hữu Châu với cuốn “từ vựng nghĩa Tiếng Việt” đã dành
riêng chương XVII, đăc biệt từ trang 273 đến tang 279 để nói về “ giải nghĩa
từ”. Ông còn cho rằng; “Dạy từ không chỉ thu hẹp trong việc giải nghia từ mà,
mặc dù đó là việc then chốt”. Tác giả đưa ra 3 cách để giải nghĩa biểu niệm
đó là giải nghĩa theo cách định nghĩa, khái niệm. Giải nghĩa theo lối so sanh
từ đồng nghĩa, trái nghĩa và giải nghĩa theo cách miêu tả.
Tiếp tục tìm hiểu về ngữ nghĩa, nghĩa của từ thì hai tác giả Vũ Đức
Nhiệu và Nguyễn Văn Hiệp với cuốn “Dẫn luận ngôn ngữ học” gồm 18
chương, trong đó nội dung về ngữ nghĩa, nghĩa của từ và nghĩa của câu được
đề cập trong hai chương lớn là chương XV và XVI.
Nhóm tác giả Lê Phương Nga, Đặng Kim Nga trong cuốn “Phương
pháp dạy học Tiếng Việt ở Tiểu học” cũng bàn về giải nghĩa từ ở trang 198
3


đến trang 202 của chủ đề 6: Phương pháp dạy học luyện từ và câu. Khi nói về
vấn đề này, các tác giả cũng khẳng định: “Nghĩa của từ được hiểu là nội dung
đối tượng vật chất, là sự phản ánh đối tượng của hiện thực (một hiện tượng,
một quan hê, một tính chất, hay một quá trình) trong nhận thức, được ghi lại
bằng một tổ hợp âm thanh xác định. Đồng thời nhóm tác giả này còn đưa ra 5
biện pháp giải nghĩa từ: giải nghĩa bằng trực quan, giải nghĩa bằng đối chiếu
so sánh với các từ khác, giải nghĩa các từ bằng các từ đồng nghĩa, trái nghĩa,
giải nghĩa bằng cách phân tích thành các thành tố (tiếng) và giải nghĩa từng
thành tố này, giải nghĩa bằng định nghĩa.
Bên cạnh những công trình nghiên cứu của một số tác giả mà chúng tôi
vừa kể trên thì có một số đề tài khoa học của khóa trước cũng tìm hiểu về vấn
đề này như đề tài “Khảo sát khả năng nhận diện, hiểu biết ý nghĩa và giải
nghĩa từ ngữ của học sinh Tiểu học” của Nguyễn Thị Nhung. Trong đề tài này
Nguyễn Thị Nhung đã nghiên cứu về khả năng nhận diện, hiểu biết ý nghĩa từ
ngữ của học sinh Tiểu học. Sau đó là phần tìm hiểu thực trạng khả năng hiểu
nghĩa từ của học sinh tại một trường tiểu học bằng các bài kiểm tra (phiếu
điều tra) nhưng đề tài của Nguyễn Thị Nhung chưa tập trung đi sâu vào
nghiên cứu, tìm hiểu về khả năng giải nghĩa từ của học sinh lớp 4, 5
Như vậy, đã có rất nhiều công trình khoa học nghiên cứu về nghĩa của
từ nhưng xét về cơ bản thì chưa có công trình nào nghiên cứu kĩ về khả năng
nhận biết và giải nghĩa từ của học sinh lớp 4,5. Vì vậy chúng tôi có thể khẳng
định rằng đề tài nghiên cứu của chúng tôi là một đề tài mới mẻ và cần thiết.
3. Mục đích và yêu cầu
3.1. Mục đích
Đề tài nghiên cứu nhằm mục đích cơ bản sau:
Thứ nhất: Tìm hiểu khả năng nhận biết ý nghĩa từ ngữ của học sinh
lớp 4, 5

4


Thứ hai: Tìm hiểu khả năng giải nghĩa từ ngữ dựa vào kiểu cấu tạo, từ
loại, cấu trúc nghĩa của từ của học sinh lớp 4, 5
Thứ ba: Trên cở thực tế về khả năng nhận biết và giải nghĩa từ ngữ của
học sinh Tiểu học lớp 4, 5, đề ra một số biện pháp cụ thể nhằm giúp học sinh
nhận diện, hiểu nghĩa và biết cách giải nghĩa từ một cách tốt hơn.
3.2. Yêu cầu
Để thực hiện được những mục đích trên và đặc biệt giúp khóa luận này
có hiệu quả, người viết phải đảm bảo những yêu cầu sau:
- Nắm được khái niệm nghĩa của từ, các loại nghĩa
- Biết được các cách giải nghĩa từ ở Tiểu học
- Nêu được một số dạng bài tập giải nghĩa từ phổ biến, hay gặp trong
chương trình Tiếng Việt Tiểu học sau năm 2000
- Tiến hành điều tra, thống kê, mô tả khả năng nhận biết và giải nghĩa từ
của học sinh lớp 4, 5 tại trường tiểu học Xuân Hòa.
- Đề xuất được một số phương pháp cụ thể giúp học sinh nhận biết và
giải nghĩa từ tốt hơn
4. Đối tượng nghiên cứu
Khả năng nhận biết và giải nghĩa từ ngữ của học sinh Tiểu học lớp 4, 5
(lớp 4A2 và lớp 5A1) ở trường tiểu học Xuân Hòa- Phúc Yên-Vĩnh phúc.
5. Phạm vi nghiên cứu
Đề tài này chỉ nghiên cứu khả năng nhận biết và giải nghĩa từ ngữ của
học sinh lớp 4, 5 ở một trường Tiểu học.
6. Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu đề tài này, em sử dụng một số phương pháp
sau:
6.1. Phương pháp điều tra
Điều tra khả năng nhận biết và giải nghĩa từ ngữ của học sinh lớp 4, 5
dưới dạng bài kiểm tra (phiếu điều tra).
5


6.2. Phương pháp thống kê
Tập hợp, thống kê kết quả điều tra
6.3. Phương pháp phân tích- tổng hợp:
Phân tích tổng hợp những tài liệu khoa học cần thiết để làm cơ sở lý
thuyết cho đề tài.
Từ số liệu thống kê, tiến hành phân tích số liệu và đưa ra những nhận
định, đánh giá và kết luận. Phân tích các tài liệu khoa học rồi hợp lại thành cơ
sở lý luận của đề tài.
Các bước tiến hành nghiên cứu:
Bước 1: Đọc tài liệu lí luận
Bước 2: Đi thực tế thống kê
Bước 3: Xử lý tư liệu thống kê
Bước 4: Tổng hợp viết khóa luận
7. Ý nghĩa khoa hoc và thực tiễn của đề tài
Đề tài góp phần tìm hiểu thực trạng khả năng nhận biết và giải nghĩa từ
ngữ của học sinh Tiểu học và đề xuất một số giải pháp hình thàh khả năng
trên cho học sinh Tiểu học lớp 4, 5. Theo các biện pháp này học sinh sẽ có
khả năng nhận biết và giải nghĩa từ để có thể biết cách giải nghĩa từ và làm
được nhiều bài tập giải nghĩa từ khác nhau, làm cho vốn từ của các em trở nên
phong phú và linh hoạt hơn, giúp cho việc học tập môn Tiếng Việt cũng như
các môn học khác và giao tiếp trong cuộc sống hàng ngày thuận lợi hơn.

6


NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1.1. Cơ sở lí luận
1.1.1. Nghĩa của từ
Để trả lời câu hỏi: “nghĩa của từ là gì?”, trước hết phải trở lại với bản
chất tín hiệu của từ. Từ là một tín hiệu, nó phải “nói lên”, phải đại diện cho,
phải được sử dụng quy chiếu về một cái gì đó. Từ có thể được phân loại theo
nhiều cách: phân loại dựa vào ý nghĩa khái quát và hoạt động ngữ pháp của từ
- ta có các lớp từ theo từ loại; phân loại dựa vào nghĩa - ta có các lớp từ như
từ đồng nghĩa, trái nghĩa,…; phân loại theo nguồn gốc - ta có từ thuần Việt, từ
Hán Việt; phân loại theo phạm vi sử dụng - ta có từ địa phương, từ toàn dân.
Mỗi khi học nghĩa của một từ, chúng ta đều học bằng cách liên hệ với những
cái mà từ đó chỉ ra (trước hết là sự vật, hiện tượng, hành động hoặc thuộc
tính… mà từ đó làm tên gọi cho nó). Mắt khác nghia của từ cũng được thông
qua hoặc liên quan tới vô vàn tình huống giao tiếp ngôn ngữ mà từ đó sử
dụng, nghĩa của từ chính là nội dung tư tưởng gợi ra trong từ.
Trong một đơn vị từ vựng người ta phân chia làm hai lớp nghĩa: Lớp
nghĩa bên ngoài (nghĩa liên hội) và lớp nghĩa bên trong (nghĩa cấu trúc, nghĩa
ngữ pháp). Lớp nghĩa bên ngoài được hình thành trong mối quan hệ với xã
hội, lịch sử, dân tộc, thời đại và cá nhân người sử dụng ngôn ngữ. Cụ thể mỗi
từ khi đưa vào sử dụng thì trong quá trình sử dụng ấy đã hình thành một lớp
nghĩa bao quanh mỗi từ. Nhờ có một lớp nghĩa này mà từ mới thực sự trở
thành cụ thể sinh động của một thực tiễn nhất định. Mỗi dân tộc hầu như có
một ngôn ngữ, tính chất cư trú trên những vị trí địa lí khác nhau, phong tục
tập quán khác nhau…Tất cả những cái khác ấy tạo nên ý nghĩa bên ngoài của
từ khác nhau. Ý nghĩa bên ngoài ấy lại có thể thay đổi theo từng thời đại mà

7


cũng có thể được mỗi cá nhân sử dụng với những ý nghĩa khác nhau do vốn
sống, vốn ngôn ngữ khác nhau.
Nghĩa bên trong là lớp nghĩa đối lập với lớp nghĩa bên ngoài, lớp nghĩa
này có tính bền vững, ít thay đổi, được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác.
Lớp nghĩa bên trong gồm 2 loại, đó là nghĩa từ vựng và nghĩa ngữ pháp.
Ý nghĩa từ vựng là ý nghĩa riêng của từng từ, không lặp lại ở các từ
khác. Nghĩa từ vựng bao gồm nghĩa biểu niêm, nghĩa biểu vật, nghĩa biểu
thái.
Nghĩa ngữ pháp là ý nghĩa chung cho nhiều từ cùng loại và liên quan
đến chứcnăng cấu tạo câu. Nghĩa này có thể quy về các phạm trù như: giống,
cách, số, ngôi, thời, thể, thức hay các phạm trù : danh, động, tính, số từ…
Nghĩa ngữ pháp tạo thành khuôn từ loại, còn nghĩa từ vựng là lõi nằm
bên trong khuôn từ loại đó. Như vậy, muốn hiểu được nghĩa của từ ta phải đối
chiếu từ với các hoạt động giao tiếp, với các chức năng tín hiệu học của từ,
phải nắm được ý nghĩa riêng của từ đó là nghĩa từ vựng và ý nghĩa chung của
từ đó là nghĩa ngữ pháp. Trong phần nghiên cứu này ta chỉ đi tìm hiểu ý nghĩa
riêng của từ. Vì vậy trong phần này chúng tôi chỉ đề cập đến nghĩa của từ
vựng.
Các thành phần nghĩa của từ:
1.1.1.1. Nghĩa biểu vật
Ý nghĩa biểu vật bắt nguồn từ chức năng biểu vật của từ. Nghĩa biểu
vật là nghĩa gọi tên các loại sự vật, hiện tượng, trạng thái, tính chất hoạt
động… theo lối tổng hợp tính, nghĩa là gọi tên không có lí do.
Khi nghiên cứu nghĩa biểu vật của từ phải đặt từ trong mối liên hệ với
thực tế khách quan. Bởi vì đó là những “mẩu”, những “mảnh”, những “đoạn
cắt” của thực tế nhưng không hoàn toàn trùng với thực tế khách quan, giữa từ
với thực tế khách quan ít có sự tương ứng 1 - 1, cùng một sự vật nhưng có rất
nhiều tên gọi hoặc cùng một từ nhưng chỉ nhiều sự vật, hiện tượng khác nhau.

8


Các từ trong Tiếng Việt có từ có ý nghĩa biểu vật rộng, có từ có ý nghĩa
biểu vật hẹp. Những từ có ý nghĩa biểu vật rộng là những từ có ý nghĩa khái
quát và có thể gọi tên được nhiều sự vật, hiện tượng đó là những từ đơn âm
tiết, từ ghép (nhà cửa, ruộng nương), láy cá thể (máy móc, chim choc, tiệc
tùng…). Những từ có ý nghĩa biểu vật hẹp là những từ chỉ gọi tên được một
hay một số ít các sự vật, hiện tượng đó là các từ ghép phân nghĩa (xe đạp, xe
máy,…) , láy sắc thái hóa (xanh xao, vàng vọt…).
1.1.1.2. Nghĩa biểu niệm
Nghĩa biểu niệm là liên hệ giữa từ với ý (hoặc ý nghĩa, ý niệm). Cái ý
đó người ta gọi là cái biểu niệm hoặc biểu niệm (sự phản ánh các thuộc tính
của biểu vật và trong ý thức con người).
Nghĩa biểu niệm bắt nguồn từ chức năng biểu niệm của từ. Nghĩa biểu
niệm là nghĩa biểu thị khái niệm về sự vật, hiện tượng của thực tế khách quan.
Mỗi sự vật, hiện tượng được nhận thức bằng tư duy thông qua những dấu hiệu
của nó và dược phản ánh bằng ngôn ngữ thành các ý nghĩa biểu vật (được gọi
tên), từ nghĩa biểu vật sẽ có một nghĩa biểu niệm tương ứng. Khi nghiên cứu
nghĩa biểu niệm phải đặt từ trong mối liên hệ với các dâu hiệu của khái niêm.
Như vậy gọi tên theo lối biểu niệm là gọi tên có lí do.
Ví dụ: Sự vật có mặt phẳng, làm bằng nguyên liệu rắn, có chân, dùng
để ngồi là cái ghế
Mỗi dấu hiệu được đưa vào nghĩa biểu niệm là một nét nghĩa. Ý nghĩa
biểu niệm là tập hợp một số nét nghĩa.
Ý nghĩa biểu niệm và khái niệm có quan hệ với nhau nhưng không phải
lúc nào cũng trùng nhau, bởi vì cùng một khái niệm nhưng có ý nghĩa biểu
niệm khác nhau, do vậy số lượng tên gọi khác nhau.
1.1.1.3. Nghĩa biểu thái
Ngoài hai thành phần nghĩa biểu vật và nghĩa biểu niệm, khi xác định
nghĩa của từ người ta còn phân biệt một số thành phần nghĩa nữa, đó là nghĩa
ngữ dụng hay còn gọi là nghĩa biểu thái, nghĩa hàm chỉ.
9


Nghĩa biểu thái (nghĩa ngữ dụng, nghĩa hàm chỉ ) bắt nguồn từ chức
năng biểu thái của từ, nó biểu thị thái độ, tình cảm, cách đánh giá của người
sử dụng ngôn ngữ cuả người sử dụng đối với sự vật được gọi tên.
Như vậy, nghiên cứu nghĩa biểu thái, nó đặt từ trong mối quan hệ với
nguời sử dụng ngôn ngữ, biểu hiện thái độ ứng xử như thế nào trước một sự
vật được gọi tên; ở cung bậc tình cảm : vui, buồn, yêu, ghét, lo, sầu…; ở trong
cách đánh giá con người trước một sự vật hiện tượng trong thực tế khách
quan.Ví dụ, đánh giá về lượng nhiều hay ít, về chất tốt hay xấu, về cường độ
nhanh hay chậm…
Trong hệ thống từ vựng, nghĩa biểu thái của từ cũng biểu hiện không
đồng đều giữa các từ. Những từ có ý nghĩa biểu thái cao nhất là các từ cảm,
các trợ từ : ái, ối, ôi, a, chao ôi, khiếp,…; những từ có ý nghĩa biểu thái thấp
hơn là nhóm từ vừa có ý nghĩa định danh vừa có ý nghĩa biểu thái, đó là
những từ ghép, láy ắc thái hóa, và một số từ đơn có ý nghĩa biểu thái, ví dụ :
lom khom, khấp khểnh, tấp tểnh, đen sì, đỏ lòm,…
Nhóm từ có ý nghĩa sắc thái hóa thấp nhất là nhóm từ có ý nghĩa định
danh thông thường. Muốn tìm hiểu ý nghĩa sắc thái hóa của những từ định
danh thông thường thì phải đặt nó trong mối quan hệ với dãy đồng nghĩa để ta
so sánh từ này với từ kia, xét nó ở mức độ nào. Ví dụ: Dãy đồng nghĩa: chết ,
mất, hi sinh…
Như vậy, nghĩa của từ có 3 thành phần nghĩa: Nghĩa biểu vật gọi tên sự
vật bên ngoài (khách quan), cụ thể; nghĩa biểu niệm chỉ ra khái niệm bên
trong (bản chất), trừu tượng; nghĩa biể thái chỉ ý nghĩa đi kèm thái độ, cảm
xúc của người dùng. Cả ba nghĩa đều quan trọng, không có nghĩa nào quan
trọng hơn nghĩa nào, nó là ba mặt của một vấn đề, có vai trò như nhau và liên
hệ với nhau.

10


1.1.2. Cấu tạo từ
Muốn nêu được ý nghĩa của từ thì người học cần phải biết cách thức
cấu tạo từ.
Trong Tiếng Việt có các kiểu cấu tạo từ là:
1.1.2.1. Từ đơn:
Từ đơn là những từ được cấu tạo bằng một tiếng độc lập. Thí dụ: Nhà,
xe, tập, viết, xanh, đỏ, vàng, tím,…
1.1.2.2. Từ ghép
Từ ghép là những từ có hai hoặc hơn hai tiếng được ghép lại với nhau
dựa trên quan hệ ý nghĩa.
Dựa vào quan hệ ngữ pháp giữa các yếu tố, có thể phân từ ghép ra làm
2 loại chính:
a. Từ ghép đẳng lập:
Từ ghép đẳng lập có những đặc trưng chung là:
- Quan hệ ngữ pháp giữa các thành tố trong từ là quan hệ bình đẳng.
Ví dụ: bạn hữu, bụng dạ, máu huyết, tiên lợi, cốt nhục, máu mủ, xinh
đẹp, bát đọi, thương nhớ, nhà cửa, áo quần, ăn uống, sống chết, già trẻ, gần
xa, trong ngoài,…
- Xét về mặt nội dung, nói chung, từ ghép đẳng lập thường gợi lên
những phạm vi sự vật mang ý nghĩa phi cá thể hay tổng hợp (tức biểu thị sự
vật, tính chất hay hành động chung, mang tính chất khái quát).
- Tuy có quan hệ bình đẳng về mặt ngữ pháp, nhưng không đưa đến hệ
quả là ý nghĩa từ vựng của các thành tố trong từ đều có giá trị ngang nhau
trong mọi trường hợp. Như ta sẽ thấy, những trường hợp một trong hai thành
tố phai mờ nghĩa xảy ra phổ biến trong từ ghép đẳng lập.
- Căn cứ vào vai trò của các thành tố trong việc tạo nghĩa và phạm vi
biểu đạt của từ ghép, có thể phân từ ghép đẳng lập thành ba loại nhỏ là từ

11


ghép đẳng lập gộp nghĩa, từ ghép đẳng lập đơn nghĩa và từ ghép đẳng lập hợp
nghĩa.
b. Từ ghép chính phụ
Từ ghép chính phụ là những từ ghép mà ở đó có ít nhất một thành tố
cấu tạo nằm ở vị trí phụ thuộc vào một thành tố cấu tạo khác, trong kiểu từ
ghép này thường có một yếu tố chính và một yếu tố phụ về mặt ngữ pháp.
Loại này có những đặc điểm sau:
- Xét về mặt ý nghĩa, nếu từ ghép đẳng lập có khuynh hướng gợi lên
các sự vật, tính chất có ý nghĩa khái quát, tổng hợp, thì kiểu cấu tạo từ này có
khuynh hướng nêu lên các sự vật theo mang ý nghĩa cụ thể.
- Trong từ ghép chính phụ, yếu tố chính thường giữ vai trò chỉ loại sự
vật, đặc trưng hoặc hoạt động lớn, yếu tố phụ tường được dùng để cụ thể hóa
loại sự vật, hoạt động hoặc đặc trưng đó.
- Căn cứ vào vai trò của các thành tố trong việc tạo nghĩa, có thể chia từ
ghép chính phụ thành hai tiểu loại:
+ Từ ghép chính phụ dị biệt: là từ ghép trong đó yếu tố phụ có tác dụng
phân chia loại sự vật, hoạt động, đặc trưng lớn thành những loại sự vật , hoạt
động, đặc trưng, cụ thể. Vì vậy có thể nói tác dụng của yếu tố phụ ở hiện
tượng này là tác dụng phân loại.
Thí dụ: máy may, máy bay, máy bơm, máy nổ, máy tiện,…
+ Từ ghép chính phụ sắc thái hóa: là những từ ghép trong đó thành tố
phụ có tác bổ sung một sắc thái ý nghĩa nào đó khiến cho cả từ ghép này khác
với thành tố chính khi nó đứng một mình như một từ rời, hoặc khiến cho từ
ghép sắc thái hóa này khác với từ ghép sắc thái hóa khác về ý nghĩa. Thí dụ,
so sánh xanh lè với xanh và xanh biếc, …
1.1.2.3. Từ láy
Từ láy là những từ gồm nhiều tiếng, giữa các tiếng có quan hệ ngữ âm
có tác dụng tạo nghĩa.
12


Ðặc điểm của từ láy:
- Giữa các tiếng trong từ láy có quan hệ với nhau về mặt ngữ âm. Thí
dụ: vắng vẻ, vui vẻ, co ro, lác đác, lung túng, đo đỏ, hao hao,…
Kết hợp tiêu chí số lượng tiếng với các bộ phận giống nhau trong từ, có
thể phân từ láy thành các loại sau: láy đôi, láy ba, láy tư. Nhưng ở đây chúng
tôi chỉ tìm hiểu về từ láy đôi.
- Kiểu láy âm:
+ Thường diễn tả tính chất hoặc đặc điểm đạt chuẩn mực. Ví dụ: đầy
đặn, vuông vắn, ngay ngắn, thẳng thắn,…
+ Thường diễn tả hành động không ổn định tại chỗ hoặc diễn ra theo
tình thế hiện ra biến mất. Ví dụ: lấp ló, thập thò, nhấp nháy,…
1.1.3. Từ loại của từ
Từ xét về mặt ngữ pháp gồm có những loại như: danh từ, động từ, tính
từ. Về mặt ý nghĩa, chúng có bản chất từ vựng - ngữ pháp, trực tiếp phản ánh
các nội dung ý nghĩa từ vựng khái quát có tính vật thể, hành động, trạng thái
hoặc phẩm chất thành các đặc trưng phân loại
1.1.3.1. Danh từ
Danh từ là những từ biểu thị mọi “thực thể” tồn tại trong thực tại, được
nhận thức và được phản ánh trong tư duy của người bản ngữ như là những sự
vật.
Danh từ gồm có danh từ riêng và danh từ chung:
Danh từ riêng là tên riêng của từng người, từng sự vật cụ thể…
Ví dụ: Nguyễn Tất Thành, Hà Nội…
Danh từ chung chỉ tên chung của một chủng loại sự vật, có tính khái
quát, trừu tượng, không có mối liên hệ đơn nhất giữa tên gọi và vật cụ thể
được gọi tên.
Dựa trên sự thể hiện và phân bố ý nghĩa khái quát về sự vật có thể tách
danh từ chung thành danh từ tổng hợp và danh từ không tổng hợp:
13


Danh từ tổng hợp biểu thị các sự vật tồn tại thành từng tổng thể (sự vật
- gộp) như: thợ thuyền, binh lính, quần áo…
Danh từ không tổng hợp biểu thị sự vật đơn thể( sự vật - rời) : bàn, ghế,
áo, thuyền…
1.1.3.2. Động từ
Động từ là những từ biểu thị ý nghĩa khái quát về quá trình. Ý nghĩa
quá trình thể hiện trực tiếp đặc trưng vận động của thực thể. Đó là ý nghĩa
hành động. Ý nghĩa trạng thái được khái quát hóa trong mối liên hệ với vận
động của thực thể trong thời gian và không gian.
Động từ được chia thành hai lớp con là lớp động từ không độc lập và
lớp động từ độc lập:
Động từ không độc lập như: nên, mong, muốn, bị , được, cho…
Động từ độc lập như: viết, đánh, chạy, yêu, tặng…
1.1.3.3. Tính từ
Lớp từ chỉ ý nghĩa đặc trưng (đặc trưng của thực thể hay đặc trưng của
quá trình) là tình từ.
Ví dụ: nhiều, ít, vuông, riêng, chung, chính, phụ…
1.2. Cơ sở thực tiễn
1.2.1. Chương trình, sách giáo khoa Tiểu học lớp 4, 5
Trong chương trình Tiểu học thì ở lớp 4 học sinh bắt đầu học về từ đơn,
từ phức, từ láy. Việc dạy từ ghép và từ láy được tiến hành ở tuần 4 của lớp 4.
Đặt trong hệ thống, bài từ ghép và từ láy là bài lý thuyết về từ thứ hai của
chương trình Tiếng việt mới sau bài từ đơn và từ phức. Từ đơn, từ phức, từ
ghép, từ láy là kết quả của một cách phân loại từ - phân loại theo cấu tạo.
Sách giáo khoa quan niệm “Tiếng cấu tạo nên từ. Từ gồm một tiếng gọi là từ
đơn. Từ gồm hai hay nhiều tiếng gọi là từ phức”. Từ phức được phân loại
thành hai kiểu: từ ghép và từ láy.

14


Đồng thời ở lớp 2, lớp 3 học sinh được làm quen với việc giải nghĩa từ,
đó là đọc các từ khó được giải thích ở dưới bài tập đọc. Nhưng chỉ ở mức độ
đọc cách giải nghĩa đã ghi sẵn. Còn đến lớp 4 thì học sinh đi sâu vào giải
nghĩa từ trong phân môn luyện từ và câu, làm quen với các dạng bài tập về
giải nghĩa từ. Lên đến lớp 5 thì những kiến thức này được vận dụng nhiề.u và
các bài tập về giải nghĩa từ đưa ra với mức độ khó và phức tạp hơn.
Giải nghĩa từ trong chương trình Tiếng Việt ở cấp tiểu học hiện đã thể
hiện được vai trò của mình. Tuy thế thực tiễn dạy học tiếng việt nói chung và
giải nghĩa từ nói riêng còn đặt ra nhiều vấn đề cấp thiết, nhất là ở tính hiệu
quả tối đa.
Trước hết xết về mặt nội dung. Theo khảo sát của tác giả Lê Phương
Nga thì hiện nay, khi xây dựng sách giáo khao Tiếng Việt tiểu học, các nhà
biên soạn đều xác định phạm vi vốn từ tối thiểu về thế giới xung quanh, công
việc của học sinh… Vì thế, những từ ngữ được dạy ở bậc Tiểu học gắn liền
với thiên nhiên, đất nước, con người… giúp làm giàu nhận thức, mở rộng tầm
mắt của học sinh, giúp các em nhận thấy vẻ đẹp của quê hương, đất nước, con
người, dạy các em biết yêu và ghét.
Xét về mặt kết cấu và phân bố chương trình, trong tổng số 175 tuần học
của chương trình Tiếng Việt tiểu học mới, từ ngữ hiện vẫn chỉ được dạy tích
hợp qua các phân môn của Tiếng Việt mà chưa có giờ riêng. Chương trình
165 tuần và chương trình 100 tuần học trước đây thì đã có phân môn Từ ngữ,
có giờ học từ ngữ riêng, bắt đầu từ lớp 2. Thời lượng dạy từ ngữ trong số quỹ
thời gian của năm học ở cả hai chương trình cũ và mới là vừa phải. tuy nhiên
tổng số thời gian dành riêng cho việc giải nghĩa từ vẫn còn quá ít. Bởi lẽ nếu
phạm phải thời gian chuẩn thì các giờ học không đảm bảo, dễ dẫn đến tình
trạng chồng chéo; ngược lại, nếu trú trọng đến việc giải nghĩa từ, lượng thời
gian như vậy với nhu cầu cần thiết dành cho việc nay là khá khiêm tốn. Theo
15


quy định mới trong năm học 2008 - 2009 của Bộ Giáo dục - Đào tạo đối với
bậc tiểu học, thời lượng tối đa các môn học chính khóa không vượt quá 25
tiết/tuần. Như vậy, thời gian, tâm huyết dành cho dạy học giải nghĩa từ trong
các phân môn của Tiếng Việt chắc chắn sẽ càng ít hơn.
Thời gian gần đây, nhiều nhà báo, những người vốn nặng lòng với sự
nghiệp phát triển giáo dục tiểu học đã có những nhận định gai góc về tình
trạng trồi sụt năng lực ngôn ngữ, năng lực tiếng Việt của học sinh. Như trên
đã chỉ ra, lượng thời gian thực học giải nghĩa từ là rất hạn chế. Trong khi đó,
giải nghĩa từ giữ vai trò mở ra cánh cửa tri thức cho học sinh, giúp cho trẻ biết
đó là "cái gì" trước khi tìm hiểu chúng ra sao, cấu trúc, quy luật thế nào. Thực
tế cho thấy, không chỉ trong dạy học các phân môn của Tiếng Việt mà trong
bất cứ tiết học, môn học nào ở tiểu học, khi xuất hiện những khái niệm, vấn
đề mới, người giáo viên nhất thiết phải sử dụng thao tác giải nghĩa từ. Tuy
nhiên, xét trong tương quan chung, đây là nhiệm vụ, kĩ năng đặc trưng, bắt
buộc của dạy học Tiếng Việt, nhất là đối với các phân môn Tập đọc, luyện từ
và câu…
1.2.2. Một số biện pháp giải nghĩa từ ở Tiểu học
Để dạy nghĩa từ, trước hết giáo viên phải hiểu nghĩa từ và biết giải
nghĩa phù hợp với mục đích dạy học, phù hợp với đối tượng học sinh.
Ở Tiểu bọc người ta thường nêu một số biện pháp giải nghĩa như sau :
1.2.2.1. Giải nghĩa bằng trực quan
Giải nghĩa bằng trực quan là biện pháp đưa ra các vật thật, tranh ảnh, sơ
đồ… để giải nghĩa từ. Lúc này, vật thật, tranh vẽ, biểu bảng, sơ đồ được dùng
để đại diện cho nghĩa của từ.
Ví dụ : Khi dạy bài tập đọc “Những con sếu bằng giấy”(TV5, Tập 1),
giáo viên đưa con sếu bằng giấy cho học sinh xem và nói: “Đây là con sếu

16


bằng giấy” hoặc: khi học bài “Rừng thảo quả” giáo viên cho học sinh xem
tranh, ảnh rừng thảo quả
1.2.2.2. Giải nghĩa bằng cách đối chiếu so sánh với từ khác
Ví dụ : Phân biệt nghĩa của các cụm từ : khu dân cư, khu sản xuất , khu
bảo tồn thiên nhiên( TV 5 - tập 1)
1.2.2.3. Giải nghĩa các từ bằng các từ đồng nghĩa, trái nghĩa
Ví dụ : “siêng năng là chăm chỉ”, “Ngăn nắp là không lộn xộn”. Tương
ứng với cách giải nghĩa này, sách giáo khoa có các bài tập yêu cầu giải nghĩa
bằng đồng nghĩa hoặc trái nghĩa
1.2.2.4. Giải nghĩa bằng cách phân tích từ thành các thành tố (tiếng) và
giải nghĩa từng thành tố này
Ví dụ: Tổ quốc là từ ghép gốc Hán. Tổ là ông cha ta từ xa xưa, quốc là
nước, đất nước. Cách giải nghĩa này có ưu thế đặc biệt khi giải nghĩa từ Hán
Việt. Sách giáo khoa không có những bài tập yêu cầu giải nghĩa theo cách
phân tích từng thành tố nhưng ý thức được việc nắm nghĩa của các tiếng sẽ
làm tang nhanh chóng vốn từ hơn là nắm nghĩa của từng từ nên trong sách
giáo khoa có rất nhiều bài tập yêu cầu nêu nghĩa của tiếng trong từ và dùng
nghĩa của tiếng có trong từ dể làm căn cứ phân loại các từ đó.
1.2.2.5. Giải nghĩa bằng định nghĩa:
Giải nghĩa bằng định nghĩa là biện pháp phổ biến nhất trong SGK. Đây
là biện pháp giải nghĩa bằng cách nêu nội dung, gồm tập hợp các nét nghĩa
bằng một định nghĩa. Tập hợp nét nghĩa được liệt kê theo sự sắp xếp nét nghĩa
từ loại lên trước hết và các nét nghĩa càng hẹp càng riêng thì càng ở sau.
Ví dụ: + “Thảo quả”(TV5- T1- Tr113): thảo quả là một loại cây, thân
nhỏ, quả hình bầu dục, lúc chín màu đỏ, tỏa mùi thơm ngào ngạt, dùng làm
thuốc và gia vị.
+ Gùi (TV5 -T1- Tr 144): đồ vật, đan bằng mây, tre, đeo trên lưng để
chuyên chở đồ đạc, miệng loe hơn đáy có hình trụ...
17


Bằng việc giải nghĩa biểu niệm theo cách định nghĩa khái niệm như
trên, tôi nhận thấy cần hướng dẫn học sinh biết cách xác định các nét nghĩa và
tổ chức sắp xếp các nét nghĩa ấy. Công việc này đòi hỏi giáo viên lưu ý các
em trước hết phải nhận dạng được ý nghĩa phạm trù của từ cần giải nghĩa, và
biết chúng thuộc tiểu loại nào. Bởi vì các từ loại khác nhau sẽ có hướng giải
nghĩa khác nhau. Mặt khác, cùng là danh từ nhưng cách giải nghĩa danh từ
trừu tượng sẽ khác với danh từ chỉ sự vậtcụ thể.
Giải nghĩa bằng tập hợp các nét nghĩa là cách dạy nghĩa đầy đủ nhất
nhưng là một yêu cầu khó đối với học sinh tiểu học. Vì vậy, các dạng bài tập
giải nghĩa bằng định nghĩa trong sách giáo khoa thường xây dựng dưới dạng
cho sẵn từ và nghĩa của từ, các định nghĩa về từ, yêu cầu học sinh xác lập sự
tương ứng.
Ví dụ: “tự trọng là coi trọng và giữ gìn phẩm giá của mình” ( TV4-tập
1- tr 49)

18


CHƯƠNG 2: TÌM HIỂU KHẢ NĂNG NHẬN BIẾT
VÀ GIẢI NGHĨA TỪ NGỮ CỦA HỌC SINH LỚP 4, 5
2.1. Dựa vào kiểu cấu tạo để hiểu nghĩa của từ
Vì cấu tạo từ liên quan chặt chẽ với ý nghĩa của từ, mỗi một kiểu cấu
tạo sẽ tạo ra những kiểu ý nghĩa tương ứng nên khi tìm hiểu ý nghĩa của từ
(nhất là đối với từ Tiếng Việt) ta phải dựa vào kiểu cấu tạo.
Để kiểm tra khả năng nhận biết các loại từ cử học sinh Tiểu học về cấu
tạo, chúng tôi đã đưa ra những phiếu câu hỏi khác nhau để đánh giá mức độ
hiểu biết và vận dụng các khái niệm: Từ đơn, từ phức, từ ghép, từ láy.
2.1.1. Khả năng nhận biết và giải nghĩa từ đơn
Chúng tôi đưa ra câu hỏi sau: “Thế nào là từ đơn? lấy ví dụ một số từ
đơn biểu thị các hiện tượng của tự nhiên” (mưa, bão, sấm, chớp, nắng…)
Có 60 phiếu câu hỏi được chia đều cho 2 lớp là lớp 4A2 và lớp 5A1,
chúng tôi thu được số phiếu trả lời như sau:
Kết quả

Lý thuyết và thực hành

Lý thuyết

Thực hành

lớp

Đúng

Tỷ lệ (%)

Sai

Tỷ lệ (%)

Sai

Tỷ lệ (%)

4

16

53,3

14

46,6

0

0

5

21

70

9

30

0

0

Như vậy tỷ lệ số bài làm đúng cả lý thuyết và thực hành ở mỗi lớp
đều trên 50%. Cụ thể:
Ở lớp 4 có 16/30 bài = 53,3%
Ở lớp 5 có 21/30 bài =70%
Trong đó phần thực hành( nêu ví dụ) thì 100 % số bài làm đúng ở cả
hai lớp. Số lượng ví dụ của mỗi bài như sau:
Lớp 4: 1 ví dụ có 3 bài =10 %

3 ví dụ có 5 bài = 16,6%

2 ví dụ có 8 bài = 26,6%

4 ví dụ có 4 bài =13,3%
19


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×