Tải bản đầy đủ (.pdf) (77 trang)

Giáo trình lôgic hình thức

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (7.98 MB, 77 trang )

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XẢ HỘI VÀ NHÀN VĂN
THUỘC ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOfì TRléT HỌC
Bộ MÔN LÔGIC HỌC


P.G.S. BÙI THANH QUẤT

_ GIÁO TRÌNH

LÔGIC HÌNH THỨC

D Ạ ií/ọ c g ư ó c ÍỈIA
HN

TKU N aTÃM
t h ù

N(;tin'

thuvífn

ĨR

H à N ôi -1998


TRƯÒNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XẢ HỘI VÀ NHÂN VÃN
THUỘC ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI


KHOA TRléĩ HỌC
Bộ MÔN LÔGIC HỌC
P.G.S. BÙ I THANH QUẤT

GIÁO TRÌNH

LỔGIC HÌNH THÚC

H à N ôi - 1998


MỤC LỤC
LÔGIC HỘC HÌNH THỨC
Trang
PHẢN THÚ NHẤT

1

ĐỐI TUƠNG, NHIÊM v ụ , Ý NGHĨA CỦA LÒGIC HỌC.
PHẤN THÚ HAI

8

CÁC Y ẾU TỐ CÁU THÀNH CỦA T ư DUY
TRỬir TƯỢNG.
Bài 1 - Ý NIỆM VÀ KHÁI NIỆM

8

A -Ý N IỆ M .


8

B - KHÁI NIỆM

8

I. Đặc điểm chung của khái niệm.

8

II. Nội hàm và ngoại diên của khái niệm

9

III. Khái niệm và từ ngữ.

11

IV. Quan hệ giữa các khái niệm.

12

V. Các phép lôgic xử lý khái niệm

14

Bài 2 - PHÁN ĐOÁN.

17


A - ĐẶC ĐIỂM CHUNG CỦA PHÁN ĐOÁN.

17

B - PHÁN ĐOÁN ĐƠN.

17

I. Cơ cấu lôgic của phán đoán đơn.

17

II. Tính chu diên cùa các danh từ lôgic trong phán đoán.

19

III. Quan hệ giửa các loại phán đoán đơn.

21

Hình vuông lôgic.
c - PHAN ĐOÁN PHỨC HỢP.

22

D. PHÉP PHỦ ĐỊNH PHÁN ĐOÁN.

27


E . TINH THẢI (HAY DẠNG THỨC) CỦA PHÁN ĐOÁN

28

G - QUAN HỆ GIỮA PHÁN ĐOÁN VỚI Ý NIỆM VÀ KHÁI NIỆM

29

PHẦN THỨ BA

CÁC QUY LUẬT LÔGIC c ơ BẢN CỦA T ư DUY.
í. Quan niệm chung về quy luật lôgic cùa tư duy.

32

II. Các quy luật lôgic hinh thức cơ bản của tư duy.

34


PHẦN THỨ T ư

CAC THAO TÁC LÒGIC c ơ BẢN CỦA Tư DUY
Bài 1 - P H É P SU Y LUÂN
A - QUAN NIỆM CHƯNG VÉ PH ÉP SƯY LUẬN

38

B - SUY LUẬN DIỂN DỊCH


39

I. Suy luận trực tiếp.

4^3

II. Suy luận gián tiếp từ tiền đề là các phán đoán đơn

43

Tam đoạn luận
III. Suy luận gián tiếp từ tiền đề có chứa phán đoán phức hợp.

51

IV. Điều kiện để thu được câu kết luận tất yếu chân th.u trong

54

các suy luận diễn dịch

c. SUY LUẬN QUY NẠP

54

I. Quy nạp hoàn toàn.

54

II. Quy nạp không hoàn toàn.


56

Bài 2 - PH ÉP CHỨNG MINH
A - QUAN NIỆM CHƯNG VẾ PH ÉP CHỨNG MINH.

m

B - CÁC QUY TẮC CỦA PH ÉP CHỨNG MINH VÀ NHỮNG LỎI

62

LÒGIC THƯỜNG GẶP TRONG CHỨNG MINH.
I. Quy tắc đối với luận đề.

62

II. Quy tắc đôi với luận cứ.

63

III. Quy tắc đối với luận chứng.

63

c - VỂ BÁC BẺ VÀ CÁCH BÁC BẺ

64

BÀI 3 - GIẢ TH U YẾT

1. Bản chất của giả thuyết và cấu trúc lôgic của giả thuyết.

65

2. Các dạng giả thuyết.

67

3. Xây dựng giả t h u y ế t .

68

4. Kiểm tra giả thuyết.

68

5. Vấn đề số lưọTig các giả thuyết và các giả thuyết mâu thuần.

69

PHẨN THỨ NĂM

71

TỔNG K Ế T
Tài liệu tham khảo

77



ĐỐI TUỢNG, NHIỆM v ụ , Ý NGHĨA
CỦALÔGIC HỌC

I - Thuật ngữ "lôgic" thường được sử dụng với 3 nghĩa sau đây :
1. Để chỉ những mối liên hệ tất yếu có tính quy luật giữa các sự vật và các
hiện tượng của giới hiện thực, đó là "lôgic khách quan
2. Để chỉ những mối liên hệ tất yếu, có tính quy luật giữa các ý nghĩ, các tư
tường trong tư duy, trong lập luận, đó là "lôgic chủ quan".
3. Để chỉ một bộ môn khoa học nghiên cứu về tư duy. Đó là lôgic học. Thuật
ngữ lôgic nguyên là một từ gốc Hy - Lạp Ckoỵoq) có nghĩa là khoa học về tư duy,
và từ này lại bắt nguồn từ một từ khác của tiếng Hy - Lapk (XOỴOC) có nghĩa là
"từ", "lời", "trí tu ệ ”, " lập luận".
lỊ^ Lôgic học là "khoa học về tư duy”. Nhưng nghiên cứu tư duy không phải
chỉ có lôgic học, mà còn nhiều khoa học khác nửa, như tàm lý học, sinh lý học
thần kinh cáp cao ... Cần phân định rõ ranh giới giữa lôgic học với các khoa
học khác trong việc nghiên cứu tư duy thông qua việc làm sáng tỏ quan niệm
lôgic học vể tư duy.
1.

"Từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng" (Lê nin). Nhận thức của

con người phải trải qua "trực quan sinh động" mới tới "tư duy trừu tượng".
ở giai đoạn trực quan sinh động, con người sử dụng các giác quan và các
trung khu tưomg ứng của vỏ bán cầu đại não để phản ánh đối tượng thuộc giới
hiện thực, tạo ra những hình ảnh cảm quan trực tiếp về các sự vật và các hiện
tưọfng được phản ánh. Hệ thống các hinh ảnh này chúng ta gọi là hệ thống "ánh
phản'^' trực giác". Anh phản trực giác tồn tại dưới dạng các cảm giác, tri giác va
biểu tượng ;
- Cám ẹiác : Là phản ánh về thuộc tính, tính chất riêng lẻ nào đó của đối
tượng, được tạo ra khi đôi tượng củng thuộc tính ấy tác động lên giác quan.

- Tri giác ; Là ánh phản tương đối hoàn chỉnh về đối tưọfng như một chỉnh
thể, được tạo ra khi đối tượng tác động lên giác quan.
CJJ Thuật ngứ "ánh phản "ở đày được đùng trong sự phán biệt và trong mòi lién hệ với
thuật ngữ "ánh p h á n "củng tượng tự như thuật ngứ "ảnh chụp" được dùng trong sự phán
biệt và môi liên hệ với thuật ngứ "chụp ảnh" vậy "phàn ánh" là từ dùng đ ế chì hoạt động
nhàm tạo ra các "ánh phản" về đôi tượng được phán ánh, còn "ánh phản" là từ dung đ ế chi
sán phàm thu được của hoạt động phàn ánh này.
-

3

-


-

Biểu tương : Cũng la hình ánh, là ánh phản về các thuộc tính, các tinh chất

riêng lẻ của đối tượng, hoặc về bản thân đối tượng như một chỉnh thế, nhưng
những hình ảnh đấy được tạo lập trong não ta khi vắng đối tượng khi đối tượng
không trực tiếp tác động đến giác quan của chúng ta.
Hệ thống ánh phản trực giác có chức năng nhận thức xác định, nhưng còn hạn
chế, vì các ánh phản ấy mới cho con người biết được về các sự vật hiện tượng cùng
những tính chất nào mà ta có thể cảm nhận trực tiếp bằng giác quan thôi. Cũng do
vậy ánh phản trực giác mang tinh chất đơn nhất và trực tiếp.
2.

Thông qua hoạt động thực tiễn con người nhận biết ra được nhửng thực

tính, tinh chất của sự vật và hiện tượng, nhận biết ra cái chung của sự vật này

với sự vật và hiện tượng, nhận biết ra cái chung thuộc tính, tính chất cứa sự vật
và hiện tượng khác. Để đáp ứng những đòi hỏi của hoạt động thực tiẻn, con
người đả tạo ra và sử dụng những tín hiệu để cô định lại điều hiểu biết ây và đi'
trao đổi với những người xung quang. Những hiểu biết đả được tín hiệu hóa như
vậy gọi là ánh phản lý tính. Các ý nghĩ của con người về đôi tượng nhặn thức
chính là những hiểu biết như thế. Nhửng hiểu b i ế t , những ánh phản lý tinh
này khác về chất so với các ánh phản trực giác. Chúng là những ánh phán gián
tiếp và khái quát về đối tượng. Chinh nhờ được tín hiệu hóa mà các ánh phản lý
tính có được tính chât gián tiếp và khái quát ấy.
Hệ thống các ánh phản lý tính này sẽ tồn tại khi hệ thần kinh trung ương
trong con người hoạt động; được tạo lập thông qua hoạt động thực tiền ; được
định hình và thể hiện ra bằng phưofng tiện tín hiệu, phản ánh về cái chung của
các sự vật và hiện tượng, giứ vai trò làm kim chỉ nam cho hoạt động thực tiễn
cùa con người và có khả náng hoạt động sản sinh ra tri thức mới, hệ thống ánh
phản như vậy được chúng ta gọi là tư duy trừu tượng. Hệ thông tin hiệu tươriK
ứng với tư duy trừu tượng. Hệ thông tín hiệu tưomg ứng với tư duy trừu tượiiịí
ấy chúng ta gọi là ngôn ngữ, cho nên như Mác n ó i : "Ngôn ngữ là hiện thực trựf
tiếp của tư tường
Chung ta có thể hmh dung tư duy trưu tượng trong hệ thòng bộ 5 sau đá>

\

G>
HOA

-4 -


Trong sơ đồ


trên các yếu tò .

1 - Để chỉ giới hiện thực với các sự vật và hiện tượng khác nhau trong đó
như là đối tượng nhận thức của con người.
2 - Để chỉ hệ thần kinh trung ương, chỉ bộ não hoạt động của con người như
là cơ quan tư duy, là cơ sở vật chất cho sự hình thành và tồn tại cùa các tư
tưởng, ý nghĩ.
3 - Để chỉ hoạt động thực tiễn, sự tiếp xúc tác động qua lại giữa con người
VỚI thẻ giới xung quanh m a con ngươi la chu động đẽ cái tạo thè giới áy phục vụ

cho nhu cầu sống của con người, ở đây, hoạt động thực tiễn đóng vai trò la
phưomg thức để hình thành phản ánh lý tinh, để tạo lập tư duy.
4.- Hệ thống tin hiệu hany ngôn ngữ như là phưong tiện vật chất để định
hình và thể hiện tư duy.
5 - Hệ thống ánh phản lý tính - tư duy trừu tượng của con người phản ánh về
giới hiện thực.
Có thể nói ngắn gọn : Tư duy trừu tượng là hệ trí thức hoạt đông sán sinh
các tri thức phản ánh về đối tượng.
III - Như một yếu tô chỉ hình thành và tồn tại được trong mối lién hệ hữu
cơ, tâ t yếu với các yếu tố khác thuộc hệ thông bộ 5 trên dây, tư duy trừu tượng
được nhiều ngành khác học khác nhau nghiên cứu :
1.

Chang hạn, Triết học xem xét tư duy (yếu tô sô 5) trong quaa hệ VỚI thíV

giới khách quan (yêu tô sò u . Dưới góc độ vấn đế cơ bán ciia Triết học. Sinh ly
học thần kinh cấp cao thì xem xét tư duy trong quan hệ với hoạt động sinh ly
của bộ não người (Yếu tò sỏ 2), ngôn ngứ học thi giải quyết các vấn đề có lièn
quan tới mòi quan hệ giữa tư duy với các tín hiệu ngôn ngửíyếu tò sô 4)v.v...
N 2. Lôgic học là một "khoa học vể tư duy", nhưng là khoa học nghiên cứu tư

duy với tư cách là hệ thống ánh phản vể giới hiện thực được xem xét dưới góc
độ tính chân thực hay giả dôi của các ánh phản ấy. Có thể nói "ván để cơ bàn”
của lôgic học là vấn đề tính chân lý của tư tưởng.
Khi đứng về góc độ tinh chân thực hay giả dối của tư tưởng, cùa ý nghĩ để
xem xét tư duy, lôgic học có nhiệm vụ phải trả lời cho các càu h ỏ i : Tư duy được
cấu tạo từ những yếu tô gi ? Bản thân tư duy và các yếu tô cấu thành nó được
hình thành, tồn tại, biến đổi và phát triển ra sao ? Chúng có liên hệ gi qua lại
'với nhau ? Chúng chịu sự chi phối cùa những quy luật gì ? Và chúng hoạt động
như thê nnào để phản ánh giới hiện thực ? v.v...
2.1. Khi tim cách trà lòi cho các cáu hói trên đày, lôgic học có thể xem tư duv
-5


PHẠN THỨ HẠỊ

CÁC Y ẾU TỐ CẤU THÀNH
CỦA T ư DUY TRỪU TƯỢNG.

Bài 1 : Ý NIỆM VÀ KHÁI NIỆM
A - Ý NIỆM
Một trong những đơn vị cấu thành của tư duy trừu tưọfng là ý niệm - Ý niệm
là một hình ảnh, một ấn tượng đã được ngôn từ hóa đê phàn ánh về đòi tượng,
đó là ánh phản tồn tại dưới dạng một từ hay một cụm từ.
Nội dung phản ánh của ý niệm còn thuần túy là một nội dung trực giác, tức
là còn phải nhờ vào hoạt động của các giác quan để cảm nhận một cách trực
tiếp nội dung này.
Nhưng phương thức phản ánh của ý niệm là ngôn từ hóa, nên ý niệm khác
về chất so với ánh phản trực giác : Đó đã là ánh phản gián tiếp và khái quát vể
đối tượng.
Thông qua hoạt động thực tiễn, các thuộc tính, tinh chát, các môi quan hệ

và liên hệ khác nhau của đôi tượng được bộc lộ ra và được con người nhận thức,
hình thành nên các ý niệm khác nhau phản ánh về đối tượng. Sự phản ánh cứ
phong phú, sâu sắc thêm mãi, cho tới lúc các ý niệm này liẻn kết lại thành hệ
thống, tuân theo những quy luật xác định, phản ánh được tương đối toan diện
về đối tượng, phản ánh dđược cái chung cái bản chất cứa đôi tưọng, và nhờ thế,
có thể trờ thành kim chỉ nam cho con người hoạt động thực tiễn trong quan hệ
với đôi tưọmg ấy. Hệ thông ánh phản như vậy chúng ta gọi là khái niệm.

B - KHÁI NIỆM
^ I - ĐẶC ĐIỂM CHUNG CỦA KHÁI NIỆM
Khái niệm về đôi tượng nào đó là hiểu biết tưofng đôi toàn diện và có hệ
thống về bản chất của đòi tượng ấy, có thê chỉ đạo hoạt động thực tiễn cùa con
người trong quan hệ với đôi tượng này.
© Khái niệm là một đơn vị tồn tại và hoạt động cơ bản của tư duy. Nó cỏ
những điểm đặc trưng sau đây ;
1.1. Khái niệm phải là một hiểu biết tưofng đôi toàn diện về đôi tượiig, phản
-8-


ánh được nhiều chiều, nhiều khía cạnh khác nhau, có khi đôi lập nhau của đối
tượng này. Với tư cách là một khái niệm về đôi tượng, sự hiểu biết của ta về đối
tưọrng ấy phải khắc phục được tính phiến diện một chiều,trong việc phản ánh
đôi tưcỵng, thoát khỏi được sự hiểu biết kiểu "Thầy bói xem voi"
1.2. Sự hiểu b iế t trong khái niệm phải lá một sự hiểu biết có hệ thông
về đôi tượng; những hiểu biết này phải được tổ chức lại, liên k ế t lại với
nhau thành một khôi chỉnh thể thông nhất, trong đó nhứng bộ phận không
đứng cạnh nhau m ột cách rời rạc, cô lập nhau kiểu liệ t kê đơn thuẩn mà
phải liên h ệ, gắn bó với nhau, chi phôi lần nhau cả về m ặt nội dung phản
anh lẫn m ặt cơ cấu lôgic của chúng.
1.3. Những hiểu biết trong khái niệm phải là những hiểu biết về cái chung,

c ai tất yếu, cái bản chất của đối tượng chứ khái niệm không được chứa những
hiếu biết về những cái thuần túy có tính chất ngẫu nhiên bề ngoài, không bản
chất của đôi tượng.
1.4. Khái niệm phải được cấu thành từ nhửng hiểu biết chắc chắn đã được
sang lọc của ta về đôi tượng, những hiểu biết này chúng ta có thể lý giải được
IIỘI dung phản ánh và chứng minh được tinh chân thực hay giả dối cứa chúng, ở
khái niệm tư duy không chấp chứa những hiểu biết còn có tính chất mơ hồ,
ị)hỏng đoán hoặc cái mới thuần túy miêu tả đối tượng ở mức "thấy sao nói v ậ y '
mà chưa có sự chứng minh, giải thích về nội dung của điều hiểu biết ấy.
1.5. Những hiểu biết ở khái niệm phải chỉ đạo được thực tiễn của con người
(lạt kết quả trong quan hệ với đối tượng mà khái niệm ấy phản ánh. Khi đã co
khái niệm về đối tượng thì hoạt động thực tiễn của chúng ta sẽ trở thành hoạt
ctòng tự giác, không những ờ khía cạnh chúng ta ý thức được về mục đích cần
itat tới của hoạt động này, mà chủ yếu còn ở khía cạnh là chúng ta nấm được
l)an chất, nắm được những quy luật khách quan quan chi phối đối tượng và dựa
vao sự hiểu biết về nhứng quy luật ấy mà chúng ta tìm ra được phương tiện va
t ách thức tổ chức hành động của mình để đạt tới mục đích đá đặt ra, bắt đối
t ượng phục vụ cho cuộc sống của cúng ta.
Với những nét đặc trưng như vậy, "Khái niệm là sản phẩm cao nhất của
não" (LÊNIN) là kết quả tôi cao cuô'i cùng của nhận thức con người ờ giai đo;ui
I ư duy trừu tượng trước khi chuyển sang hoạt động thực tiền.

II. NỘI HÀM VÀ NGOẠI DIÊN CỦAKHÁl M ỆM :
Về m ặt câ'u tạo, mỗi khái niệm đều do hai bộ phận cảu thành lá nội ham
\a ngoại diên.
-

9

-



1. N ội h à m của k h á i n iệm là nội dung hiểu biết hàm chứa trong khái niệm,
đó chính là tổng hợp của những hiểu biết khác nhau đã hinh thành trong tư duv
ta, phản ánh về bản chất của đối tượng. Những hiểu biết áy đã có thê diễn đạt
thành lời, trả lòfi được cho các câu hỏi đối tượng mà khái niệm phản ánh là cái
gi ? Nó như thê nào ? các yếu tỏ nào cấu thành nèn nó ? Nỏ hoạt động ra sao va
chịu sự chi phối của những quy luật gì ? v.v... Nhưng tổng hợp của những hiểii
biết như thê về đối tượng thì cũng chinh là khái niệm về đối tượng. Cho nên co
thể nói nội hàm của khái niệm cũng chính là khái niệm, nhưng là khái niệm
được xét dưới góc độ phân xẻ nội tại của nhửng tri thức tạo nên nó; khi nó tới
một hàm là chúng ta muốn nói tới khái niệm được kết thành từ những tri thức
cụ thê gì. Còn khi nói tới khái niệm là chúng ta muôn nói tới những tri thức,
những hiểu biết cụ thể được kết thành khối thống nhất tạo nên một chinh the
ánh phản về đối tượng, tức là chúng ta muốn xem xét sự hiểu biết cúa ta về đôi
tượng không phải như những hiểu biết khác nhau, mà chỉ như một hiểu biết,
một hình ảnh hoàn chỉnh đã đạt tới để phản ánh về đỏi tượng.
Quá trình hình thành khái niệm chinh là quá trình hinh thành nèn nội hàm
của nó. Và khi trong tư duy mỗi khái niệm đã được định hinh đê phản ánh vẽ
đối tượng, thì khái niệm ấy phải có nội hàm cùa nó. Không thể nào có khái niệm
mà lại không có nội hàm. Nhưng về một đối tượng xác định nào đó thì không
nhất thiết là chỉ có một khái niệm duy nhất hinh thành trong tư duy để phản
ánh về nó. Còn tùy ở góc độ xuât phát của hoạt động thực tiển và hoạt độnfí
nhận thức mà khía cạnh này hay khía cạnh kia của đối tượng được nòi lên như
là cái đặc trưng cho bản chât của đói tượng và được phản ánh trong tư duy tạo
nên nội hàm khác nhau phản ánh vế những khia cạnh khác nhau của cùng một
đối tượng, tức là trong tư duy có thè hinh thành những khái niệm khác nhau vé
củng một đối tượng. Nhưng những khái niệm ây không loại trừ lẫn nhau chúng
cũng không đứng cô lập nhau mà gắn bó với nhau, và tất cá chúng có thể liên
kết với nhau tạo nên một nội ham duy nhất của một khái niệm duy nhất phản

ánh về đối tượng. Sự phán tầng này tủy thuộc ở góc độ xem xét đôi tượng va
mức độ cần nhận thức về đôi tượng ở hoàn cảnh cụ thể. Tủy thuộc vào mức đo
phát triển của đôi tượng, mức độ phát triển của thực tiễn, vào tnnh độ, nănịí
lực nhận thức của chủ thể mà nội hàm khái niệm phong phú hay ngheo nàn,
nông hay sau, xa hay gần, chân lý khách quan.
2. N goại diên cùa k h á i n iệm là tập" hợp của nhứng đối tượng mà khái niệm
phản ánh, là lớp những đối tưọfng có bản chất được phản ánh trong nội hàm của
khái niệm. Sự phân biệt giữa ngoại diên với đôi tượng là sự phân biệt giữa tậj)
hợp với phần tử của.tập hợp.
-

10

-


Mỗi đối tượng là một phần tử tạo nên ngoại diên còn ngoại diên la lớp các
đối tượng, là tập hợp của các phần tử â'y.
Mỗi một hàm ứng với một ngoại diên xác định.
Tùy vào số lượng phần tử trong tập hợp, tùy vào số lượng đối tượng trong
ngoại diên, mà khái niệm có thể là khái niệm riêng (khái niệm đơn nhất) khái
niệm chung. Khái niệm riêng là khái niệm mà ngoại diên chỉ bao chứa một đối
tượng duy nhất. Sô lượng đối tượng trong ngoại diên bằng 1. Còn khái niệm
chung là khái niệm có nhiều đôi tượng chứa trong ngoại diên, sô lượng đối
tượng trong ngoại diên lớn hơn 1 : cả khái niệm riêng lẫn khái niệm chung đều
có một điểm chung là sô lưọmg đối tượng trong ngoại diên của chúng khác 0.
Người ta gọi đó là những "khái niệm thực", còn những khái niệm mà ngoại diên
cùa chúng có sô'đối tượng bằng 0 gọi là khái niệm "hư" hay khái niệm "trống ",
"rỗng".
Để xác định một khái niệm đã cho nào đấy là khái niệm trống hay không

trống thì cần phải chú ý tới lĩnh vực đối tượng được xét. Có những khái niệm
nêu xét ờ lĩnh vực đôi tượng này thi nó là khái niệm trống nhưng xét ở lĩnh vực
khác thi nó lại là khái niệrn không trông.
3.

G iữa n ội h à m và n g oại h à m diên của khái niệm có môi tương qua xác

định, gọi là quan hệ tỉ lệ nghịch. Nêu ngoại diên của khái niệm mở rộng ra, thì
những dâu hiệu đặc trưng trong nội hàm phải rút đi, còn nếu tăng các dâu hiệu
đặc trung trong nội hàm lên thi ngoại diên của khái niệm sẽ thu hẹp lại.
Khi nắm được một khái niệm nào đó chúng ta không những phải nắm được
nội hàm của nó, mà còn phải vạch chỉ ra được ngoại diên của nó nữa.

III. KHÁI NIỆM VÀ TỪ NGŨ
Là một yếu tố câu thành của tư duy, khái niệm không thể được định hình,
tồn tại và thể hiện, nếu thiếu các phương tiện ngôn ngữ. Từ, cụm tử và hệ
thống câu là những phương tiện ngôn ngữ được con người sử dụng để định hình
và thể hiện khái niệm.
1.

Mỗi ý niệm được định hình và tồn tại dưới dạng một từ hay một cụm từ.

Mà khái niệm là tập hợp của nhiều ý niệm khác nhau được tổ chức lại, được liên
kết lại với nhau theo những quy luật và quy tắc lôgic xác định để phản ánh đối
tượng, cho nên mỗi khái niệm phải được định hình và tồn tại dưới dạng một tập
hợp cùa nhiều từ hay cụm từ khác nhau được tổ chức, liên kết với nhau theo
-

11


-


những quy luật, những quy tăc ngữ pháp xác định. Tập hợp áy chinh là hệ thống
câu hay vàn bản được sử dụng để định hinh va thể hiện những hiểu biết chứa
trong nội hàm của khái niệm.
2. Đối với khái niệm thi hệ thống câu (văn bản), chỉ là phương tiện ngòn ngữ
được con người sử dụng để định hình và thể hiện khái niệm, thê hiện nội hàm
cùa nó, tức là mang tính chất tín hiệu đơn thuần. Nhimg VI là tin hiệu nên nó co
thể thay đổi tùy ý muốn của người sử dụng nó, và trong những điều kiện xác
định, người ta có thể rút gọn hệ thống câu ấy đến mức nó chỉ còn thuẩn túy la
một từ hay một cụm từ, trong trường hợp này, người ta nói rằng khái niệm được
thể hiện ra băng một từ hay bằng một cụm từ. Khi đó, về mặt lôgic, thì điều
quan trọng là phải phân biệt từ diễn đạt ý niệm hay khái niệm.
2.1. Có thể, một khái niệm được thể hiện bằng một từ (hay một cụm từ)
tương ứng, va, ngưực lại, mộl tư hay một cụm từ chi được sứ dụng để diễn đạt
một khái niệm tương ứng.
2.2. Cũng có thể một khái niệm thể hiện ra bằng nhiều hình thức từ (hay
cụm từ) khác nhau. Đây là trường hợp nhửng từ đồng nghĩa khác ám.
2.3. Lại cũng có thể có trường hợp một hình thức từ (hay cụm từ) nhưng
được sử dụng để diễn đạt nhiều khái niệm khác nhau. Đây là trường hợp nhửng
từ đồng âm khác nghĩa.
3. Khái niệm được dùng làm kim chỉ nam cho hoạt động thực tiẻn cùa con
người, mà từ lại là phương tiện thể hiện khái niệm, nên từ ngữ vai trò quan
trọng trong hoạt động thực tiễn, với tư cách là phương tiện, là công cụ để diễn
đạt khái niệm. Nhầm lẩn vai trò của từ với khái niệm sẽ là một lỗi lôgic dẫn tới
hậu quả có hại cho hoạt động thực tiễn .

^


IV. QUAN HỆ GIỮA CÁC KHÁI NIỆM
Có thể tìm hiểu quan hệ giữa các khái niệm về mặt nội hàm của nó, cũng co

thể tìm hiểu về mặt ngoại diên cùa nó. Nhưng nội hàm có tưomg quan xác định
với ngoại diên, nên các quan hệ này cũng có tương quan xác định với nhau.
Lôgic hình thức chủ yếu nghiên cứu quan hệ giữa các khái niệm về mặt ngoại
diên của chúng.
1.

Quan h ệ điều h òa : Là quan hệ giữa những khái niệm mà ngoại diên của

chúng ít nhất có một bộ phận trùng nhau, tức là có nhứng đôi tượng vừa nằm
trong ngoại diên của khái niệm kia lại vừa nằm trong ngoại dién của khái niệm
này.
-

12

-


Những khái niệm điều hòa lại có thể nằm trong quan hệ đồng nhất, lệ thuộc,
hoặc giao nhau.
1.1. Đồng nhất là quan hệ giữa các khái niệm có ngoại diên hoàn toan trùng
nhau. Đối tượng của khái niệm này cũng là đối tượng của khái niệm kia, va
ngược lại, đối tưọfng cứa khái niệm kia cũng là đối tượng cứa khái niệm nay.
1.2. Khái niệm nằm trong quan hệ lệ thuộc (hay còn gọi là quan hệ thứ bậc),
là những khái niệm mà ngoại diên của khái niệm này chứa gọn trong ngoại diên
cùa khái kia. Trong hai khái niệm ây cái nào có ngoại diên lớn hơn gọi là khái
niệm "chi phối" hay khải niệm "bậc trên", hoặc còn gọi la khái niệm "loại".

Khái niệm có ngoại diên nhỏ hơn gọi là khái niệm "lệ thực hay khái niệm 'bậc
dưới hoặc còn gọi "khái niệm c h ủ n g T r o n g một dãy liên tiếp các khái niệm lé
thuộc nhau của một khoa học cụ thể nào đấy, thì khái niệm nào có ngoại diên
rộng nhất được gọi là "phạm trù ”, còn khái niệm có ngoại diên rộng nhất được
gọi là "phạm trù", còn khái niệm có ngoại diên hẹp nhất là khái niệm "đơn
nhai .

1.3. Quan hệ giao nhau là quan hệ giữa khái niệm có một bô phân nao đo
trung vơi nhau.
2.

Quan hệ không điều hòa là quan hệ giữa những khái niệm mà ngoại diên

cúa chúng không có bộ phận nào trùng nhau, mà hoàn toàn tách rời nhau; nên
còn gọi các khái niệm này là khái niệm "tách ròri". Những khái niệm không điểu
hòa lại có thể nằm trong các quan hệ ngang hàng và mâu thuần.
2.1. Quan hệ ngang hàng là quan hệ giữa những khái niệm tách rời nhaii
nhưng tất cả chúng đều củng lệ thuộc một khái niệm loại chung nào đó.
2.2. Quan hệ mâu thuẫn là quan hệ giữa hai khái niệm tách rời trong đo
ngoại diên của chúng lấp đầy ngoại dièn của một khái niệm loại chung, còn nội
hàm của chúng thi cái này phủ định cái kia. Người ta gọi khái niệm mâu thuẫn
VỚI khái niệm nào đó là "phần bù" của khái niệm ấy, và gọi khái niệm loại

chung của hai khái niệm mâu thuẫn là khái niệm "vũ trụ". Nếu như ngoại diên
của khái niệm "trông” không bao chứa bất cứ một đối tượng nào của lĩnh vực
được xét, thì trái lại, ngoại diên của khái niệm "vũ trụ " bao chứa mọi đối tượng
có thể có của lĩnh vực đối tượng đang được khảo sát.
Nếu dùng đường tròn để biểu diễn ngoại diên của các khái niệm, thì có thể
trinh bày quan hệ giứa các khái niệm bằng sơ đồ sau đáy :


13-


a/ Các khái niệm điều hòa {lây các chữ cái in hoa A và B để ký hiệu các khai
niệm).

(3Ì)
A đồng nhất với B

A giao với B

b/ Các khái niệm không điều hòa ;


A tách rời B

A mẩu thuẫn với 7 A ( 7A
cũng có thể ký hiệu bằng A'' đọc
là phần bù của A)

V. CÁC PHÉP LÒGIC XỬ LÝ KHÁI NIỆM.

1. Mở rộng và thu hẹp khái niệm.
1.1.

M ở rộn g k h á i n iệm là thao tác lỏgic xuảt phát từ một khái mệm nào đó,

đi tới một khái niệm khác có ngoại diên rộng hơn, bao chửa ngoại diên cùa khái
niệm xuất phát như một bộ phận cùa mình, băng cách bớt đi một phán dấu hiệu
đặc trưng nào đó trong nội hàm cùa khái niệm xuất phát ma phần dấu hiệu nay

phản ánh các thuộc tính và tinh chất chỉ thuộc riêng về những đỏi tưọng của
khái niệm xuất phát. Mở rộng khái niệm chính là thao tác đi từ khái niệm
chủng để tới khái niệm loại.
-14 -


1.2. Thu h ẹp k h á i niệm là thRO tàc ngược viĩi mờrộnỊỊ tức la đi từkhai niẹm loại
la khái niệm xuât phát để tới khái niệm chủng nào đó băng cach thêm vao nội ham
cứa khái niệm xuât phát những dáu hiệu phản ánh các thuộc tinh va tính chất chi
thuộc riêng về nhóm những đối tượng của khái niệm chúng cân đi tới.
Giới hạn cuôi cùng của thao tác mở rộng khái niệm la phạm trii. (liứi hạn
cuôi cùng của tao tác thu hẹp khái niệm là khái niệm đơĩi nhất.

2. Phép định nghĩa khái niệm
2.1. Đ ịnh n g h ĩa k h á i n iệm là thao tác lògic nhằm vao nội ham cua khái
niệm để định ra phần cơ bản nhất trong một hàm ấy, sao cho từ đó có the suy ra
được những phần khác còn lại trong nội hàm khái niệm nay va căn cứ vao đó co
thể phán biệt được đối tượng nằm trong ngoại diên cùa khái niệm áy với những
đòi tượng khác khòng chứa trong ngoại diên này.
Một phép định nghĩa có tính chất khoa học phải thực hiện được hai nhiệm
vụ : Định hình nội hàm và loại biệt ngoại diên của khái niệm . Đinh hinh nội
hàm tức là phải định nghĩa thế nào để, căn cứ vào định nghĩa, người ta co th(‘
vạch ra được các dấu hiệu, các hiểu biết chứa trong nội hàm cúa khái niệm được
định nghĩa phản ánh về đôi tượng. Loại biệt ngoại diên là định nghĩa ma xác
định được rằng một đôi tượng đã cho nào đó có nằm trong ngoại diên cua khái
niệm được định nghĩa hay không.
Về mặt cấu tạo, mỗi định nghĩa được cấu thành từ hai bộ phận : Khai niệm
được định nghĩa trả lời cáu hỏi "Định nghĩa cái gì?" và khái niệm dùng để địnli
nghĩa trả lời câu hỏi "lấy cái gì để định nghĩa?".
2.2. P h ép địn h n g h ĩa p h ả i tuân th eo c á c qu y tắc sau đ ày :

2.2.1. Đ ịnh n g h ĩa p h ả i càn đôi, tức là ngoại dién của khái niệm dung đ(‘
định nghĩa phải vừa băng ngoại diên của khái niệm đươc định nghĩa . Con nêu
nó rộng hơn ngoại diện quả khái niệm được định nghĩa th) đo la định nK^hĩa qu;t
rộng, và nếu lại hẹp h(yn thi đó là định nghĩa quá hẹp.
2.2.2. Đ ịnh n g h ĩa k h ô n g được vòng quanh.
2.2.3 Tùy th eo k h ả n ăn g định n ghĩa k h ò n g nén là phu âm h.
2.2.4.

Đ ịnh n g h ĩa p h ả i được p h á t b iếu tường m inh, tranh ví von va tranh

nêu những dấu hiệu có thể suy ra được từ những dấu hiệu khác đã nêu trong
định nghĩa.
2.3. T rong k h o a học, thường g ậ p n hữ n g k iểu định n g h ìiì:
2.3.1.

Đ ịnh n g h ĩa qu a lo ạ i và k h á c b iệ t chúng, ở định nghĩa kiếu này, khái

niệm dùng đe định nghĩa sẽ bao gốm 2 phần, một phần nèu khái niệm loại cua
-

15

-


khái niệm được định nghĩa, còn phần kia nêu dâu hiệu phãn biệt khai niệm
đ ư ợ c đ ị n h n g h ĩ a n h ư là m ộ t chvìng t r o n g loại đã n ê u khíic V(ji c á c c h ú n g k h á c

cũng chứa trong loại ấy như thế nào
2.3.2. Định nghĩa qua quan hệlci kiêu định nghĩa thưoiig được sứ dụng để định

nghĩa các phạm trù. ở định nghĩa kiều này trong khái niệm dung để định nghĩa,
người ta nêu quan hệ đặc trưng cùa các đối tượng trong ngoại diên cua khai niệni
được định nghĩa với những đôi tượng khác mà người ta sử dụng để so sánh
2.3.3. Định nghĩa p h á t sinh là kiểu định nghĩa trong đo ờ khái niệm dùng đ('
định nghĩa, người ta nêu lẽn phương thức hinh thành, phưong thức phát sinh ra
đối tượng của khái niệm được định nghĩa.
Ngoài các kiểu định nghĩa thường gặp đả nêu trẽn, trong một sỏ trường
hợp, người ta còn dũng một sô thao tác khác thay thê cho phép định nghia nhit
; vạch chỉ, miêu tả, so sanh, nêu đặc trưng v.v...

3. Phép phán chia khái niệm:
3.1. P hán chia k h á i n iệm là thao tác ỉôgic n h ấm vào n g oại diên cùa nó đ('^
vạch ra n goại diên của các k h a i niệm chú n g k h á c n hau bao chứa trong đó. Như
vậy, phép phán chia không thê thực hiện được với khái niệm đơn nhât (khái
niệm riêng). Mà chi thực hiện được với khái niệm chung thôi. Mỗi phep phân
chia có ba bộ phận; Khái niệm được phán chia, cơ sờ của phản chia và khái
niệm cúa thành phần thu được khi phán chia.
3.2. C ác quy tắc cùa p h é p ph àn ch ia .
3.2.1 P h ép p h àn chia p h á i cân đôi, tức là tổng ngoai diên của các khai niệni
thành phần phải vừa băng ngoại diên của khái niệm được phân chia .
3.2.2 K h ôn g được th ay đ ôi cơ sở của p h ep p h ãn chia .
3.2.3. Các k h á i n iệm thàn h phẩn thu được cúcì p h ép phún ch ia p h á i h ụ i trứ
nhau, tức ìà p h à i n ằm trong quan h ệ n gan g hảng.
3.2.4 P hàn chia k h ô n g được vượt cấp.
3.3. Trong sỏ các kiếu phán chia khái niệm thường gặp, có một kiểu phân
chia được gọi là phép nhị phân. Đây là phép phân chia, trong đó từ khai niệm
loại xuất phát, người ta thu được hai khái niệm chủng nằm trong quan hệ máii
thuẫn. Người ta thường sử dùng phép nhị phân trong trường hợp chỉ cẩn hưoiìịí
sự chú ý vào đối tượng thuộc ngoại dién của một khái niệm chứng xac địnli
trong khái niệm loại xuất phát, mà không cán (hoặc chưa thế ) phán biệt rạch

ròi các chủng khác còn lại trong k h á i niệrn ây .
- 1 6-


BÀI 2 PHÁN ĐOÁN

A ĐẶC ĐIỂM CHUNG CỦA PHÁN ĐOÁN.
Trong lôgic học, th u ật n gữ p h án đoán được sử dụ n g đ ê ch ỉ m ột tư tưỏng,m ột
ỵ n ghĩ đá đư ợc định tìinh tron g tư duy, p h ả n án h về đôi tượng m ả người ta cô
t h ể đ án h g iá được nó là chán thự c h a y g iả dôi. M ọi h iểu b iết, m ọi chi thức có
tro n g tư du y đ ều tồn tạ i dưới d ạ n g cá c p h á n đoán. P hán đoan chin h là đơn vị
p h ả n án h lỷ tính đ á m a n g tính c h ấ t chân thự c h a y g iá dối tron g sự p h à n ánh.
Mồi phán đoán đều có giá trị chân thực hay giả dõi xác định đặc trưng của nó,
người ta gọi đó là 'giá trị lògic" hay giá trị chân lý" cùa phán đoán.
Về mặt ngôn ngữ, bất ky phán đoán nào củng được định hình va tồn tại dưói
dạng một câu. Không có phán đoán trần trụi, tách thoát khỏi câu. Nhưng không
phải mọi câu đều diễn đạt phán đoán. Có những cáu như cáu mênh lệnh, cầii
khấn hay câu hỏi thông thưòfng (những câu hỏi không mang tính chất tu từ học)
thi không diễn đạt phán đoán, vì các câu ấy biểu hiện không mang tính chân
thực hay giả dối.
Mỗi phán đoán đều có đ ỏi tượng p h ầ n á n h xác định có n ội đu n g p h ả n án h
xác định về đôi tượng này, có h ìn h thức ngôn n g ữ x ảc định đê diẽn đạt, và có cư
cảu lô g ic x á c định tò’ chức nội dung phản ánh của nó.
Về mặt câu tạo, có phán đoán được kết thành những tử phán đoán khác; lại
co những phán đoán khòng Cấu thành từ phán đoán, mà cấu tạo nén tư các y
niệm. Phán đoán thuộc loại thứ nhất gọi là các p h á n đoàn p h ứ c biỵp, còn phán
đoán thuộc loại sau thì gọi lá p h á n đoán đơn hay là p h á n đoan c ơ sở.

B. PHÁN ĐOÁN



. c ả ỉ C à u LỎGIC c ủ a p h á n đ o á n đ ơ n ,

1. Các bộ phận cấu thành của phán đoán đon.
1.1.
Mỗi phân đoán đơn có đôi tượng phản ánh xác định. Bộ phận nào của
phán đoán ghi lại đòi tượng ây gọi là chủ từ lôgic cùa phán đoán và ký hiệu no
bằng chừ "S".
1.2

Khi suy nghĩ, nhận thức về đòi tượng đế hình thành phán đoán phản

ánh về nó, người ta bao giờ cũng lién tưởng tới những sự vật hay hiện tượng xác
định đá từng gặp, từng biết trước đây để xếp loại đôi tượng này; hoặc ghép nối,
đồng nhất đôi tượng với sự vật hiện tượng kia, đưa^pi)^ựỢỆg vàac,HỌgJjchúng, hoặc là loại trừ, tách đối tượng ra khỏi lớp 9ự VíệlẴ^lỉlệirtứệtogỉếí^

- 17 -


Bộ phận nào của phán đoán ghi lại Iơp sự vật hiện tượng như vậy thi được
gọi là vị từ ỉôg ic củ a phán đoán và được k ý hiêu bằní; chữ " P '.
1.3.

Bản thân động tác xếp loại đôi tượng như thế thi được thẻ hiện ờ một

bộ phận khác của phán đoán gọi là h ệ từ ỉôgic củ a phán đoán. Hệ tư tốn tại
trong phán đoán như là mối nôi giữa chủ từ và vị từ.

2. Chất lượng của phán đoán đơn.

2.1. Người ta gọi hệ từ lôgic là đặc trưng về chất của phán đoán đơn, hay
cũng gọi một cách đơn giản là chất của phán đoán. Hệ từ chỉ tồn tại dưới hai
dạng:
Hoặc là thể hiện động tác ghép nối, đồng nhất đôi tượng cúa của s vao cùng
lớp với sự vật hiện tượng p, hệ từ như vậy gọi là h ệ từ k h ẳ n g đ ịn h , hoặc là thể
hiện động tác loại trừ, tách rời đối tượng của s khỏi lớp sự vật hiện tượng p, hô
từ như vậy gọi là h ệ từ p h ủ định.
2.2

Quan hệ về mặt sô lượng giữa những đối tượng được phán đoán trực tiếp

phản ánh trong nội dung của nó với lớp đối tượng mà người ta đề cập tới khi
định hình và phát biểu phán đoán nay, thì được gọi là đặc trưng về lượng của
phán đoán hay còn gọi là lượng của phán đoán.
Khi những đối tượng được phán đoán phán ánh chỉ chiếm một bộ phận trong
lớp đòi tượng mà người ta đế cập tới thì lượng cùa phán đoán la bộ phận. Còn
trong trường hợp chúng chiếm toan bộ lớp đôi tượng mà người ta đề cập tới, thi
lượng gọi la toàn thể.

3. Phân chia phán đoán đ3.1

Nếu chỉ dựa vào chât cúa phán đoán đơn đẽ phán chia thi người ta chia

phán đoán đơn thanh hai loại : phán đoán có hệ từ khẳng định được gọi là p h aiì
đoán k h ẳ n g địn h, và pỉi in đoán có hệ từ phù định đươc goi là p h a n đ oan ph ú
định.
3.2. Nếu dựa vào lượng để phàn chia thi ngươi ta cũng chia phán đoán đơii
thành hai loại: phán đoán bộ phận là phán đoán có lượng bộ phận và phán đoán
toàn thể là phán đoán có lượng toàn thê.

3.3. Nếu hợp cả lượng và chất đê làm cơ sở phân chia, thi ta có thể chia phán
đoán đơn ra làm 4 loại:
- Phán đoán khẳng định - toàn thể, ký hiệu là A.
- Phán đoán khẳng định - bộ phận, ký hiệu là I.

- 18-


- Phán đoán phủ định - toàn thể, ký hiệu ìà E.
- Phán đoán phù định - bộ phận, ký hiệu là o.

4.

Ký hiệu các bộ phận cấu thành của phán đoán đcm.

Bên cạnh s và p dùng để ký hiệu cho chủ từ lôgic và vị từ lôgic của phán
đóán (có tên gọi chung là danh từ lôgic phán đoán), ngưòi ta còn dùng các tín
hiệu sau đây để ký hiệu cho châ't và lượng của phán đoán đơn.
- Chất khẳng định - ký hiệu bằng chữ "là"
- Chất phủ định - ký hiệu băng chữ " không là '
- Lượng toàn thê - ký hiệu bằng chử "tất cả ’
- Lượng bộ phận - ký hiệu bằng chữ "có những"
Với các ký hiệu ấy người ta có thê biêu diễn cơ Cấu lògic của các loai phán
đoán như sau;
Phán đoán A có dạng: "Tất cả là s là P"
Phán đoán I có dạng: "Có những s là P ”
Phán đoán E có dạng: "Tât cả s không là P"
Phán đoán o có dạng: "Có nhửng s không là P"
Đó là mô hình cơ cấu lôgic của các loại phán đoán đơn
II.


Tính chu diên của các danh từ từ lôgic trong phán đoán

Người ta gọi chủ từ lôgic và vị trí lôgic trong phán đoán đơn là danh từ lôgio
cùa phán đoán ây. v ề mặt chức năng nhận thức, mỗi danh từ ghi lại một lớp svr
vật hiện tượng xác định. Chủ từ ghi lại lớp đối tượng hư(yng tới đê phan anh,
con VỊ tư ghi lại lớp sự v ậ t hiện đã được n h ậ n biết từ tr ướ c va được người ta

liên tường đế định loại cho lớp đôi tượng nói trên. Quy ước goi lorp đòi tưnnị.;
iư ơ n g

ứ n g

VƠI c h u





s ,

lởp s ự

v ậ t

h iện

tư ợ n g

ứ n g


vị từ

là lớp

p.

Bản thân mỗi phán đoán đơn, với nội dung xác định cùa nó, trực tiêp phản
anh những đối tượng nhất định trong lớp s. Sô lượng những đòi tượng ây - tức
la những đối tượng trực tiếp phản ánh trong nội dung trong phán đoán, được
lây trong sô những đối tượng thuộc lớp S; có khi chúng chiếm toàn bộ đối tượng
cùa lớp S; nhưng cũng có khi chúng chỉ chiếm một phần đỏi tượng trong lớp s
thôi, điều này phụ thuộc vào nội dung phản ánh cụ thể của phán đoán.
Như vậy phân biệt 3 nhóm đôì tượiig;
- Lớp s , tưcmg ứng với chù từ phán đoán.

- 19-


- Lớp p, tương ứng với vị từ phán đoán
- Nhóm đối tưong lây trong lớp s vá được trực tiếp phàn ánh trong nội dun^'
cùa phán đoán quy ước nhóm nay la ' SP
Mòi tương quan về mặt sô lượng giữa nhóm SP với lớp s va lớp p sẽ làm
thành một nét đặc trưng về mặt lỏgic cho bản thân các danh từ lógic s và p. Đặc
trưng ấy gọi là tính chu diên (có người gọi là tính phổ cập) cùa các danh từ lôgic
trong một phán đoán đơn.
Danh từ lôgic s (hoặc P) dẽ được gọi là một danh từ chu diên (danh tứ pho
cập), nếu như xét trong quan hệ với nhóm SP của phán đoan, ngươi ta có thè đe
cập tới, đụng chạm tới (trực tiếp hay gián tiếp) - toằn-bộ đói tượng trong lớp sư
vật tương ứng với danh từ ấy - tức lớp s (hoặc lớp P). Ngươc lại một danh nào

đó của phán đoán, nếu xét trong tương quan VỚI nhóm SP, người ta đã không
đụng chạm tới toàn bộ, mà chỉ đụng chạm tới một phần những đôi tượng trong
lớp sự vật tương ứng VỚI danh từ ây, thi danh tử này gọi là k h ó n g p h ổ cập, hay

k h ô n g chu diên.
Cũng có thê nói theo một cách khác : nêu nhóm SP cua phán đoán được
đồng nhát hay loại trừ với toàn bộ đối tượng cùa lớp s (hay lớp P) thi danh tư
lỏgic s (hay danh từ P) tưoìig ứng sẽ được gọi là danh từ chu diên. Ngược lại,
nêu nhóm SP chỉ mới đống nhát (hay loại trừ) với một bộ phận đối tượng của
lớp sự vật hiện tượng đó, thi danh từ lògic tương ứng với lớp sự vật hiện tượriịỊ
ấy sẽ là một danh từ không chu diên.
Tinh chu diên của danh từ lỏgic trong phán đoán đ(m giữ vai tro quan trọnịí
trong việc chi phối sự liên kết, sự hoạt động của các danh từ ây trong tập luận,
trong phép suy luận.
Dưới đáy là bản ghi tinh hinh chu diên của các danh từ lôgic trong các loại
phán đoán đơn khác nhau trong bản này dấu "+" đé chi danh từ chu dièn, còn
dâu

để chỉ danh từ không chu diên);
Loại phán đoán.

Chù từ lôgic (S)

P.Đ.A: "Tất cà các s là P"

V Ịtư lò g ic ( P )

+

P . Đ .I :" C ó S l à P "

P.Đ.E: "Tất cả các s không là P"

+

+

P .Đ .O :" C ó S k h ô n g là P "

-

+

Như thế, chù từ cùa phán đoán sẽ chu diên khi đó là chủ từ của phán đoán
toàn thể là A và

VỊ từ của phán đoán sẽ là danh từ chu diên khi đo là vị tư

của phán đoán phủ định E và o .

-20-


Va như vạy, Iiiuon xac định xem tình hình chu aiên của chù từ ở phán đoán
ra sao, thì chỉ cần để ý tới 'ương cua phán đoán. Còn muôn xác định tmh hmh
chu diên của vị từ thi chỉ can để ý tởi chất của phán đoán.

III. QUAN HỆ GIỮA CÁC LOAI PHÁN ĐOÁN ĐƠN
HÌNH VUÔNG LÒGIC
1. Q uan h ệ m ẩu thu ẫn là quan hệ giữa các phán đoán ngược nhau về ca
lượng lẩn chât. Như vậy các cặp phán đoán A với 0 - E với I là những phán đoáii

mẫu thuẫn . Hai phán đoán mâu thuẩn bao giờ cũng có giá trị lôgic đôi lập
nhau; chúng không thể cùng chẩn thực hay cùng giả dối.
2. Q uan h ệ đ ôi c h ọ i la quan hệ giữa những phán đoán khác nhau vế chất
nhưng có lượng giống nhau.
2.1. Quan hệ giữa phán đoán A với E gọi là đối trọi trên. Hai phán đoán đôì
trọi trên không thê cùng có giá trị chân thực nhưng lại có thê củng có giá rị gia
dôi.
2.2. Quan hệ đỏi chọi giữa các phán đoán I và o gọi là quan hệ đối chọi dưới.
Các phán đoán nằm trong quan hệ đối chọi dưới không thể cùng giá trị lôgic gia
dối nhưng lại có thể cùng có giá trị lôgic chân thưc.
3. Q uan h ệ thứ b ậ c (còn gọi là quan hệ lệ thuộc) - la quan hệ giữa những
phán đoán giống nhau về chất, nhưng khác nhau vể lưọfiig. Đó là quan hệ giữa
phán đoán A với I và E với o . Trong hai phán đoán có quan hệ thứ bậc, thì phán
đoán có lượng toàn thể là phán đoán bậc trên. Phán đoán kia gọi là phán đoán
bậc dưới.
Khi phán đoán bậc trên có giá trị chân thực, thi nhất thiết phán đoán bậc
dưới cũng có giá trị chân thực. Khi phán đoán bậc dưới có giá trị già dõi, thi tất
yếu phán đoán bậc trén cũng có giá trị giá dôi.
A

Đôi chọi trẽn E

Người ta có thê biểu diẻn các loại quan hệ
néu trên giữa các loại phán đoán đơn bằng một
hình gọi là "hinh vuông lôgic" trong đó các cạnh
đường chéo thể hiện những quan hệ khác nhau
giữa các phán đoán, còn các đỉnh là loại phán
đoán A, I, E, o.

-21 -



a

b

B= aAh

ch

ch

ch

ch

gi

ch

Dùng " A " ký hiệu cho liên từ lògic giao,
chúng ta có thể trinh báy sự phụ thuộc cùa giá
trị lôgic phán đoán giao vào giá trị lỏgic các
phán đoán thành phần ớ báng bẽn

gi

Đặc trưng của phán đoán giao là nó chỉ mang giá trị lôgic "chân thực" tron^
trường hợp khi tất cả các phán đoán thành phần của nó đều mang giá trị "chân
thực .

1.3.
Quan hệ "lựa chọn tồn tại" là quan hệ giữa hiện tượng (A) và hiện tượng
(B) v.v... trong đó bắt buộc phải có hiện tượng nào đó tồn tại ở phẩm chât nào
đó tồn tại ở phẩm châ't mà chúng ta được xét. Có hai kiểu lựa chọn tồn tại : lựa
chọn tuyệt đối và lựa chọn tương đối.
*L ự a ch ọn tu y ệt đ ối là lựa chọn giửa các hiện tượng (A), ÍB) nào đó, trong
đó n hất thiết phải có một hiện tượng tồn tại, nhưng sự tốn tại cùa hiện tượng
này lại loại trừ sự tồn tại của những hiện tượng còn lại.
*L ự a chọn tương đôi là quan hệ lựa chọn tồn tại giữa hiện tượng (A) và (B)
trong đó nhất thiết phải có hiện tượng nào đó tồn tại, nhưng sự tòn tại cua no
không loại trừ sự tồn tại của những hiện tượng còn lại. Quan hệ "lựa chọn tồn
tại' được phản ánh trong tư duy thành liên từ lôgic gọi là "liên từ lôgic tuyến ’
và có hai kiểu "liên từ lôgic tuyển" tương ứng là "tuyển mạnh" và 'tuyến yêu ’
phản ánh quan hệ lựa chọn tương đòi. Các liên từ lògic tuyến thường được diễn
đạt bằng các từ "hoặc là", "hay là" v.v...Về thirc chât, trong tư duy, liên từ lôgic
tuyến ghi lại quan hệ lựa chọn giá trị chán thực giữa những phán đoán thành
phần được nó nối kết đê tạo nên phán đoán phức hợp tuyến . Phán đoán phức
hợp tuyển cũng có hai loại lá phán đoán "phức hợp tuyến mạnh" vá phan đoán
' phức hợp tuyển yếu" do hai liên tư lôgic tạo nèn.
Đ ặc trư n g cùa p h á n đoán p h ứ c hợp tuyển m ạn h là nó chỉ mang giá trị lógic
chân thực trong trường hợp chỉ duy nhất có một phán đoán thành phần nao đo
của nó mang giá trị "chân thực" thôi. Còn đ ặ c trưng cùa p h a n đoán p h ứ c hợp
tuyển y ế u là nó chỉ mang giá trị lôgic "giả dôV' trong trường hợp tất cà các phán
đoán thành phần của nó đều là phán đoán mang giá trị "giả dôi". Nếu dùn^f
dấu" A ” và dấu "V" đè ký hiệu cho lién từ "tuyển mạnh" và liên từ 'tuyến yếu",
thì có thể trình bày sự phụ thuộc của giá trị lôgic của phán đoán phức hỢỊ)
tuyển vào giá trị lôgic của các phán đoán thành phần như bảng sau đây;

- 24 -



a

b

ch

ch

RI

ch

ch

C l=aV h

C2 = a V h
ch

ch

ch

ch

ch

gi


1.4.

B ấ t cứ hiện tượng nào được tư duy phản ánh ở phẩm chất xác định thi

đều có đặc trưng là : hoặc nó tồn tại thực sự hoặc nó không tồn tại ớ phâm chất
ày. Sự vắng mặt, sự không tồn tại của hiện tượng nói chung được phản ánh
trong tư duy thành liên từ lôgic gọi là "liên từ lôgic phủ định:. Liên từ này
thường được diễn đạt bằng các từ : "không...", 'không phải...", "chẳng phai là...";
'Làm gì có chuyện...'', "không có chuyện..." v,v...đặt trước câu ngôn ngữ diển đạt
phán đoán về hiện tượng được phản ánh.
Lién từ lôgic phù định, về thực chất, ghi lại trong tư duy ta việc phú định
giá trị chân thực, tức là không chân thực, của phán đoán thành phần được kết
nối đè tạo nên phán đoán phức hợp gọi là phán đoán phức hợp phủ định là gia
trị lògic của nó luôn luòn ngược lại với giá trị lògic của phán đoán thành phán.

a

D = 7a

Nếu dùng ký hiệu" 7 "để chỉ liên từ lôgic phủ định
thì giá trị của phán đoán phức hợp phủ định

ch
ch

thuộc vào giá trị lôgic của phán đoán thành phần
như bảng bên.

Chúng ta có các phán đoán phức hợp cơ bản với các cơ cấu:
A = a —> b ;

B = a A b;
Cl = aV

phii

b;

C2 = a V b;
D = 7a ;
Đó là cơ cấu lôgic của các phán đoán phức hợp thường gặp.
-

25

-


2. Phán đoán đa phức hcỵp:
Các phán đoán phức hợp cơ bản có thể được nối kết với phán đoán đ(m hoặc
với các phán đoán phức hợp khác để tạo nên phán đoán đa phức hợp. Các phán
đoán đa phức hợp có thê có những cấu tạo rất phức tạp. Nhưng về nguyên tắc
người ta có thể phân tich đê tìm ra liên từ lògic và các phán đoán thành phần
trực tiếp cáu tạo nên một phán đoán đa phức họp. Sau đó nêu trong các phán
đoán thành phần mới tìm được lại có nhứng phán đoán bản thân lại là phán
đoán phức (có thể gọi đây là các phán đoán phức "con" nếu gọi phán đoán đa
phức xuất phát là phán đoán phức "mẹ"), thì người ta lại mổ xẻ phản tich đê tini
ra các phán đoán thành phần trực tiếp của nó v.v. .. Cứ như thế, cuối cùng người
ta sẽ tim đến các phán đoán đơn làm thành những té bào cơ sớ tạo nèn phán
đoán thê hệ "con", "cháu" " c h ắ t", "chút ", "chít' v.v ... cũa phán đoán đa phức ban
đầu. Khi tìm tới được các phán đoán đơn cơ sở, và, nếu người ta biết được gia

trị lôgic của chúng, thi từ đó người ta dần dán tìm ra được giá trị lôgic của
những phán đoán phức thuộc các thê hệ con, cháu nối tiếp nhau kể trên, đê
cuôi cùng có thể tìm ra được giá trị lógic của bản thán phán đoán phức hợp
"mẹ ", tức là của chính phán đoán đa phức xuất phát, theo đúng các đặc trưng
của từng loại phán đoán phức hợp, như đã trinh bày ở trên trong mục phán
đoán phức hợp cơ bản.

3. Tính đẳng trị của phán đoán
3.1. Trong tư duy của con người có nhiếu phán đoán phức hợp (phức hợp cơ
bản hoặc đa phức hợp) được cáu tạo nên từ củng một sô phán đoán đơn nhii'
nhau và trong sô nhửng phán đoán phức hợp như vậy, người ta có thể thây một
sò phán đoán chúng luòn luôn mạng giá trị lògic giông nhau trong tát cá mọi
trường hợp biến thién cùa giá tri lôgic cỳcác phán đoán đơn cáu tạo nèn chúng.
Những phán đoán phức hợp như vậy ngươi ta gọi là phán đoán năm trong quan
hệ "đẳng trị" với nhau (tuc la chun g "binh đ án g ” VƠI nhau vé m ặ t giá trị lógic

cùa chúng).

Về nguyên tắc, với bất cứ một phán đoán đã cho như th ế nào, ngươi ta đềii
có thể tìm được những phán đoán đáng trị với nó (nằm trong quan hệ đắng trị
với nó). Tính chất này gọi là tính đẳng trị của phán đoán.
3.2. Lôgic hiện đại đã nghiên cứu và vạch ra được nhiều cơ cấu lôgic của
nhiều phán đoán đẳng trị. Dưới đáy là mô hình cơ cấu lògic của một sô cặp phán
đoán nằm trong quan hệ đẳng trị mà người ta thường gặp trong tư duy.
l.a ( = ) ( 7 ( 7 a ) ).
-26-


o đây dấu "=" đặt giứ ký hiệu cuacác phán đoán là để chỉ quan hệ đẳng trị
cùa các phán đoán. Có thể


đọcdấu đo laỉ)ẫng trị

với ... ", có nghĩa là ... ",

"tương đương vói ...
2. (a- -> b) s ( 7b - -> 7a
3. (a- -> b) s 7(a A 7b)

4. (a- -> b) = (7a V b)
5. (a A b ) = 7 ( a - -> 7 b )
6. (a A b) = 7 (b - > 7a)
7. (a A b ) = 7(7aV 7b)
8. (a V b) = ( 7a - > b )
9.(a V b) = ( 7b - > a )
10. (a V b ) = 7(7a A 7b)

D. PH É P PHỦ ĐỊNH PHÁN ĐOÁN.
I.
Phủ định phán đoán là một thao tác lôgic, trong đó xuất phát tứ một phán
toán đã cho nào đó người ta tim được một phán đoan khác, có giá trị lôgic
ngược VỚI giá trị lògic của phan đoán xuất phát hướng vào một phán đoán để
tìm ra phán đona mâu thuẫn với phán đoán này.
Dựa vào hình vuông lôgic và dựa vào mô hình có cấu các cặp đẳng trị, người
ta có thê thực hiện được phép phủ định VỚI phán đoán có cơ câus bất ky nào.
11. Dưới đây là mô hình kết cấu của phép phủ định được thực hiện với các
loại phán đoán đơn và các phán đoán phức hợp cơ bản. Trong các mô hinb ấy,
chúng ta cũng dùng dấu "7" đặt trước ký hiệu cúa phán đoán xuât phát để chi
răng động tác ”phù định" đưọ'c thực hiện VÓI phán đoán này. Sau ký hiệu "7'
iTgưoì ta đặt ký hiệu cùa phán đoán xuất phat (tức la phán đoán bị phu định).

Tiếp đó, đặt ký hiệu ' " lá dùng đê chi động tác "nhận đ ư ợ c V à sau cung, tiếp
ngay dấu ’’ ", người ta đặt ký hiệvi cùa chinh phán đoán mà người ta nhận được
nhờ phép phủ định, tức là ký hiẹu của phán đoán mâu thuãn với phán đoán bị
phủ định.
2.1. Phép phủ định đôi với các loại phán đoán đơn.
2.1.1. Phủ định phán đoán A :
7A

K

0;

2.1.2. Phù định phán đoán I :
71

E
-27-


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay
×