Tải bản đầy đủ

Hình thành biểu tượng toán cho trẻ mầm non thông qua hoạt động tạo hình (2014)

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC

PHAN THỊ YÊN

HÌNH THÀNH BIỂU TƯỢNG TOÁN
CHO TRẺ MẦM NON THÔNG QUA
HOẠT ĐỘNG TẠO HÌNH
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Phương pháp dạy học Toán

HÀ NỘI, 2014


LỜI CẢM ƠN
Em xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trường Đại học Sư phạm
Hà Nội 2 đã truyền thụ những kiến thức, những phương pháp giảng dạy ở bậc
học giáo dục Mầm non giúp cho việc học tập và nghiên cứu của em, tiếp thu
kiến thức trau dồi chuyên môn nghiệp vụ đạt được kết quả như mong muốn.
Em xin chân thành cảm ơn thầy giáo Nguyễn Năng Tâm đã nhiệt tình
hướng dẫn, cung cấp những kiến thức, những kinh nghiệm quí báu, động

viên, khích lệ, giúp đỡ em hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này.
Do thời gian có hạn nên đề tài không tránh khỏi những thiếu sót. Em rất
mong nhận được những ý kiến đóng góp của các thầy giáo, các cô giáo và bạn
đọc để đề tài này được hoàn thiện hơn.
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày

tháng 5 năm 2014

Người thực hiện

Phan Thị Yên


LỜI CAM ĐOAN
Khóa luận là kết quả cố gắng của bản thân tôi trong quá trình học tập
và nghiên cứu ở trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2. Dưới sự hướng dẫn tận
tình của thầy giáo Nguyễn Năng Tâm. Tôi xin cam đoan kết quả nghiên cứu
cảu đề tài “Hình thành biểu tượng toán cho trẻ mầm non thông qua hoạt động
tạo hình” không có sự trùng lập với bất cứ một đề tài nào khác.
Hà Nội, ngày

tháng 5 năm 2014

Người thực hiện

Phan Thị Yên


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .................................................................................................................. 1
1. Lí do chọn đề tài .................................................................................................. 1
2. Mục đích nghiên cứu đề tài ................................................................................ 3
3. Nhiệm vụ nghiên cứu .......................................................................................... 3
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ..................................................................... 3
5. Phương pháp nghiên cứu .................................................................................... 4
6. Cấu trúc khóa luận.............................................................................................. 4
NỘI DUNG .............................................................................................................. 5
Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN............................................................................... 5
1.1. Đặc điểm tâm sinh lí và nhận thức của trẻ mầm non ................................... 5


1.2. Các khái niệm cơ bản....................................................................................... 7
1.3. Hình thành biểu tượng toán............................................................................. 8
1.3.1. Nội dung hình thành biểu tượng toán cho trẻ mầm non........................... 8
1.3.2. Vai trò, nhiệm vụ của việc hình thành biểu tượng toán cho trẻ mầm non
.. 10
1.4. Hoạt động tạo hình .........................................................................................
16
1.4.1. Đặc điểm hoạt động tạo hình của trẻ mầm non ....................................... 16
1.4.2. Vai trò của hoạt động tạo hình đối với trẻ mầm non .............................. 17
Chương 2: HÌNH THÀNH BIỂU TƯỢNG TOÁN CHO TRẺ MẦM NON
THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG TẠO HÌNH .................................................... 21
2.1. Các nguyên tắc hình thành biểu tượng toán cho trẻ ................................... 21
2.2. Hoạt động tạo hình đối với việc hình thành các biểu tượng toán cho trẻ
mầm non.................................................................................................................. 25
2.3. Một số hoạt động tạo hình nhằm hình thành biểu tượng toán cho trẻ mầm
non..... 32
2.3.1. Hoạt động tô màu ........................................................................................
33
2.3.2. Hoạt động vẽ................................................................................................ 40


2.3.3. Hoạt động nặn..............................................................................................
44
Chương 3: NHỮNG THUẬN LỢI, KHÓ KHĂN VÀ MỘT SỐ BIỆN
PHÁP HÌNH THÀNH BIỂU TƯỢNG TOÁN CHO TRẺ MẦM

NON

THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG TẠO HÌNH .................................................... 48
3.1. Những thuận lợi, khó khăn....................................................................... 48
3.2. Một số biện pháp hình thành biểu tượng toán cho trẻ ............................. 51
KẾT LUẬN .................................................................................................... 54
TÀI LIỆU THAM KHẢO..................................................................................
56


MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Giáo dục mầm non là cấp học đầu tiên trong hệ thống giáo dục quốc
dân đặt nền móng cho sự phát triển về thể chất, nhận thức, tình cảm xã hội và
thẩm mỹ cho trẻ em. Những kỹ năng mà trẻ tiếp thu qua chương trình chăm
sóc giáo dục mầm non sẽ là nền tảng cho việc học tập và thành công sau này
của trẻ. Và việc phát triển giáo dục mầm non, tăng cường khả năng sẵn sàng
đi học cho trẻ là yếu tố quan trọng trong việc pháp triển nguồn nhân lực chất
lượng cao cho đất nước.
Với vai trò là bậc học nền tảng chất lượng giáo dục mầm non có ảnh
hưởng rất lớn tới sự hình thành và phát triển nhân cách mỗi cá nhân trẻ cũng
như chất lượng giáo dục ở các bậc học tiếp theo. Vì vậy đổi mới nhằm nâng
cao chất lượng giáo dục nói chung và giáo dục mầm non nói riêng hiện đang
là mối quan tâm đặc biệt của toàn xã hội. Yếu tố quan trọng hàng đầu để nâng
cao chất lượng giáo dục là đổi mới phương pháp và cách thức dạy học.
Ở bậc học này để phát triển nhận thức cho trẻ bên cạnh các lĩnh vực
như: cho trẻ làm quen với tác phẩm văn học, môi trường xung quanh, âm
nhạc, tạo hình… thì việc hình thành biểu tượng toán cho trẻ giữ một vai trò to
lớn nhằm phát triển ở trẻ khả năng nhanh nhạy, trí thông minh. Toán học là
một môn học tự nhiên có kiến thức lớn đóng vai trò vô cùng quan trọng trong
cuộc sống môi trường con người. Ngay từ nhỏ chúng ta đã được làm quen với
toán học. Việc hướng dẫn trẻ làm quen với toán ngay từ lứa tuổi mầm non là
cơ hội giúp trẻ hình thành khả năng quan sát, tư duy, so sánh, tìm tòi, nhận
biết thế giới xung quanh trẻ về số lượng, hình dạng, kích thước, vị trí trong
không gian giữa các vật so sánh với nhau, đồng thời giúp trẻ giải quyết mọi
vướng mắc trong cuộc sống, trẻ nhận biết vật này dài hơn vật kia ngắn hơn,

1


vật này to hơn vật kia nhỏ hơn, cao hơn, thấp hơn… Thông qua việc hình
thành các biểu tượng về toán là bồi dưỡng cho trẻ phát triển ngôn ngữ. Giúp
trẻ hình thành tư duy cụ thể chính xác nhằm chuẩn bị cho trẻ hành trang bước
vào trường tiểu học được tốt hơn. Thực tế cho thấy việc giúp trẻ hình thành
biểu tượng toán còn gặp rất nhiểu khó khăn. Vì toán học là một môn học
tương đối khô khan đối với tất cả các bậc học. Đặc biệt là ở bậc học mầm
non, việc hình thành các biểu tượng toán cho trẻ không hề đơn giản.Tuy
nhiên, trẻ mẫu giáo không lĩnh hội các khái niệm khoa học một cách hệ thống
mà chỉ lĩnh hội các tri thức đời sống hoặc các tri thức tiền khoa học. Vì vậy,
để hình thành được biểu tượng toán ban đầu cho trẻ cần thông qua nhiều hoạt
động khác nhau nhằm kích thích sự khám phá hứng thú của trẻ, trong đó việc
sử dụng hoạt động tạo hình để hình thành biểu tượng toán cho trẻ giúp trẻ
hứng thú và đạt hiệu quả cao.
Hoạt động tạo hình là hoạt động giúp trẻ có thể được tiếp xúc toàn diện
với môi trường bên ngoài. Thông qua sự tiếp xúc đó mà hình thành ở trẻ các
kiểu tư duy sáng tạo, nhất là các mối quan hệ xã hội. Tạo điều kiện, cơ sở ban
đầu để trẻ tiếp cận với các môn học khác một cách tốt hơn. Hoạt động tạo
hình có vai trò rất lớn đối với sự phát triển nhận thức của trẻ. Thông qua hoạt
động tạo hình trẻ có cơ hội tìm hiểu, nghiên cứu các đối tượng, miêu tả để có
được hiểu biết, hình dung về đối tượng đó, từ đó để xây dựng các đối tượng.
Hoạt động tạo hình là phương tiện để trẻ phát triển tư duy, trí nhớ, tưởng
tượng… điều đó giúp tăng thêm vốn hiểu biết của trẻ.
Hoạt động tạo hình bao gồm rất nhiều hoạt động như: vẽ, xé dán, cắt,
nặn, chắp ghép… trong quá trình trẻ thực hiện các hành động này cũng là lúc
trẻ thực hiện các yếu tố toán học qua các hành động bên ngoài: quan sát, vẽ,
so sánh, đối chiếu… bên cạnh đó, các hành động tạo hình là các hành động
phản ánh sự vật, hiện tượng có chứa đựng các yếu tố toán học. Trong quá

2


trình trẻ thực hiện hoạt động tạo hình đòi hỏi trẻ phải quan sát, nhận diện hình
dạng, phải đếm và đối chiếu đối tượng. Ngoài ra, qua hoạt động tạo hình trẻ
nhận ra được mối quan hệ về số lượng của hai tập hợp.
Học toán qua hoạt động tạo tạo hình giúp trẻ hứng thú trong giờ học,
tiếp nhận kiến thức toán học dễ dàng hơn.
Nhằm giúp trẻ tiếp thu môn phương pháp hình thành biểu tượng toán
được dễ dàng và đạt hiệu quả cao. Tôi đã suy nghĩ, tìm tòi quyết định đi sâu
tìm hiểu và nghiên cứu đề tài: “Hình thành biểu tượng toán cho trẻ mầm non
thông qua hoạt động tạo hình”.
2. Mục đích nghiên cứu đề tài
Nhằm tìm hiểu việc hình thành biểu tượng toán cho trẻ mầm non thông
qua hoạt động tạo hình, từ đó đề xuất một số biện pháp nâng cao hiệu quả tổ
chức hoạt động dạy học.
3. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tìm hiểu đặc điểm tâm sinh lí và đặc điểm nhận thức của trẻ mầm non.
- Nghiên cứu cơ sở lí luận về việc hình thành biểu tượng toán cho trẻ
mầm non thông qua hoạt động tạo hình.
- Tìm hiểu việc dạy học hình thành biểu tượng toán và hoạt động tạo
hình của trẻ mầm non.
- Những thuận lợi và khó khăn trong quá trình hình thành biểu tượng
toán cho trẻ mầm non thông qua hoạt động tạo hình.
- Đề xuất một số biện pháp nâng cao hiệu quả của việc hình thành biểu
tượng toán cho trẻ mầm non thông qua hoạt động tạo hình.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: nghiên cứu quá trình hình thành biểu tượng
toán cho trẻ mầm non thông qua hoạt động tạo hình.

3


- Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu việc hình thành biểu tượng toán cho
trẻ mầm non 3 - 6 tuổi thông qua hoạt động tạo hình qua các hoạt động: tô
màu, vẽ, nặn.
5. Phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp nghiên cứu tài liệu
5.2. Phương pháp quan sát
5.3. Phương pháp điều tra
5.4. Phương pháp tổng kết kinh nghiệm
6. Cấu trúc khóa luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận và phần tài liệu tham khảo, phần nội
dung chính của khóa luận bao gồm:
Chương 1: Cơ sở lí luận
Chương 2: Hình thành biểu tượng toán cho trẻ mầm non thông qua hoạt
động tạo hình
Chương 3: Những thuận lợi, khó khăn và một số biện pháp hình thành
biểu tượng toán cho trẻ mầm non thông qua hoạt động tạo hình

4


NỘI DUNG
Chương 1:
CƠ SỞ LÍ LUẬN
Chương 1 sẽ trình bày cơ sở lí luận của đề tài gồm: đặc điểm tâm sinh
lí và nhận thức của trẻ mầm non; các khái niệm cơ bản; nội dung, vai trò,
nhiệm vụ của việc hình thành biểu tượng toán cho trẻ; đặc điểm, vai trò của
hoạt động tạo hình đối với trẻ mầm non. Cụ thể như sau:
1.1. Đặc điểm tâm sinh lí và nhận thức của trẻ mầm non
* Trẻ 3 - 4 tuổi
Lên 3 tuổi thế giới của trẻ đã mở rộng ra rất nhiều, và cùng với đó trẻ
cũng “trưởng thành” lên rất nhiều. Trẻ mẫu giáo bé là thời kỳ có sự biến đổi
quan trọng và rõ rệt về mặt tâm sinh lý so với các giai đoạn trước đó. Trẻ ở
giai đoạn này hệ thống tín hiệu thứ nhất còn chiếm ưu thế nhiều hơn hệ thống
tín hiệu thứ hai. Trẻ nhạy cảm với các tác động bên ngoài và bị chi phối bởi
nhiều yếu tố: hình dạng, màu sắc, kích thước… Sự nhận thức còn gắn liền với
xúc cảm và ý muốn chủ quan của bản thân trẻ.
Đối với biểu tượng toán trẻ nhận thức nhờ vào sự hoạt động tích cực
của các giác quan. Thông qua ngôn ngữ để trẻ khái quát những biểu tượng đó.
Tuy nhiên do đặc điểm nhận thức của trẻ còn thấp nên quá trình nhận thức
này chưa đầy đủ và chính xác.
Tư duy trực quan hành động của trẻ vẫn tiếp tục chiếm ưu thế và xuất
hiện thêm một loại tư duy mới đó là tư duy trực quan hình tượng. Thực ra
bước chuyển này đã bắt đầu diễn ra từ cuối lứa tuổi ấu nhi (lứa tuổi nhà trẻ),
nhưng phải đến đầu lứa tuổi mẫu giáo mới diễn ra một cách cơ bản. Trẻ biết
dùng các hình ảnh, biểu tượng và các kinh nghiệm sống để giải quyết nhiệm
vụ. Tuy nhiên do vốn hiểu biết các biểu tượng còn hạn chế, đơn giản nên trẻ
5


thường giải quyết các vấn đề theo ý muốn chủ quan của riêng trẻ mà không
chú ý đến tính khách quan của đối tượng.
* Trẻ 4 - 5 tuổi
Sự phát triển nhận thức của trẻ mẫu giáo nhỡ được kế thừa từ những
đặc điểm của lứa tuổi trước và tiếp tục phát triển, hình thành những nhận thức
mới phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý của trẻ trong giai đoạn này. Ở lứa tuổi
này, hệ thống tín hiệu thứ nhất vẫn chiếm ưu thế nhưng đã giảm đi so với tốc
độ trước, hệ thống tín hiệu thứ hai phát triển hơn do ngôn ngữ của trẻ đã phát
triển. Tuy nhiên sự nhận thức vẫn gắn liến với quá trình nhận thức cảm tính.
Đến tuổi mẫu giáo nhỡ, bên cạnh kiểu tư duy trực quan hành động thì
kiểu tư duy trực quan hình tượng cũng đang phát triển khá mạnh mẽ. Đây
được coi là bước ngoặt trong tư duy của trẻ. Quá trình tư duy của trẻ đã bắt
đầu dựa vào những hình ảnh, sự vật, hiện tượng đã có trong đầu. Cùng với sự
hoàn thiện của hoạt động vui chơi và sự phát triển của các hoạt động khác mà
vốn biểu tượng của trẻ mẫu giáo nhỡ được giàu lên. Chức năng kí hiệu tượng
trưng cũng phát triển mạnh, lòng ham hiểu biết và hứng thú nhận thức cũng
tăng lên rõ rệt, đó cũng là diều kiện thuận lợi cho sự phát triển tư duy trực
quan hình tượng của trẻ.
Trẻ mẫu giáo nhỡ có hệ thần kinh khá hoàn chỉnh về cấu tạo cũng như
chức năng. Các thao tác tư duy như so sánh, phân tích, tổng hợp, khái quát đã
phát triển mạnh mẽ. Trẻ có thể nhận biết được những đặc điểm chủ yếu của
vật, hiểu được mối quan hệ đơn giản giữa các vật.
* Trẻ 5 - 6 tuổi
So với giai đoạn trước ở giai đoạn này sự nhận thức của trẻ có phần
vượt trội, thể chất, trí tuệ và tính khéo léo của trẻ phát triển hơn. Hệ thống tín
hiệu thứ nhất không còn chiếm ưu thế như các giai đoạn trước thay vào đó là
sự phát triển mạnh mẽ cuả hệ thống tín hiệu thứ hai. Ngôn ngữ của trẻ phát

6


triển khá mạnh trẻ có khả năng giao tiếp như người lớn. Do vậy việc diễn đạt
các thuật ngữ toán học được chính xác.
Các chức năng chủ yếu của cơ thể trẻ dần hoàn thiện. Hệ thần kinh
tương đối phát triển, chức năng phân tích, tổng hợp của vỏ não đã hoàn thiện,
số lượng các phản xạ có điều kiện ngày càng nhiều, tốc độ hình thành phản xạ
có điều kiện nhanh, trí tuệ phát triển nhanh. Đây cũng là giai đoạn hoàn thiện
các cấu trúc tâm lí ở trẻ, xuất hiện kiểu tư duy trực quan hình tượng mới - tư
duy trực quan sơ đồ và những yếu tố của kiểu tư duy logic. Tư duy trực quan
sơ đồ giúp trẻ có thể lĩnh hội tri thức ở trình độ khái quát cao, từ đó mà trẻ
hiểu được bản chất của sự vật hiện tượng. Kiểu tư duy logic sẽ được hình
thành và phát triển mạnh mẽ ở tuổi học sinh, nhưng những yếu tố của nó đã
xuất hiện ngay ở lứa tuổi mẫu giáo lớn khi trẻ đã biết sử dụng khá thành thạo
vật thay thế và đã phát triển tốt các chức năng ký hiệu của ý thức.
1.2. Các khái niệm cơ bản
- Hình thành biểu tượng toán: phương pháp hình thành biểu tượng toán
cho trẻ mầm non là tổ hợp các cách thức tổ chức các hoạt động của trẻ em
trong quá trình hình thành biểu tượng toán học, nhằm mục đích giáo dục toán
học cho trẻ mầm non.
- Hoạt động tạo hình: hoạt động tạo hình là một hoạt động nhận thức
đặc biệt mang tính sáng tạo. Nó phản ánh cuộc sống hiện thực bằng những
hình tượng nghệ thuật, trong đó con người không chỉ khám phá và lĩnh hội thế
giới mà còn cải tạo nó theo quy luật của cái đẹp, gửi gắm vào đó tình cảm và
tâm hồn của người nghệ sĩ.
Hoạt động tạo hình trong trường mầm non thì hoạt động tạo hình là một
loại hình nghệ thuật hấp dẫn đối với trẻ. Đó là phương tiện quan trọng trong
giáo dục thẩm mỹ và có tác dụng to lớn trong việc hình thành nhân cách cho
trẻ lứa tuổi mầm non.
7


1.3. Hình thành biểu tượng toán
1.3.1. Nội dung hình thành biểu tượng toán
a. Lứa tuổi nhà trẻ (24 - 36 tháng tuổi)
- Dạy trẻ phân biệt to - nhỏ
- Nhận biết hình tròn - hình vuông
- Nhận biết vị trí trong không gian (trên - dưới, trước - sau)
- Số lượng một và nhiều
b. Trẻ mẫu giáo bé (3 - 4 tuổi)
1. Dạng tập hợp, số lượng, con số và phép đếm
- Nhận biết một và nhiều
- Đếm trong phạm vi 5 và đếm theo khả năng
- Gộp, tách đếm hai nhóm đối tượng
- Xếp tương ứng 1-1 (ghép đôi tương ứng)
- So sánh số lượng các nhóm đối tượng (nhiều hơn - ít hơn)
2. Kích thước
So sánh các chiều kích thước
+ Độ lớn (to - nhỏ)
+ Độ cao (cao - thấp)
+ Độ dài (dài - ngắn)
+ Bề rộng (rộng - hẹp)
3. Hình dạng vật thể
- Nhận biết, gọi tên các hình học phẳng (hình vuông, hình tròn, hình
tam giác, hình chữ nhật)
- Sử dụng các hình để chắp ghép
4. Định hướng trong không gian
- Phân biệt tay phải - tay trái
- Xác định phía trên - phía dưới, phía trước - phái sau của bản thân
8


- Định hướng trên mặt phẳng
5. Định hướng về thời gian
Dạy trẻ nhận biết, phân biệt ngày và đêm
c. Trẻ mẫu giáo nhỡ (4 - 5 tuổi)
1. Dạng tập hợp, số lượng, con số, phép đếm
- Đếm số lượng trong phạm vi 10 và đếm theo khả năng
- Thêm bớt trong phạm vi 5
- Nhận biết các số trong phạm vi 5
- Gộp hai nhóm đối tượng
- So sánh nhóm có 3 đối tượng trở lên
2. Kích thước
- So sánh kích thước của ba vật trở lên
- Đo độ dài các đối tượng
- Đo thể tích, dung tích
3. Hình dạng vật thể
- Phân biệt được các hình vuông, hình tròn, hình tam giác, hình chữ
nhật
- Sử dụng các hình học phẳng trong các hoạt động chắp ghép
4. Định hướng không gian
- Xác định phía phải, phía trái của bản thân
- Phân biệt tay phải, tay trái của bản thân
- Xác định phía trên - phía dưới, phía trước - phái sau của người khác
5. Định hướng thời gian
- Dạy trẻ phân biệt sáng, trưa, chiều, tối, đêm
- Dạy trẻ biết thiết lập trình tự thời gian
d. Trẻ mẫu giáo lớn (5 - 6 tuổi)
1. Dạng tập hợp, số lượng, con số, phép đếm

9


- Nhận biết ý nghĩa số lượng của số, nhận biết các số trong phạm vi 10
- Đếm đến 10
- Chia nhóm 6 - 10 đối tượng thành hai phần
- Thêm bớt trong phạm vi 10
2. Kích thước
- Đo độ dài một đối tượng bằng nhiều đơn vị đo. So sánh kết quả và
nhận biết mối liên hệ
- Đo thể tích, dung tích của một đối tượng bằng nhiều đơn vị đo.
3. Hình dạng vật thể trong không gian
- Dạy trẻ nhận biết khối cầu, khối trụ, khối vuông, khối chữ nhật
- Phân biệt các khối
- Dạy trẻ biết sử dụng các hình phẳng và các khối trong hoạt động chắp
ghép
4. Định hướng không gian
Xác định trên - dưới, trước - sau, phải - trái của đối tượng
5. Định hướng thời gian
- Ôn lại các biểu tượng về thời gian đã học
- Biểu tượng về ngày trong tuần, mùa trong năm, định hướng được
ngày hôm qua, hôm nay và ngày mai
1.3.2. Vai trò, nhiệm vụ của việc hình thành biểu tượng toán cho trẻ mầm
non
(xem [3], tr.
56)
a. Vai trò
 Trong cuộc sống hàng
ngày
Trẻ em có khả năng nhận biết một số biểu tượng toán học và cần thiết


được hình thành một số biểu tượng toán ngay từ lứa tuổi mẫu giáo. Thực tế
cho thấy một số biểu tượng toán được hình thành ở trẻ từ rất sớm, song tất cả
những hiểu biết ấy chỉ là do phản xạ tự nhiên của cơ thể hay do trẻ bắt trước


người lớn. Đây là kết quả của việc “tri giác trực tiếp” thông qua các hoạt
động hàng ngày của trẻ, còn việc hiểu thấu đáo, vững chắc và có hệ thống các
khái niệm thì chưa có.
Mặt khác do sự tiếp xúc với môi trường xung quanh còn ít, vốn ngôn
ngữ còn nghèo nàn, sự hiểu biết còn hạn chế, trẻ chưa thể hiểu được ý nghĩa
của các thuật ngữ toán học nên việc diễn đạt thường không chính xác. Chẳng
hạn, có 3 cái bánh và 5 cái kẹo thì trẻ thường nói là “bánh nhiều hơn

o”,

biểu tượng nhiều hơn của trẻ ở đây là nhiều hơn về kích thước chứ không phải
là nhiều hơn về số lượng. Ví dụ trên cho thấy nếu chỉ bằng vốn hiểu biết và
kinh nghiệm bản thân trẻ không thể hiểu biết và diễn đạt đúng. Vì thế việc
hình thành các biểu tượng toán học cho trẻ mẫu giáo là cần thiết đối với trẻ.
Nó không chỉ giúp trẻ giải quyết những khó khăn trong cuộc sống mà giúp trẻ
làm quen với thế giới xung quanh, nhận thức được các thuộc tính, các đặc
điểm của những đồ vật xung quanh trẻ.
Ví dụ: Nhìn bức tranh vẽ ngôi nhà trẻ nhận ra thân nhà là hình chữ
nhật, mái nhà là hình tam giác, cửa sổ hình vuông.

Việc hình thành các biểu tượng toán học còn giúp trẻ diễn đạt đầy đủ
chính xác và ngắn gọn các ý nghĩ và mong muốn của mình.Vì vậy khi cô hỏi
“nhà con có mấy người?”, thay cho việc đọc tên lần lượt từng người trong gia
đình, trẻ chỉ cần trả lời “nhà con có 4 người”. Một câu trả lời ngắn gọn và
đúng yêu cầu của câu hỏi.


Mặt khác, khi có biểu tượng toán học thì trẻ học các môn khác dễ dàng
hơn, hiểu đầy đủ và sâu sắc hơn. Mở rộng vốn hiểu biết của trẻ về các mối
quan hệ trong môi trường xung quanh.
Ví dụ: Khi có biểu tượng về phép đếm, hình dạng, kích thước, định
hướng trong không gian thì:
- Khi học giáo dục thể chất trẻ biết quay về phía trái, phía phải một
cách chính xác.
- Khi học làm quen với môi trường xung quanh trẻ biết phân lọai các
đối tượng: đây là loại quả có một hạt, đây là loại quả có nhiều hạt…
- Khi trẻ làm quen với tác phẩm văn học trẻ biết được câu chuyện có tất
cả bao nhiêu nhân vật và kể tên các nhân vật trong truyện.
Qua các ví dụ trên chúng ta thấy trẻ lứa tuổi mầm non có khả năng
nhận biết các biểu tượng toán học, những biểu tượng đó rất cần thiết đối với
trẻ và cần được giáo viên hình thành đầy đủ, đúng, kịp thời, phù hợp với từng
giai đoạn phát triển trí thông minh và đảm bảo cho sự thích nghi với cuộc
sống hàng ngày.
 Trong giáo dục toàn diện
Việc hình thành các biểu tượng toán học sơ đẳng cho trẻ có vai trò
quan trọng trong giáo dục toàn diện (trí dục, đức dục, thể dục, mỹ dục, giáo
dục lao động) cho trẻ. Cụ thể:
- Góp phần phát triển trí tuệ:
Việc hình thành biểu tượng toán góp phần hình thành và phát triển hoạt
động nhận thức cho trẻ. Đặc điểm của trẻ mẫu giáo là “Nhận thức chủ yếu
bằng cảm tính, tư duy trực quan hình tượng là chủ yếu” và đặc điểm hình
thành các biểu tượng toán là “Trẻ nhận biết thông qua các hoạt động” dưới sự
tổ chức, hướng dẫn của giáo viên. Mỗi biểu tượng trẻ đi từ nhận biết, gọi tên
dựa vào dấu hiệu bên ngoài sau đó cùng với các hoạt động trẻ đối chiếu, so


sánh, phân tích, khái quát để đi tới nhận biết các dấu hiệu tượng trưng cho
từng biểu tượng.
Khi các biểu tượng đã được hình thành, trẻ vận dụng thực hành và đối
chiếu với thực tế xung quanh.
Ví dụ: Để hình thành biểu tượng hình vuông ở trẻ 3 - 4 tuổi thì cô cho
trẻ chọn hình theo mẫu, gọi tên hình và chọn hình theo tên nhưng đến 4 - 5
tuổi, 5 - 6 tuổi cô cho trẻ khảo sát để thấy hình vuông có đường bao thẳng và
không lăn được. Sau đó, cô cho trẻ xếp hình vuông bằng các que tính và hoạt
động xếp hình trẻ đếm số que tính, so sánh chiều dài các que tính. Từ đó trẻ
biết được hình vuông xếp bằng bốn que tính dài bằng nhau.
Thực tế cho thấy việc hình thành các biểu tượng toán học cho trẻ mẫu
giáo đã góp phần hình thành và phát triển hoạt động nhận thức cho trẻ , rèn
luyện các thao tác tư duy giúp trẻ chuyển từ tư duy trực quan hành động sang
tư duy trực quan logic.
+ Góp phần hình thành khả năng nhận thức thế giới xung quanh và giúp
trẻ tìm được mối liên hệ giữa các biểu tượng toán với thế giới xung quanh.
Ví dụ: Biểu tượng hình thành hình chữ nhật giúp trẻ nhận thức được
mặt bàn, cửa sổ, bảng viết… là những đồ vật khác nhau nhưng chúng đều có
dạng hình chữ nhật.
+ Góp phần hình thành và rèn luyện các thao tác tư duy: so sánh, phân
tích, tổng hợp, khái quát hóa…
+ Góp phần phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo do vốn hiểu biết còn
ít, vốn ngôn ngữ nghèo nàn, trẻ chưa hiểu được ý nghĩa của các từ ngữ toán
học do đó trẻ thường nói không đúng. Vì vậy, khi hình thành các biểu tượng
toán học bên cạnh giúp trẻ nói đúng câu, đủ ý thì điều quan trọng là phải cung
cấp cho trẻ vốn từ về biểu tượng toán học, giúp trẻ hiểu và biết diễn đạt các từ
đó phù hợp với thực tế.


Ví dụ:

Xanh

Đỏ
Khi so sánh hai bút chì thay cho việc nói “Bút chì xanh to hơn bút chì
đỏ”, trẻ sẽ nói “Bút chì xanh dài hơn bút chì đỏ”.
+ Góp phần phát triển và thúc đẩy các quá trình tâm lí ở trẻ như ghi
nhớ, chú ý, tưởng tượng…
- Góp phần giáo dục đạo đức, thẩm mỹ:
Hình thành các biểu tượng toán học cho trẻ mẫu giáo không phải chỉ là
giúp các em nhận thức được một số kiến thức toán học mà trong quá trình tổ
chức các hoạt động dưới nhiều hình thức: cá nhân, tổ, nhóm, tập thể với
những phương tiện khác nhau như: vẽ, nặn, xé dán, xếp hình, phân chia
nhóm, phân loại các đồ vật…
Những hình thức và phương tiện giáo dục đã góp phần giáo dục trẻ ý
thức tổ chức kỷ luật, tính kiên trì, lòng ham hiểu biết, sáng tạo, biết đoàn kết
giúp đỡ lẫn nhau… để hình thành ý thức tập thể trong cộng đồng. Đó là
những đức tính cần thiết học toán học sau này.
Ví dụ: Khi có biểu tượng một - nhiều, dài - ngắn đã giúp trẻ vẽ một ông
mặt trời là một đường cong tròn khép kín có nhiều tia nắng là các đoạn thẳng
có độ dài khác nhau xung quanh.
Thông qua các hoạt động còn giúp trẻ không chỉ biết thưởng thức cái
đẹp mà còn biết tạo ra cái đẹp.


Như vậy, việc hình thành các biểu tượng toán đã góp phần giáo dục
toàn diện cho trẻ.
 Trong việc chuẩn bị cho trẻ đến trường phổ
thông
- Chuẩn bị một số kiến thức toàn ban đầu
+ Nhận biết, phân biệt được các số trong phạm vi 10, biết thêm, bớt,
phân chia một nhóm các đối tượng làm hai phần trong phạm vi 10 thành thạo.
+ Phân biệt, gọi đúng tên, nắm được một số dấu hiệu đặc trưng của các
hình học quen thuộc.
+ Nắm được kĩ năng so sánh các đối tượng về chiều dài, bề rộng, chiều
cao, độ lớn. Hiểu và diễn đạt các mối quan hệ này. Biết đo độ dài và đo dung
tích của các đối tượng bằng các thước đo quy ước.
+ Biết định hướng trong không gian về các phía trên - dưới, phải - trái,
trước - sau.
- Chuẩn bị tâm thế cho trẻ
Trường phổ thông và trường mẫu giáo là hai môi trường có chế độ sinh
hoạt, học tập, thời gian học, nội dung chương trình và các mối quan hệ (đặc
biệt là của cô với trẻ) khác nhau khá nhiều. Vì vậy việc hình thành các biểu
tượng toán cần giúp trẻ có tâm thế sẵn sàng để vào học lớp 1. Trong các giờ
hình thành biểu tượng toán cô nên tăng cường các trò chơi có luật, đặt ra
nhiều câu hỏi cho cá nhân, tập thể dưới dạng nội dung các bài toán so sánh,
thêm bớt, chia các phần, làm cơ sở cho trẻ chuẩn bị học các phép toán cộng,
trừ ở lớp 1. Thông qua các trò chơi, các hoạt động đó đã giúp trẻ rèn luyện
thói quen nhanh nhẹn, gọn gàng, ngăn nắp, có ý thức kỷ luật.
b. Nhiệm vụ
- Hình thành cho trẻ các biểu tượng toán học ban đầu về tập hợp, số
lượng, số tự nhiên, chữ số; hình dạng, kích thước, định hướng không gian và
định hướng thời gian.
-Hình thành và phát triển khẳ năng quan sát có mục đích, hình thành và
phát triển các thao tác tư duy: phân tích, so sánh, tập hợp…


- Phát triển tính ham hiểu biết, tìm tòi sáng tạo của trẻ, làm phong phú
kinh nghiệm và mở rộng năng lực hoạt động của trẻ.
- Phát triển ngôn ngữ cho trẻ, đặc biệt là giúp trẻ hiểu và sử dụng đúng
các thuật ngữ toán học trong các trường hợp cụ thể, diễn đạt mạch lạc các yếu
tố và các mối tương quan toán học.
Các nhiệm vụ trên được giải quyết một cách phối hợp và linh hoạt trên
mỗi hoạt động cho trẻ làm quen với toán. Tuy nhiên nhiều khi những biểu
tượng toán học và những năng lực toán học của trẻ chưa được phát triển đúng
lúc. Để hình thành những biểu tượng toán học cho trẻ thì mọi hoạt động của
trẻ phải được tổ chức một cách đúng đắn và dạy học phải có hệ thống. Vì vậy
ở từng giai đoạn phát triển lứa tuổi trẻ cần tạo điều kiện thuận lợi nhất để hình
thành các kiến thức, kỹ năng nhất định cho trẻ.
1.4. Hoạt động tạo hình
Hoạt động tạo hình là hoạt động giúp trẻ có thể được tiếp xúc toàn diện
với môi trường bên ngoài. Thông qua sự tiếp xúc đó mà hình thành ở trẻ các
kiểu tư duy sáng tạo, nhất là các mối quan hệ xã hội. Tạo điều kiện, cơ sở ban
đầu để trẻ tiếp cận với các môn học khác một cách tốt hơn.
Các hoạt động tạo hình cho trẻ mầm non:
- Hoạt động tô màu
- Hoạt động vẽ
- Hoạt động nặn
- Hoạt động xé dán
- Hoạt động chắp ghép
1.4.1. Đặc điểm hoạt động tạo hình của trẻ mầm non
Trẻ mầm non luôn rất nhạy cảm với cái đẹp xung quanh, đây là thời kì
phát triển những cảm xúc thẩm mỹ - đó là những cảm xúc tích cực được nảy


sinh khi trẻ tiếp xúc trực tiếp với cái đẹp trong các nghệ thuật trong đó có
nghệ thuật tạo hình.
Hoạt động tạo hình của trẻ lứa tuổi mẫu giáo bao gồm các hoạt động
như: tô màu, vẽ, nặn, xé dán, chắp ghép… Những hoạt động này đã tạo cơ hội
cho trẻ xem xét sự vật mà mình định thể hiện và nghiên cứu sự vật một cách tỉ
mỉ là quá trình trẻ phản ánh những ấn tượng từ cuộc sống xung quanh cùng
những suy nghĩ, tình cảm của trẻ bằng các chất liệu khác nhau, các phương
tiện khác nhau thông qua hiện tượng mang tính nghệ thuật. Nhưng hoạt dộng
tạo hình của trẻ mẫu giáo chưa phải là hoạt động sáng tạo thực thụ, nó không
nhằm mục đích tạo nên những sản phẩm phục vụ cho xã hội, cải tạo thế giới
hiện thực mà kết quả lớn nhất của nó là sự biến đổi, phát triển chính bản thân
chủ thể hoạt động.
1.4.2. Vai trò của hoạt động tạo hình (xem [4], tr. 37)
a. Hoạt động tạo hình đối với sự phát triển trí tuệ, nhận thức
- Hoạt động tạo hình là một hoạt động nhận thức đặc biệt mang tính
hình tượng.
- Trong hoạt động tạo hình, trẻ có nhiều cơ hội tìm hiểu, nghiên cứu
các đối tượng miêu tả để có được hiểu biết, sự hình thành về các đối tượng đó,
từ đó xây dựng các biểu tượng, hình tượng. Từ đó khẳng định hoạt động tạo
hình là một hoạt động tích cực để phát triển ở trẻ các khả năng hoạt động trí
tuệ như khả năng như: óc quan sát, trí nhớ, tư duy, tưởng tượng.
Trong quá trình tri giác các đối tượng miêu tả, các tính chất, các
thuộc tính của các sự vật hiện tượng như màu sắc, hình tượng, kích thước, tỷ
lệ,… được trẻ tích cực ghi nhận, đối chiếu với các chuẩn mực cảm giác mà trẻ
đã biết, để tiếp đó trẻ phân loại , bổ sung và hình thành các biểu tượng, dần
dần đến những hình tượng mang tính nghệ thuật. Quá trình này đòi hỏi hoạt
động nỗ lực các thao tác trí tuệ như phân tích, so sánh, tổng hợp, khái quát
hóa, cụ thể hóa.


- Hoạt động tạo hình giúp trẻ tiếp thu, mở rộng và hệ thống hóa các
chuẩn cảm giác, tri giác, màu, kích thước, hình khối, tỷ lệ… Nhờ quá trình
quan sát đối tượng miêu tả mà trẻ thường xuyên sử dụng tính tích cực các
chuẩn cảm giác để tìm hiểu, khám phá những điều chưa biết về các sự vật
hiện tượng. Từ đó trẻ tích lũy được một lượng lớn các thông tin hình ảnh cùng
những hiểu biết về các sự vật, hiện tượng trong cuộc sống xung quanh. Chính
trên cơ sở sự hiểu biết sâu sắc về các đặc điểm, tính chất của các sự vật, hiện
tượng mà trẻ có dịp nắm bắt về các mối quan hệ có tính chất quy luật của mọi
vật trong thế giới xung quanh.
- Khi thực hiện các nhiệm vụ tạo hình, trẻ cần huy động vốn hiểu biết,
vốn biểu tượng đã tích lũy được để “nhào nặn”, “chế biến” thành những hình
tượng mới. Các điều kiện và yêu cầu sáng tạo của hoạt động tạo hình làm cho
các biểu tượng được hình thành ở trẻ trong quá trình tri giác sẽ luôn được đổi
mới, bổ sung và trở thành phong phú hơn. Như vậy là, chính nhờ hoạt động
tạo hình mà hiểu biết của trẻ về thế giới xung quanh luôn được tăng lên, ngày
càng trở nên giàu có hơn cả về lượng lẫn về chất.
- Quá trình vẽ, nặn, xé dán, chắp ghép… đòi hỏi trẻ phải luôn tìm hiểu,
khám phá, phát hiện ra các tính chất của các loại vật liệu cũng như khả năng
tạo hình, khả năng tạo ra sức truyền cảm của chúng. Trong quá trình tạo hình
trẻ được lĩnh hội các kĩ năng sử dụng các loại dụng cụ, chất liệu như những
công cụ lao động của con người. Đây chính là điều kiện rất thuận lợi cho sự
phát triển trí tuệ và nhận cách trẻ.
- Hoạt động tạo hình chính là môi trường thuận lợi làm hình thành ở trẻ
các phẩm chát trí tuệ như: tính tự giác, tính ham hiểu biết, tính tích cực nhận
thức và óc sáng tạo,…


b. Hoạt động tạo hình đối với việc giáo dục tình cảm, đạo đức, kĩ năng giao
tiếp xã hội
Hoạt động tạo hình có một vai trò lớn trong việc giáo dục đạo đức cho
trẻ. Tham gia vào hoạt động tạo hình, trẻ có điều kiện tiếp thu các chuẩn mực
thẩm mỹ - đạo đức trong xã hội, trải nghiệm các cảm xúc, tình cảm trong giao
tiếp, học hỏi về các kĩ năng xã hội và đánh giá các hành vi văn hóa xã hội qua
các hình tượng, các sự kiện, hiện tượng được miêu tả.
c. Vai trò của hoạt động tạo hình đối với việc giáo dục thẩm mỹ cho trẻ
Hoạt động tạo hình là một trong những hoạt động có ý nghĩa giáo dục
thẩm mỹ. Với tư cách là một hoạt động nghệ thuật, hoạt động tạo hình tạo nên
những điều kiện thuận lợi nhất cho sự phát triển của cảm giác, tri giác thẩm
mỹ: việc quan sát, tìm hiểu các sự vật hiện tượng giúp trẻ nhận ra các đặc
điểm thẩm mỹ (hình dáng, màu sắc, cấu trúc…), nhận ra được các nét độc đáo
tạo nên sức hấp dẫn của đối tượng miêu tả.
Quá trình thể hiện các sản phẩm tạo hình (vẽ, nặn, xé dán, ghép hình…)
là điều kiện thuận lợi cho trẻ vận dụng tích cực vốn biểu tượng hình tượng đã
tích lũy được để phối hợp, xây dựng hình tượng mới làm cho các sản phẩm
tạo hình của trẻ ngày càng trở nên sinh động, đầy sức hấp dẫn và mang màu
sắc nghệ thuật. Sự thể hiện nội dung tạo hình bằng phương tiện truyền cảm
mang tính trực quan (đường nét, màu sắc, hình dạng) sẽ làm cho cảm xúc
thẩm mỹ của trẻ ngày càng trở nên sâu sắc hơn, trí tưởng tượng mang tính
nghệ thuật của trẻ ngày càng phong phú hơn.
d. Vai trò của hoạt động tạo hình đối với sự phát triển thể chất của trẻ
Hoạt động tạo hình cũng có vai trò to lớn đối với sự phát triển thể chất
của trẻ: tác động rất tích cực với hoạt động của tim mạch, điều hòa hoạt động
của hệ thần kinh, điều chỉnh toàn bộ hoạt động của cơ thể. Mặt khác, nhờ có
hoạt động tạo hình mà kỹ năng vận động tinh của trẻ ngày càng trở nên thuần


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×