Tải bản đầy đủ

Nâng cao tính thanh khoản cho thị trường trái phiếu chính phủ việt nam

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
---------------------

DƢƠNG NGỌC DIỆP

NÂNG CAO TÍNH THANH KHOẢN CHO THỊ
TRƢỜNG TRÁI PHIẾU CHÍNH PHỦ VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG
CHƢƠNG TRÌNH ĐỊNH HƢỚNG NGHIÊN CỨU

Hà Nội – 2018


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
---------------------

DƢƠNG NGỌC DIỆP


NÂNG CAO TÍNH THANH KHOẢN CHO THỊ
TRƢỜNG TRÁI PHIẾU CHÍNH PHỦ VIỆT NAM

Chuyên ngành: Tài chính Ngân hàng
Mã số: 60 34 02 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG
CHƢƠNG TRÌNH ĐỊNH HƢỚNG NGHIÊN CỨU
NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS. TS LÊ TRUNG THÀNH
XÁC NHẬN CỦA
CÁN BỘ HƢỚNG DẪN

PGS.TS LÊ TRUNG THÀNH

XÁC NHẬN CỦA CHỦ TỊCH HĐ
CHẤM LUẬN VĂN

PGS.TS TRẦN THỊ THANH TÚ
Hà Nội – 2018


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn này là kết quả nghiên cứu của riêng tôi, chƣa đƣợc
công bố trong bất cứ một công trình nghiên cứu nào của ngƣời khác. Việc sử dụng
kết quả, trích dẫn tài liệu của ngƣời khác đảm bảo theo đúng các quy định. Các nội
dung trích dẫn và tham khảo các tài liệu, sách báo, thông tin đƣợc đăng tải trên các
tác phẩm, tạp chí và trang web theo danh mục tài liệu tham khảo của luận văn.
Tác giả luận văn


MỤC LỤC
Danh mục các từ viết tắt ............................................................................................... i
Danh mục biểu đồ ........................................................................................................ ii
Danh mục bảng ............................................................................................................ ii
LỜI MỞ ĐẦU .............................................................................................................. 1
CHƢƠNG 1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN
VỀ TÍNH THANH KHOẢN CỦA THỊ TRƢỜNG TRÁI PHIẾU CHÍNH PHỦ ...... 3
1.1. Tổng quan về tình hình nghiên cứu....................................................................... 3
1.1.1. Các nghiên cứu ngoài nƣớc ..................................................................... 3
1.1.2. Các nghiên cứu trong nƣớc ..................................................................... 4


1.1.3. Khoảng trống nghiên cứu ........................................................................ 5
1.2. Cơ sở lý luận về tính thanh khoản của thị trƣờng trái phiếu Chính phủ ............... 5
1.2.1. Trái phiếu Chính phủ .............................................................................. 5
1.2.2. Thị trƣờng trái phiếu Chính phủ ............................................................. 9
1.2.3. Tính thanh khoản của thị trƣờng trái phiếu Chính phủ .......................... 20
1.2.4. Các nhân tố ảnh hƣởng đến tính thanh khoản của thị trƣờng ................ 25
1.3. Kinh nghiệm nâng cao tính thanh khoản thị trƣờng TPCP của một số nƣớc trên
thế giới:........................................................................................................................ 29
1.3.1. Kinh nghiệm của Canada ....................................................................... 29
1.3.2. Kinh nghiệm của Thái Lan..................................................................... 31
1.3.3. Các bài học rút ra từ kinh nghiệm của Canada và Thái Lan .................. 33
CHƢƠNG 2. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ........................................................ 35
2.1. Các bƣớc thực hiện nghiên cứu ............................................................................ 35
2.2. Phƣơng pháp thu thập dữ liệu .............................................................................. 36
2.3. Phƣơng pháp tổng hợp, phân tích, so sánh .......................................................... 36
2.4. Phƣơng pháp phỏng vấn chuyên gia .................................................................... 37
CHƢƠNG 3. THỰC TRẠNG TÍNH THANH KHOẢN CỦA THỊ TRƢỜNG TRÁI
PHIẾU CHÍNH PHỦ VIỆT NAM .............................................................................. 38
3.1. Thực trạng thị trƣờng TPCP Việt Nam ................................................................ 38
3.1.1. Sự hình thành và phát triển của thị trƣờng TPCP Việt Nam qua các giai đoạn ...... 38
3.1.2. Khung pháp lý điều chỉnh các hoạt động trên thị trƣờng....................... 44
3.2. Thực trạng tính thanh khoản của thị trƣờng TPCP Việt Nam .............................. 48
3.2.1. Tình hình tính thanh khoản thông qua chỉ số chênh lệch giá chào
mua/chào bán (Bid/ask spread).................................................................................... 48


3.2.2. Vòng quay thanh khoản (Turnover Ratio) ............................................. 50
3.2.3. Thực trạng hệ thống các nhà tạo lập thị trƣờng, trung gian tài chính; cơ
cấu nhà đầu tƣ và cơ sở nhà đầu tƣ nƣớc ngoài .......................................................... 52
3.2.4. Tình hình thị trƣờng sơ cấp .................................................................... 54
3.2.5. Về hƣớng đẫn đầu tƣ, thuế, phí… .......................................................... 59
3.2.6. Tình hình thị trƣờng phái sinh ............................................................... 61
3.2.7. Tình hình hệ thống giao dịch, thanh toán .............................................. 62
3.3. Đánh giá tính thanh khoản của thị trƣờng TPCP Việt Nam ................................ 63
3.3.1. Những kết quả đạt đƣợc ......................................................................... 63
3.3.2. Những hạn chế và nguyên nhân ............................................................. 65
CHƢƠNG 4. GIẢI PHÁP NÂNG CAO TÍNH THANH KHOẢN CHO THỊ
TRƢỜNG TRÁI PHIẾU CHÍNH PHỦ VIỆT NAM.................................................. 71
4.1. Định hƣớng nâng cao tính thanh khoản cho thị trƣờng trái phiếu Chính phủ Việt
Nam trong thời gian tới ............................................................................................... 71
4.1.1. Định hƣớng phát triển thị trƣờng trái phiếu Chính phủ đến năm 2020,
tầm nhìn đến năm 2030 ............................................................................................... 71
4.1.2. Định hƣớng nâng cao tính thanh khoản cho thị trƣờng trái phiếu Chính
phủ Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030............................................... 72
4.2. Các giải pháp nâng cao tính thanh khoản cho thị trƣờng trái phiếu Chính phủ ............ 73
4.2.1. Giải pháp từ Chính phủ, cơ quan quản lý nhà nƣớc .............................. 73
4.2.2. Giải pháp từ cơ quan phát hành ............................................................. 86
4.2.3. Giải pháp từ cơ quan quản lý thị trƣờng ................................................ 86
KẾT LUẬN ................................................................................................................ 88
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO .................................................................... 89


DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
STT

Ký hiệu

Nguyên nghĩa

1

ADB

Ngân hàng phát triển châu Á

2

BTC

Bộ Tài chính

3

HĐTL

Hợp đồng tƣơng lai

4

KBNN

Kho bạc Nhà nƣớc

5

NHTM

Ngân hàng thƣơng mại

6

NHNN

Ngân hàng nhà nƣớc

7

NSNN

Ngân sách nhà nƣớc

8

OTC

9

SGDCK

10

TPCP

11

TPCPBL

12

TPĐP

13

TW

Trung tâm giao dịch phi tập trung
Sở Giao dịch chứng khoán
Trái phiếu Chính phủ
Trái phiếu Chính phủ bảo lãnh
Trái phiếu địa phƣơng
Trung ƣơng

i


DANH MỤC BẢNG
Bảng 1: Một số tiêu chí đánh giá thành viên đấu thầu qua các năm ........................... 46
Bảng 2: Vùng lãi suất trúng thầu các kỳ hạn năm 2017 ............................................. 56
Bảng 3: Kỳ hạn phát hành bình quân của Trái phiếu Chính phủ ................................ 59
giai đoạn 2013-2017 .................................................................................................... 59
Bảng 4: Chính sách thuế đánh vào trái phiếu phát hành bằng đồng nội tệ của một số
quốc gia tính đến tháng 12/2017 ...................................................................... 60
Bảng 5. Xếp hạng tín nhiệm của một số nƣớc trong khu vực năm 2017 .................... 68

ii


DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 3.1: Quy mô niêm yết TPCP giai đoạn 2012-2017 (tỷ đồng)......................42
Biểu đồ 3.2: Chênh lệch giá chào mua/bán của Việt Nam so với một số nƣớc trong
khu vực giai đoạn 2012-2017 ..................................................................49
Biểu đồ 3.3: Chênh lệch giá chào mua/bán của Việt Nam giai đoạn 2012-2017 .....50
Biểu đồ 3.4: Vòng quay thanh khoản của thị trƣờng TPCP Việt Nam giai đoạn 2012
- 2017 (lần) ..............................................................................................51
Biểu đồ 3.5: Chỉ số vòng quay thanh khoản của một số nƣớc năm 2017 .................51
Biểu đồ 3.6: Cơ cấu nhà đầu tƣ trên thị trƣờng sơ cấp .............................................53
Biểu đồ 3.7: Tỷ lệ trúng thầu trên TT sơ cấp và tỷ lệ giao dịch trên TT thứ cấp của
khối ngoại ................................................................................................53
Biểu đồ 3.8: Số phát hành TPCP và dƣ nợ thị trƣờng so với GDP giai đoạn 20122017 (tỷ đồng)..........................................................................................54
Biểu đồ 3.9: Quy mô thị trƣờng trái phiếu của VN và các nƣớc trong khu vực theo
% GDP (năm 2017) .................................................................................55
Biểu đồ 3.10: Dƣ nợ thị trƣờng TPCP Việt Nam so sánh với các nƣớc trong..........55
khu vực (năm 2017) ..................................................................................................55
Biểu đồ 3.11: Khối lƣợng phát hành chia theo kỳ hạn ..............................................58
giai đoạn 2012 - 2017 (tỷ đồng) ..............................................................58
Biểu đồ 3.12: Quy trình đầu tƣ đối với nhà đầu tƣ nƣớc ngoài .................................61
Biểu đồ 3.13: Hệ thống đấu thầu, giao dịch xây dựng trên nền Internet ..................63

iii


LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Thị trƣờng trái phiếu Chính phủ là một bộ phận quan trọng của thị trƣờng tài
chính nói chung và thị trƣờng vốn nói riêng. Do thu hút đƣợc nguồn vốn khổng lồ của
toàn bộ nền kinh tế và nguồn vốn từ nƣớc ngoài thông qua việc phát hành trái phiếu, thị
trƣờng trái phiếu Chính phủ góp phần điều hòa, phân phối nguồn vốn trong nền kinh tế,
đáp ứng các yêu cầu về vốn đầu tƣ để phát triển kinh tế - xã hội và là công cụ hữu hiệu
giúp Chính phủ giải quyết các vấn đề thiếu hụt ngân sách, ổn định nền kinh tế vĩ mô.
Những năm gần đây, huy động vốn thông qua phát hành trái phiếu Chính phủ
đã đạt đƣợc những kết quả khả quan với tốc độ tăng trƣởng trung bình của thị
trƣờng sơ cấp đạt khoảng hơn 35%/năm trong giai đoạn từ năm 2012 đến năm 2017.
Sự gia tăng về quy mô trên thị trƣờng sơ cấp giúp cho thị thứ cấp phát triển nhanh
với giá trị giao dịch thông thƣờng và giao dịch mua bán lại TPCP tăng gần
95%/năm trong giai đoạn này (Báo cáo thƣờng niên HNX, 2012-2017).
Tuy nhiên, tính thanh khoản của trái phiếu Chính phủ Việt Nam vẫn chƣa
cao thể hiện ở tỷ lệ giá trị giao dịch thứ cấp/giá trị niêm yết đạt hơn 1,7 (năm 2016)
– trong khi tỷ lệ này vào năm 2007 ở Hàn Quốc hoặc Singapore là 2,6. Nguyên
nhân chính của tình trạng này là do sự chƣa ổn định trong nền kinh tế vĩ mô của
Việt Nam, bản thân thị trƣờng trái phiếu Chính phủ còn tồn tại nhiều vấn đề nhƣ:
quy mô của thị trƣờng còn nhỏ, cơ sở nhà đầu tƣ cần tiếp tục cải thiện, chƣa có một
hệ thống nhà tạo lập thị trƣờng với đầy đủ quyền lợi và nghĩa vụ theo thông lệ quốc
tế, các nghiệp vụ phái sinh chƣa phát triển...(Phạm Thị Thanh Tâm, 2018). Tính
thanh khoản thấp làm tăng chi phí đi vay của Chính phủ thông qua việc phát hành
trái phiếu, giảm hiệu quả luân chuyển vốn từ ngƣời tiết kiệm sang ngƣời đi vay qua
các trung gian tài chính và có thể gây ra ức chế tăng trƣởng kinh tế, đồng thời thị
trƣờng cũng dễ bị tổn thƣơng bởi các cú sốc từ đó làm cho thị trƣờng trái phiếu
Chính phủ phát triển thiếu tính bền vững, không tạo tính tham chiếu chuẩn để phát
triển thị trƣờng trái phiếu nói chung. Do đó, việc nghiên cứu, tìm kiếm giải pháp
nâng cao tính thanh khoản cho thị trƣờng trái phiếu Chính phủ Việt Nam là cần
thiết.
Xuất phát từ lý do trên, tác giả đã chọn đề tài: “Nâng cao tính thanh khoản
cho thị trường trái phiếu Chính phủ Việt Nam” để nghiên cứu.

1


2. Câu hỏi nghiên cứu
- Tính thanh khoản của thị trƣờng TPCP Việt Nam bị tác động bởi những
nhân tố nào?
- Thực trạng tính thanh khoản của thị trƣờng TPCP Việt Nam hiện nay nhƣ
thế nào?
- Để nâng cao tính thanh khoản của thị trƣờng TPCP Việt Nam thì cần có
những giải pháp gì?
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn về tính thanh khoản của thị trƣờng
trái phiếu Chính phủ, đề tài sẽ phân tích thực trạng về tính thanh khoản của thị
trƣờng trái phiếu Chính phủ Việt Nam, từ đó đề xuất những giải pháp, kiến nghị
nhằm nâng cao tính thanh khoản cho thị trƣờng trái phiếu Chính phủ Việt Nam
trong thời gian tới.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
(i) Hệ thống hoá những vấn đề lý luận về tính thanh khoản của thị trƣờng trái
phiếu Chính phủ và bài học kinh nghiệm thực tiễn của một số nƣớc về nâng cao tính
cao tính thanh khoản cho thị trƣờng trái phiếu Chính phủ;
(ii) Đánh giá thực trạng về tính thanh khoản của thị trƣờng trái phiếu Chính
phủ Việt Nam qua các chỉ số đo lƣờng, phân tích các hạn chế và nguyên nhân của
hạn chế;
(iii) Đề xuất các giải pháp, kiến nghị nhằm nâng cao tính thanh khoản cho thị
trƣờng trái phiếu Chính phủ Việt Nam;
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu lý luận và thực tiễn về tính thanh khoản của thị trƣờng
trái phiếu Chính phủ.
4.2. Phạm vi nghiên cứu:
- Về không gian: thị trƣờng Trái phiếu Chính phủ Việt Nam
- Về thời gian: giai đoạn từ năm 2012 đến năm 2017
- Về nội dung: tính thanh khoản của thị trƣờng trái phiếu chính phủ Việt Nam

2


CHƢƠNG 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TÍNH
THANH KHOẢN CỦA THỊ TRƢỜNG TRÁI PHIẾU CHÍNH PHỦ
1.1. Tổng quan về tình hình nghiên cứu
1.1.1. Các nghiên cứu ngoài nước
Các tổ chức nƣớc ngoài đã phát hành khá nhiều tài liệu về thị trƣờng trái
phiếu Chính phủ nói chung, tiêu biểu là:
- Báo cáo hỗ trợ kỹ thuật của Ngân hàng Phát triển Châu Á năm 2010 về
“Cải thiện tính thanh khoản của thị trường trái phiếu trong khu vực ASEAN+3” đã
chỉ ra đƣợc một số vấn đề mà thị trƣờng TPCP của các nền kinh tế mới nổi phải đối
mặt và đề xuất các giải pháp để cải thiện tính thanh khoản của thị trƣờng. Tuy
nhiên, hầu hết các giải pháp này cần có sự hỗ trợ kỹ thuật từ Ngân hàng Phát triển
Châu Á, tự bản thân các nƣớc khó có thể thực hiện đƣợc.
- Báo cáo tổng kết hội nghị thị trƣờng trái phiếu thƣờng niên lần thứ 10 của
Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế, Ngân hàng thế giới và Quỹ tiền tệ quốc tế
phối hợp tổ chức năm 2008, phần “Thanh khoản thị trường thứ cấp đối với thị
trường nợ trong nước” đã nêu ra những nội dung về các yếu tố ảnh hƣởng đến tính
thanh khoản của trái phiếu, thách thức đối với việc cải thiện tính thanh khoản và
một số ví dụ về giải pháp mà một số quốc gia đã sử dụng để tăng cƣờng tính thanh
khoản. Tuy nhiên, các giải pháp này chƣa hoàn toàn phù hợp với điều kiện kinh tế
xã hội của Việt Nam.
- “Bảy yêu cầu cơ bản của một thị trường thứ cấp TPCP thanh khoản” của
Nicholas de Boursac (Hiệp hội chứng khoán công nghiệp và thị trƣờng tài chính)
năm 2012 đã nêu đƣợc các đặc điểm cần có của một thị trƣờng trái phiếu Chính phủ
thứ cấp có tính thanh khoản. Tuy nhiên tác giả chƣa chỉ ra các cách để các thị
trƣờng TPCP đạt đƣợc những yêu cầu tiên quyết này để đƣợc coi là một thị trƣờng
thanh khoản.
- “Thanh khoản của thị trường TPCP Na uy” - ấn phẩm của Norges Bank
năm 2017 nghiên cứu về tính thanh khoản của thị trƣờng thứ cấp trái phiếu chính

3


phủ Na uy từ năm 2012 đến nay thông qua việc phân tích các chỉ số nhƣ chi phí
giao dịch và biến động giá…Qua một số điều tra, bài viết kết luận thanh khoản của
thị trƣờng TPCP Na uy những năm gần đây vẫn tiếp tục yếu hơn so với giai đoạn
khủng hoảng tài chính mà nguyên nhân chính từ việc điều chỉnh các chính sách
ngân hàng. Tuy nhiên, bài viết chỉ tổng kết, đánh giá về thực tế tính thanh khoản
của thị trƣờng TPCP Na uy chứ chƣa đƣa ra giải pháp để cải thiện tình hình này.
1.1.2. Các nghiên cứu trong nước
- Đề tài nghiên cứu khoa học do TS. Trần Đăng Khâm làm chủ nhiệm về
“Phát triển các nhà tạo lập thị trường trái phiếu ở Việt Nam” năm 2007 và Báo cáo
nghiên cứu khoa học “Phát hành theo lô lớn – giải pháp cơ bản nâng cao tính thanh
khoản của TPCP” của TS. Hồ Hữu Tiến năm 2008 đã chỉ ra giải pháp cơ bản nhằm
phát triển thị trƣờng nói chung và giúp nâng cao tính thanh khoản nói riêng. Tuy
nhiên, đây mới là một số giải pháp cơ bản,“còn thiếu những giải pháp đồng bộ
khác.”
- Đề tài nghiên cứu cấp Bộ “Các giải pháp nhằm tăng cường huy động vốn
cho đầu tư phát triển của Nhà nước, giai đoạn 2005-2010” của PGS. TS Lê Văn
Hƣng năm 2005 đã chỉ ra đƣợc một số giải pháp giúp phát triển thị trƣờng nhƣng
mục tiêu là để huy động vốn cho Ngân sách Nhà nƣớc chứ không phải để nâng cao
tính thanh khoản của thị trƣờng.
- Luận án Tiến sỹ “Phát triển thị trường trái phiếu ở Việt Nam” của TS.
Trịnh Mai Vân năm 2010 đã hệ thống hóa các vấn đề lý luận cơ bản về trái phiếu và
thị trƣờng trái phiếu, đánh giá thực trạng phát triển của thị trƣờng, chỉ ra hạn chế và
nguyên nhân của hạn chế làm thị trƣờng chƣa phát triển. Tác giả cũng đƣa ra nhóm
các giải pháp nhằm phát triển thị trƣờng trái phiếu một cách tổng thể chứ không tập
trung vào nâng cao thanh khoản thị trƣờng.
- Luận án Tiến sỹ “Phát triển thị trường trái phiếu Chính phủ ở Việt Nam”
của TS. Lê Anh Tuấn năm 2011 đã trình bày đƣợc những cơ sở lý luận về trái phiếu
chính phủ; đánh giá đƣợc thực trạng thị trƣờng trái phiếu Chính phủ đến năm 2009
và đề xuất đƣợc những giải pháp nhằm tăng quy mô thị trƣờng. Tuy nhiên, nhóm

4


giải pháp đƣợc đƣa ra mới chỉ giải quyết đƣợc một tiêu chí để đánh giá tính thanh
khoản của thị trƣờng trái phiếu Chính phủ là quy mô của thị trƣờng.
1.1.3. Khoảng trống nghiên cứu:
- Các nghiên cứu ngoài nƣớc đã trình bày cơ sở lý luận và thực tiễn giải pháp
mà một số nƣớc đã thực hiện thành công để tăng tính thanh khoản của trái phiếu của
họ. Tuy nhiên, do đặc điểm riêng về kinh tế - xã hội – chính trị, việc áp dụng các
giải pháp này tại Việt Nam còn nhiều điểm chƣa phù hợp.
- Do đối tƣợng nghiên cứu khác biệt và những biến động của tình hình phát
triển kinh tế - xã hội, các công trình nghiên cứu trong nƣớc mới hệ thống cơ sở lý
luận chung và đƣa ra các giải pháp nhằm phát triển thị trƣờng trái phiếu, thị trƣờng
trái phiếu chính phủ trong đó có một phần liên quan đến nâng cao tính thanh khoản
của trái phiếu mà chƣa đƣa ra một hệ thống các giải pháp đồng bộ hơn nhằm tăng
cƣờng tính thanh khoản của thị trƣờng trái phiếu Chính phủ.
- Các công trình nghiên cứu tại Việt Nam mới đề cập đến một số tiêu chí
định tính để đánh giá về sự phát triển của thị trƣờng trái phiếu mà chƣa phân tích
các tiêu chí định lƣợng cụ thể dùng để đo lƣờng tính thanh khoản của thị trƣờng trái
phiếu Chính phủ nói riêng.
1.2. Cơ sở lý luận về tính thanh khoản của thị trƣờng trái phiếu Chính phủ
1.2.1. Trái phiếu Chính phủ
1.2.1.1. Khái niệm Trái phiếu Chính phủ
Theo các nhà kinh tế Pháp, trái phiếu là loại chứng chỉ có giá, do các công ty
hoặc Chính phủ phát hành để vay vốn, chủ yếu là dài hạn để bù đắp ngân quỹ. Mỗi
chủ sở hữu trái phiếu sẽ mang tƣ cách là chủ nợ, chủ sở hữu một khoản nợ có lãi.
Theo nhiều nhà kinh tế, trái phiếu là một chứng khoán nợ thể hiện sự ràng
buộc pháp lý giữa tổ chức phát hành (ngƣời đi vay) và ngƣời mua trái phiếu (ngƣời
cho vay hoặc nhà đầu tƣ), thể hiện nghĩa vụ của ngƣời phát hành phải trả nợ cho
ngƣời nắm giữ trái phiếu một số tiền nhất định, vào những khoảng thời gian nhất
định và phải trả lại khoản tiền gốc khi khoản tiền vay đến hạn.
Nguyễn Văn Nam và Vƣơng Trọng Nghĩa (2002) cho rằng trái phiếu là một
loại chứng khoán quy định nghĩa vụ của ngƣời phát hành (ngƣời đi vay) phải trả cho
5


ngƣời đứng tên sở hữu chứng khoán (ngƣời cho vay) một khoản tiền nhất định bao
gồm cả gốc và lãi trong những khoảng thời gian cụ thể.
Trái phiếu có nhiều loại khác nhau, có loại do Chính phủ phát hành, có loại do
chính quyền địa phƣơng phát hành, có loại do các công ty phát hành, có loại do ngân
hàng hoặc do các định chế tài chính khác phát hành. Từ những đặc điểm chung nêu
trên có thể đƣa ra khái niệm về Trái phiếu Chính phủ nhƣ sau: Trái phiếu Chính phủ là
một loại chứng khoán nợ, do Chính phủ phát hành, có thời hạn, có mệnh giá, có lãi, xác
nhận nghĩa vụ trả nợ của Chính phủ đối với ngƣời sở hữu trái phiếu.
Theo Điều 3, Luật Quản lý nợ công năm 2009, trái phiếu Chính phủ là loại
trái phiếu do Bộ Tài chính phát hành nhằm huy động vốn cho ngân sách nhà nƣớc
hoặc huy động vốn cho công trình, dự án đầu tƣ cụ thể.
Nhƣ vậy, có thể hiểu trái phiếu Chính phủ là một loại chứng khoán nợ, do
Chính phủ phát hành để bù đắp bội chi và cho đầu tƣ phát triển, có thời hạn, có
mệnh giá và có lãi, xác nhận nghĩa vụ trả nợ của Chính phủ đối với ngƣời sở hữu
trái phiếu.
1.2.1.2. Đặc điểm của Trái phiếu Chính phủ
- Tính sinh lời thấp
Trái phiếu Chính phủ là chứng chỉ vay nợ của Chính phủ, khi đầu tƣ vào trái
phiếu tức là nhà đầu tƣ sẽ thu đƣợc một khoản lợi tức mong đợi trong tƣơng lai; với
uy tín của chủ thể phát hành là Chính phủ và nguồn vốn thanh toán TPCP khi đến
hạn đƣợc đảm bảo bằng nguồn vốn của NSNN; vì vậy, về nguyên tắc, lãi suất của
TPCP phải thấp hơn lãi suất thị trƣờng vay nợ cùng kỳ hạn, do đó tính sinh lời của
TPCP sẽ không cao so với các công cụ nợ khác trên thị trƣờng.
- Tính rủi ro thấp
Trái phiếu nào cũng có tính rủi ro, mức độ cao hay thấp thì hoàn toàn phụ
thuộc vào tính chất, đặc thù của từng loại trái phiếu. Khi nhà đầu tƣ đầu tƣ vào trái
phiếu đều kỳ vọng vào tiền lãi mà không tham gia trực tiếp vào quá trình quản lý
của tổ chức phát hành trái phiếu; tuy nhiên, trƣớc lúc đầu tƣ vào trái phiếu họ cũng
phải so sánh, cân nhắc giữa tiền lời thu đƣợc từ lãi trái phiếu so với lợi nhuận thu

6


đƣợc từ việc đầu tƣ vào các lĩnh vực khác. Khi nền kinh tế có những biến động tiêu
cực nhƣ: Tỷ lệ lạm phát, lãi suất thị trƣờng cao, kinh tế khủng khoảng,... thì những
yếu tố này cũng có những ảnh hƣởng không nhỏ đến rủi ro trong việc đầu tƣ vào
trái phiếu. Khi trái phiếu đƣợc lƣu hành, giá của trái phiếu đƣợc hình thành trên thị
trƣờng do cung và cầu quyết định. Rủi ro đối với đầu tƣ vào trái phiếu thể hiện: Khi
lãi suất thị trƣờng tăng làm cho giá trái phiếu giảm. Trong trƣờng hợp trái phiếu có
tính thanh khoản thấp thì việc chuyển đổi trái phiếu ra tiền mặt sẽ gặp nhiều khó
khăn - điều này ảnh hƣởng trực tiếp đến lợi tức đầu tƣ vào trái phiếu.
Các loại trái phiếu khác nhau có mức độ rủi ro khác nhau; cụ thể, TPCP có
mức độ rủi ro thấp nhất vì nguồn vốn thanh toán TPCP khi đến hạn đƣợc đảm bảo
bằng nguồn NSNN.
- Tính thanh khoản cao
Đó chính là khả năng nhanh chóng chuyển đổi trái phiếu thành tiền mặt mà
không làm mất đi giá trị, mỗi một loại trái phiếu khác nhau có khả năng thanh
khoản khác nhau; TPCP thông thƣờng có tính thanh khoản cao hơn so với các loại
trái phiếu khác.
Tín phiếu Kho bạc là loại TPCP có tính thanh khoản cao nhất bởi vì kỳ hạn
của nó ngắn (dƣới 1 năm), nó là một trong những công cụ quan trọng của thị trƣờng
tiền tệ - là một yếu tố cấu thành khối lƣợng tiền trong lƣu thông và đƣợc mua bán
trên thị trƣờng tiền tệ.
Trái phiếu Kho bạc thƣờng có kỳ hạn từ 1 năm trở lên, do vậy tính thanh
khoản của trái phiếu Kho bạc thấp hơn tín phiếu Kho bạc nhƣng lại có tính thanh
khoản cao hơn so với các công cụ nợ khác. Nguyên nhân là do trái phiếu Kho bạc
đáp ứng đủ điều kiện thì đƣợc giao dịch trên thị trƣờng thứ cấp, trong quá trình này
NHTW cũng tham gia với vai trò là chiết khấu ngắn hạn các công cụ nợ dài hạn –
giúp tăng tính thanh khoản của trái phiếu.
1.2.1.3. Phân loại trái phiếu Chính phủ
* Phân loại theo kỳ hạn và mục đích phát hành:

7


Tuỳ theo đặc điểm của hệ thống chính trị, mức độ phát triển của thị trƣờng
tài chính, mục tiêu, chính sách phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia trong
từng thời kỳ mà TPCP có các tên gọi khác nhau, đƣợc phát hành, thanh toán, quản
lý bởi các tổ chức khác nhau tuỳ theo quy định của mỗi nƣớc. Trái phiếu Chính phủ
có nhiều loại khác nhau, nếu căn cứ vào kỳ hạn và mục đích phát hành thông
thƣờng TPCP đƣợc chia thành: tín phiếu Kho bạc; trái phiếu Kho bạc; công trái xây
dựng tổ quốc (Quốc trái)...
- Tín phiếu Kho bạc: là loại trái phiếu Chính phủ có kỳ hạn 13 tuần, 26 tuần
hoặc 52 tuần và đồng tiền phát hành là đồng Việt Nam. Các kỳ hạn khác của tín
phiếu kho bạc do Bộ Tài chính quyết định tùy theo nhu cầu sử dụng vốn và tình
hình thị trƣờng nhƣng không đƣợc vƣợt quá 52 tuần.
- Trái phiếu Kho bạc: là loại trái phiếu Chính phủ có kỳ hạn từ một (01) năm
trở lên và đồng tiền phát hành là đồng tiền Việt Nam hoặc ngoại tệ tự do chuyển
đổi.
- Công trái xây dựng tổ quốc: là loại trái phiếu Chính phủ có kỳ hạn từ một
(01) năm trở lên, đồng tiền phát hành là đồng Việt Nam và đƣợc phát hành nhằm
huy động nguồn vốn để đầu tƣ xây dựng những công trình quan trọng quốc gia và
các công trình thiết yếu khác phục vụ sản xuất, đời sống, tạo cơ sở vật chất, kỹ thuật
cho đất nƣớc.
* Phân loại theo hình thức trái phiếu:
- Trái phiếu vô danh: Là loại trái phiếu không ghi tên của ngƣời mua trên
chứng chỉ trái phiếu hoặc trong sổ sách của tổ chức phát hành. Ngƣời nắm giữ trái
phiếu là ngƣời đƣợc hƣởng quyền lợi của chủ sở hữu trái phiếu theo quy định.
- Trái phiếu ghi danh: Là loại trái phiếu có ghi tên nhà đầu tƣ trên chứng chỉ
trái phiếu hoặc trong sổ của tổ chức phát hành.
Ngoài cách phân loại chủ yếu nêu trên, ngƣời ta còn có nhiều cách phân loại
khác nhau nhƣ: Căn cứ vào mức độ rủi ro tín dụng, vào tính chất của trái phiếu và
vào phạm vi phát hành (trái phiếu trong nƣớc và trái phiếu quốc tế),...
* Phân loại theo lợi tức trái phiếu:

8


- Trái phiếu có lãi suất cố định: Là loại trái phiếu mà lợi tức đƣợc xác định
theo một tỷ lệ phần trăm (%) cố định theo mệnh giá.
- Trái phiếu có lãi suất thay đổi (thả nổi): Lợi tức của trái phiếu đƣợc trả
trong các kỳ có sự khác nhau đƣợc tính theo một lãi suất có sự biến đổi theo một lãi
suất tham chiếu.
- Trái phiếu có lãi suất bằng không (zero - coupon Bonds): Là loại trái phiếu
mà ngƣời mua không nhận đƣợc lãi, nhƣng đƣợc mua với giá thấp hơn mệnh giá
(mua chiết khấu) và đƣợc hoàn trả bằng mệnh giá khi trái phiếu đó đáo hạn.
1.2.2. Thị trường trái phiếu Chính phủ
1.2.2.1. Khái niệm
Thị trƣờng trái phiếu Chính phủ là một bộ phận của thị trƣờng tài chính và là
một bộ phận không thể tách rời thị trƣờng chứng khoán, là nơi diễn ra các hoạt động
phát hành, niêm yết, giao dịch, mua, bán các loại TPCP. Trái phiếu Chính phủ là
một loại chứng khoán nợ do Chính phủ phát hành, TPCP là một trong những công
cụ nợ của Chính phủ chính vì vậy mà thị trƣờng TPCP đƣợc coi là thị trƣờng nợ.
Thông qua thị trƣờng TPCP, Chính phủ sẽ thu hút và khơi thông đƣợc các nguồn
vốn nhàn rỗi trong dân cƣ để tập trung đầu tƣ cho các mục tiêu dài hạn đã đƣợc
hoạch định.
Trái phiếu Chính phủ nếu đáp ứng đủ các điều kiện kỹ thuật theo quy định
của Sở GDCK thì đƣợc niêm yết, giao dịch trên thị trƣờng chứng khoán, là hàng
hóa cho các nhà đầu tƣ tham gia mua đi bán lại trên thị trƣờng.
1.2.2.2. Đối tượng tham gia thị trường
* Cơ quan quản lý nhà nƣớc:
Thông qua việc ban hành các cơ chế, chính sách, quy định điều chỉnh hoạt
động của các đối tƣợng tham gia thị trƣờng nhƣ nhà đầu tƣ, trung gian tài chính,...
Chính phủ tham gia thị trƣờng với tƣ cách là nhà tổ chức và quản lý thị trƣờng.
Các cơ quan của Chính phủ tham gia quản lý nhà nƣớc đối với thị trƣờng bao
gồm Bộ Tài chính và Ngân hàng Nhà nƣớc. Sự phối kết hợp giữa các cơ quan quản lý
Nhà nƣớc trong hoạt động quản lý thị trƣờng, quản lý các thành viên có ý nghĩa quan
trọng trong việc nâng cao hiệu quả và đảm bảo an toàn cho hoạt động của thị trƣờng.
9


* Cơ quan quản lý thị trƣờng:
Bao gồm: Sở Giao dịch chứng khoán (SGDCK) và Trung tâm giao dịch phi
tập trung (OTC). SGDCK là địa điểm giao dịch có tổ chức để giao dịch các trái
phiếu đƣợc niêm yết, thực hiện vận hành thị trƣờng thông qua bộ máy tổ chức bao
gồm nhiều bộ phận khác nhau phục vụ các hoạt động trên thị trƣờng chính thức.
Ngoài ra, SGDCK cũng ban hành những quy định điều chỉnh các hoạt động giao
dịch chứng khoán ở Sở, phù hợp với các quy định luật pháp về chứng khoán và giao
dịch chứng khoán. Đối với trung tâm OTC, tùy theo mỗi quốc gia mà trung tâm này
do Chính phủ thành lập và quản lý hoặc dƣới hình thức tự quản do các hiệp hội các
nhà kinh doanh chứng khoán thành lập và quản lý. Hoạt động giao dịch trên thị
trƣờng OTC có quy chế chặt chẽ và chịu sự quản lý giám sát hoạt động của thị
trƣờng từ phía các cơ quan quản lý Nhà nƣớc. Hoạt động của thị trƣờng OTC làm
cho hoạt động của thị trƣờng trái phiếu sôi động hơn, trái phiếu đƣợc luân chuyển,
giao dịch thuận lợi và nâng cao tính thanh khoản của các loại trái phiếu nói chung
và TPCP nói riêng.
* Các tổ chức phát hành:
Chủ thể phát hành trái phiếu là một tổ chức cần vốn và thực hiện huy động
vốn bằng cách phát hành trái phiếu ra thị trƣờng thông qua việc bán trái phiếu cho
các nhà đầu tƣ.
Tổ chức phát hành trái phiếu Chính phủ là một tổ chức đƣợc Chính phủ chỉ
định, cho phép, ủy quyền thực hiện việc phát hành (bán), thanh toán trái phiếu cho
các nhà đầu tƣ; tuỳ thuộc vào mức độ phát triển của thị trƣờng, cơ cấu thị trƣờng,
thể chế chính trị của mỗi quốc gia mà tổ chức phát hành, thanh toán trái phiếu Chính
phủ có thể là Kho bạc Nhà nƣớc, Quỹ Tiết kiệm bƣu điện, Ngân hàng Phát triển, Ngân
hàng trung ƣơng,... Hiện nay tại Việt Nam, tổ chức phát hành trái phiếu trên thị trƣờng
TPCP bao gồm: Kho bạc Nhà nƣớc (đƣợc sự ủy quyền của Bộ Tài chính) – phát hành
trái phiếu Chính phủ, các chính quyền địa phƣơng – phát hành trái phiếu Chính quyền
địa phƣơng và Ngân hàng phát triển, Ngân hàng chính sách Xã hội và các doanh
nghiệp nhà nƣớc – phát hành trái phiếu Chính phủ bảo lãnh.

10


* Các nhà đầu tƣ:
Nếu coi ngƣời phát hành trái phiếu là đối tƣợng tạo ra sức cung hàng hoá thì
các nhà đầu tƣ chính là những ngƣời tạo ra sức cầu hàng hoá trên thị trƣờng trái
phiếu, nói một cách khác, các nhà đầu tƣ chính là những ngƣời tham gia mua, bán,
giao dịch các loại chứng khoán nợ do Chính phủ phát hành. Nếu phân loại theo quy
mô, tổ chức của các chủ thể đầu tƣ thì phân chia thành các nhà đầu tƣ cá nhân và
các nhà đầu tƣ có tổ chức:
- Các nhà đầu tƣ tổ chức: đây là các nhà đầu tƣ đóng vai trò quan trọng đối
với hoạt động của thị trƣờng trái phiếu nhƣ các quỹ đầu tƣ, các công ty bảo hiểm,
các công ty chứng khoán, các ngân hàng thƣơng mại…. và đây là những tổ chức có
nghiệp vụ chuyên môn cao về đầu tƣ chứng khoán.
- Các nhà đầu tƣ cá nhân: Thông thƣờng các nhà đầu tƣ cá nhân là các hộ
gia đình, ngƣời dân có khoản tiền nhàn rỗi không nhiều, thay vì gửi tiết kiệm vào
ngân hàng họ quyết định đầu tƣ dƣới hình thức mua TPCP do đây là hàng hóa có
đội rủi ro thấp nhất trên thị trƣờng và họ chấp nhận đƣợc mức lợi nhuận nhận đƣợc
khi mua trái phiếu này.
* Các tổ chức tài chính trung gian tài chính và hỗ trợ thị trƣờng
Thị trƣờng TPCP phát triển luôn đòi hỏi cần có nhiều tổ chức trung gian tài
chính và hỗ trợ giao dịch, họ là cầu nối giữa ngƣời mua và ngƣời bán trái phiếu với
nhau, là ngƣời đứng ra kết nối các hoạt động mua, bán, trao đổi giữa chủ thể phát
hành và nhà đầu tƣ; giữa các nhà đầu tƣ với nhau. Các tổ chức trung gian trên thị
trƣờng TPCP bao gồm:
- Các nhà tạo lập thị trƣờng
Hoạt động của các nhà tạo lập thị trƣờng cũng giống nhƣ các tổ chức kinh
doanh trái phiếu khác: đóng vai trò phân phối vốn giữa tổ chức phát hành và nhà
đầu tƣ trên thị trƣờng sơ cấp qua việc tham gia các phiên đấu thầu phát hành trái
phiếu Chính phủ, hỗ trợ và tạo dựng một lƣợng cầu ổn định về trái phiếu Chính phủ
trên thị trƣờng sơ cấp; là ngƣời bảo lãnh phát hành trái phiếu Chính phủ khi nắm bắt
nhu cầu đầu tƣ trái phiếu của nhà đầu tƣ và khả năng phát hành trái phiếu Chính phủ

11


của tổ chức phát hành. Điểm khác ở chỗ các nhà tạo lập thị trƣờng là những ngƣời
tạo ra thị trƣờng có tính thanh khoản cao bằng cách thƣờng xuyên yết lên các mức
giá chào mua, chào bán đối với các mã trái phiếu chuẩn trên thị trƣờng thứ cấp, qua
đó đảm bảo một thị trƣờng hai chiều (mua bán liên tục).
Trong hoạt động tạo lập thị trƣờng trái phiếu, nhà tạo lập luôn phải nắm giữ
một khối lƣợng trái phiếu đủ lớn để sẵn sàng bán khi có yêu cầu đặt mua, đồng thời
phải dự trữ ngân quỹ để mua trái phiếu khi nhà đầu tƣ có yêu cầu bán. Do đó, các tổ
chức này có vai trò rất quan trọng trong đảm bảo tính thanh khoản của thị trƣờng và
đƣợc quy định có những quyền lợi và nghĩa vụ riêng:
+ Về nghĩa vụ của nhà tạo lập thị trường: phải tham gia tích cực trên thị
trƣờng sơ cấp và thứ cấp với khối lƣợng mua và giao dịch tối thiểu; phải chào giá
chắc chắn 2 chiều hoặc chào giá tham chiếu 2 chiều.
+ Về quyền lợi của nhà tạo lập thị trường: độc quyền tham gia đấu thầu, có
quyền đƣợc đặt thầu sát giờ đóng cửa phiên đấu thầu, độc quyền đƣợc sử dụng hệ
thống giao dịch để thực hiện cập nhật tình hình thị trƣờng và thực hiện giao dịch, có
quyền tham gia hệ thống các nghiệp vụ rộng hơn so với các thành viên giao dịch
khác và đƣợc tiếp cận cơ chế hỗ trợ thanh khoản khi có khó khăn thanh khoản trong
việc thực hiện nghĩa vụ chào giá chắc chắn 2 chiều.
- Tổ chức bảo lãnh phát hành
Tổ chức bảo lãnh phát hành là các công ty Chứng khoán, Quỹ đầu tƣ, Công
ty tài chính, các NHTM. Các tổ chức này sẽ giúp cho tổ chức phát hành thực hiện
các thủ tục trƣớc khi phát hành trái phiếu ra thị trƣờng, phân phối trái phiếu cho các
nhà đầu tƣ, nhận mua trái phiếu để bán lại hoặc mua số trái phiếu còn chƣa phân
phối hết.
- Đại lý phân phối chứng khoán
Để phân phối chứng khoán đến các nhà đầu tƣ đƣợc thuận tiện, tổ chức phát
hành thƣờng thuê một hoặc một nhóm công ty đứng ra làm đại lý phân phối chứng
khoán. Công ty này thƣờng có mạng lƣới, chi nhánh rộng, tạo điều kiện để ngƣời có
nhu cầu đầu tƣ dễ dàng có đƣợc các thông tin cần thiết trƣớc khi đƣa ra các quyết

12


định đầu tƣ của mình.
- Tổ chức môi giới chứng khoán
Là tổ chức có chức năng tƣ vấn, giúp đỡ các nhà đầu tƣ trong việc ra quyết
định đầu tƣ và thực hiện các quyết định đầu tƣ đó. Tổ chức môi giới chứng khoán
cũng có thể đƣa ra các lời khuyên về hoạt động nghiệp vụ đối với các công ty
chứng khoán và các tổ chức tài chính.
- Tổ chức đánh giá hệ số tín nhiệm
Là tổ chức chuyên về đánh giá mức độ tín nhiệm của các Tổ chức phát hành
và xếp hạng chúng theo năng lực thanh toán tiền lãi và vốn vay theo kỳ hạn đã cam
kết của tổ chức phát hành trái phiếu.
Hệ số tín nhiệm sẽ cung cấp những thông tin cần thiết cho nhà đầu tƣ về tình
trạng của tổ chức phát hành để lựa chọn khi đầu tƣ vào trái phiếu một cách thích
hợp, góp phần làm giảm bớt chi phí sử dụng vốn cho tổ chức phát hành.
- Hiệp hội các nhà kinh doanh trái phiếu
Đây là tổ chức đƣợc thành lập bởi các công ty chứng khoán và một số thành
viên khác hoạt động trong lĩnh vực chứng khoán. Hiệp hội hoạt động nhằm mục
đích chia sẻ thông tin, bảo vệ quyền lợi cho các thành viên nói riêng và cho tất cả
các nhà đầu tƣ nói chung. Hiệp hội các nhà kinh doanh trái phiếu thƣờng là một tổ
chức tự điều hành.
1.2.2.3. Phân loại thị trường
* Phân loại theo quá trình luân chuyển vốn:
- Thị trƣờng sơ cấp
Thị trƣờng sơ cấp là thị trƣờng thực hiện việc phát hành mới các loại TPCP,
khác với thị trƣờng thứ cấp là nơi mua, bán các loại trái phiếu đã phát hành trƣớc
đó. Thị trƣờng này có đặc điểm là hoạt động không liên tục và chỉ hoạt động khi có
đợt phát hành TPCP mới.
- Thị trƣờng thứ cấp
Đây là nơi giao dịch các loại TPCP đã đƣợc phát hành trên thị trƣờng sơ cấp.
Hoạt động của thị trƣờng thứ cấp tạo ra khả năng dễ dàng, thuận tiện chuyển đổi trái

13


phiếu thành tiền hay là tác nhân quan trọng ảnh hƣởng đến tính thanh khoản của trái
phiếu. Thị trƣờng sơ cấp và thị trƣờng thứ cấp có mối quan hệ tƣơng tác gắn bó chặt
chẽ với nhau: nếu không có thị trƣờng sơ cấp thì không có hàng hóa để lƣu thông
trên thị trƣờng thứ cấp; nhƣng nếu không có thị trƣờng thứ cấp thì thị trƣờng sơ cấp
cũng khó có thể phát triển và hoạt động có hiệu quả. Vì vậy, mặc dù sự hoạt động
của thị trƣờng thứ cấp không làm tăng thêm vốn đầu tƣ cho nền kinh tế song sự tồn
tại và hoạt động nhịp nhàng của thị trƣờng thứ cấp làm cho thị trƣờng sơ cấp hoạt
động có hiệu quả và phát triển.
* Phân loại theo hình thức tổ chức thị trƣờng
- Sở giao dịch chứng khoán: Sở giao dịch chứng khoán (SGDCK) là thị
trƣờng giao dịch chứng khoán đƣợc thực hiện tại một địa điểm tập trung gọi là sàn
giao dịch (trading floor) hoặc thông qua hệ thống máy tính. Thị trƣờng hoạt
động theo nguyên tắc trung gian hay nguyên tắc không có ngƣời mua, ngƣời bán
cuối cùng. Theo cách thức đó, các nhà đầu tƣ phải mở tài khoản thanh toán và lƣu
ký chứng khoán, phải ký hợp đồng kinh doanh với các công ty chứng khoán, các
công ty môi giới. Khi có nhu cầu mua bán chứng khoán, nhà đầu tƣ sẽ uỷ quyền cho
các công ty chứng khoán, các công ty môi giới đại diện cho họ thực hiện mua bán
chứng khoán thông qua hoạt động đấu giá hoặc thỏa thuận tập trung tại sàn giao
dịch. Nhƣ vậy, tại thị trƣờng tập trung, chỉ có các thành viên chính thức mới đƣợc
trực tiếp thực hiện các giao dịch tại sàn, các thành viên khác bắt buộc phải thực hiện
giao dịch thông qua các thành viên chính thức của thị trƣờng.
Để đƣợc giao dịch tại thị trƣờng chứng khoán tập trung thì trái phiếu phải
niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán. Sở giao dịch chứng khoán đƣợc đặt dƣới
sự kiểm soát chặt chẽ của Uỷ ban Chứng khoán quốc gia và các giao dịch phải tuân
theo các quy định của Nhà nƣớc về chứng khoán và thị trƣờng chứng khoán.
- Thị trƣờng phi tập trung (OTC)
Là thị trƣờng không có trung tâm giao dịch, việc giao dịch chứng khoán
đƣợc các công ty chứng khoán thực hiện qua mạng lƣới điện thoại, điện tín và
Internet. Việc mua, bán trên thị trƣờng OTC đƣợc thực hiện thông qua thƣơng

14


lƣợng, mặc cả giữa bên mua và bên bán. Thị trƣờng OTC có ƣu điểm là linh hoạt
hơn thị trƣờng tập trung, nó cho phép giao dịch cả trái phiếu niêm yết và không
niêm yết. Những chứng khoán giao dịch tại thị trƣờng phải thỏa mãn một số điều
kiện do Hiệp hội các nhà kinh doanh chứng khoán quy định.
Sự khác biệt giữa thị trƣờng Sở giao dịch chứng khoán và thị trƣờng OTC
chính là điều kiện tham gia thị trƣờng. Để tham gia đầy đủ vào Sở giao dịch chứng
khoán đòi hỏi phải có những điều kiện ngặt nghèo liên quan đến năng lực, vốn,...
trong khi đó để tiếp cận thị trƣờng OTC dễ dàng hơn nhiều nhờ các điều kiện tham
gia thị trƣờng lỏng hơn. Thị trƣờng OTC hỗ trợ cho Sở giao dịch chứng khoán, nó
mở rộng sự hoạt động của thị trƣờng thứ cấp và cùng Sở giao dịch hạn chế đến
mức tối thiểu sự biến động giá cả bằng cách thƣờng xuyên kiểm tra việc hình thành
giá chứng khoán lẫn cho nhau.
Tuy nhiên, hoạt động giao dịch trên thị trƣờng OTC yêu cầu phải có quy chế
chặt chẽ và sự quản lý giám sát hoạt động của thị trƣờng từ phía các cơ quan quản
lý Nhà nƣớc. Hoạt động của thị trƣờng OTC làm cho hoạt động của thị trƣờng
TPCP sôi động hơn, TPCP đƣợc luân chuyển, giao dịch thuận lợi và nâng cao tính
thanh khoản của thị trƣờng.
* Theo phƣơng thức giao dịch:
Gồm thị trƣờng giao ngay và thị trƣờng kỳ hạn (tƣơng ứng với nó là hai hình
thức giao dịch phổ biến là giao dịch mua đứt bán đoạn - out-right và giao dịch mua
bán lại - repo).
- Thị trƣờng giao ngay: là thị trƣờng mua bán trái phiếu theo giá tại thời
điểm giao dịch nhƣng việc thực hiện thanh toán và giao hàng có thể diễn ra sau đó
một vài ngày theo thỏa thuận.
- Thị trƣờng kỳ hạn: Là thị trƣờng mua bán trái phiếu theo một loại hợp
đồng định sẵn, giá cả đƣợc thỏa thuận trong ngày giao dịch, nhƣng việc thanh toán
và giao hàng xảy ra trong một thời hạn ở tƣơng lai.
1.2.2.4. Các hoạt động trên thị trường trái phiếu Chính phủ
* Hoạt động trên thị trường sơ cấp

15


Nhƣ đã đề cập ở phần trên, thị trƣờng sơ cấp là nơi thực hiện việc phát hành
mới các loại TPCP, TPCP thƣờng đƣợc phát hành theo các phƣơng thức sau:
- Bảo lãnh phát hành trái phiếu
Bảo lãnh phát hành là việc tổ chức bảo lãnh giúp tổ chức phát hành thực
hiện các thủ tục trƣớc khi phát hành trái phiếu ra thị trƣờng chứng khoán, phân phối trái
phiếu cho các nhà đầu tƣ, nhận mua trái phiếu để bán lại hoặc mua số trái phiếu còn lại
chƣa phân phối hết.
Một số phƣơng thức bảo lãnh đang đƣợc sử dụng bao gồm:
+ Bảo lãnh với cam kết chắc chắn (bảo lãnh toàn phần): là phƣơng thức,
trong đó tổ chức bảo lãnh cam kết sẽ mua toàn bộ trái phiếu của nhà phát hành cho
dù trong trƣờng hợp không phân phối hết. Hay nói một cách khác, tổ chức bảo
lãnh phát hành phải cam kết thanh toán đầy đủ số tiền bán trái phiếu cho nhà phát
hành kể cả có bán đƣợc hết hay không.
+ Bảo lãnh từng phần: là phƣơng thức mà tổ chức bảo lãnh nhận mua một
phần (đƣợc quy định trong hợp đồng) số trái phiếu của nhà phát hành nếu phân
phối không hết.
+ Bảo lãnh với cố gắng cao nhất: là hình thức trong đó, tổ chức bảo lãnh
hoạt động nhƣ một đại lý cho nhà phát hành; tổ chức bảo lãnh sẽ nỗ lực tối đa
nhƣng không cam kết trong việc phân phối trái phiếu cho các nhà đầu tƣ. Trong
trƣờng hợp nếu không bán hết, tổ chức bảo lãnh sẽ đƣợc quyền hoàn trả số trái
phiếu còn lại cho nhà phát hành mà không bị chịu phạt và đây là hình thức đƣợc
các tổ chức bảo lãnh hay áp dụng nhất.
+ Bảo lãnh theo phương thức bán tất cả hoặc không: là hình thức mà tổ
chức bảo lãnh cũng phải cố gắng tối đa để bán hết số chứng khoán do tổ chức phát
hành yêu cầu. Trƣờng hợp không bán hết, đợt phát hành sẽ bị huỷ bỏ và tổ chức
bảo lãnh sẽ không đƣợc nhận bất kỳ một khoản hoa hồng nào và số tiền đã bán trái
phiếu sẽ đƣợc hoàn trả cho các nhà đầu tƣ.
+ Bảo lãnh theo phương thức tối thiểu – tối đa: đây là phƣơng thức mà tổ
chức phát hành yêu cầu tổ chức bảo lãnh phải phân phối một tỷ lệ tối thiểu

16


nhất định trái phiếu phát hành. Nếu không đạt đƣợc đƣợc tỷ lệ đó thì toàn bộ đợt
phát hành bị huỷ bỏ và tổ chức bảo lãnh sẽ không đƣợc nhận bất kỳ một khoản
hoa hồng nào.
- Đấu thầu
Hình thức đấu thầu trái phiếu là việc bán trái phiếu cho các tổ chức, cá nhân
tham gia đấu thầu, đáp ứng đủ các yêu cầu và có mức lãi suất đặt thầu thấp nhất
(hay giá đặt thầu cao nhất). Việc đấu thầu trái phiếu có thể đƣợc thực hiện tại nơi
phát hành, có thể đấu thầu thông qua các tổ chức trung gian tài chính hoặc có thể
đƣợc thực hiện qua Sở giao dịch chứng khoán (các đối tƣợng tham gia tại SGDCK
phải đáp ứng đủ các điều kiện theo quy định của pháp luật). Các nhà đầu tƣ nhỏ
tham gia đấu thầu trái phiếu thông qua các thành viên đấu thầu.
- Đại lý phát hành
Hình thức đại lý phát hành trái phiếu là việc tổ chức đƣợc phép làm đại lý
phát hành trái phiếu thoả thuận với tổ chức phát hành nhận bán trái phiếu. Trƣờng
hợp không bán hết, tổ chức đại lý phát hành đƣợc phép hoàn trả lại số trái phiếu
cho tổ chức phát hành mà không có trách nhiệm phải mua lại số trái phiếu không
bán hết đó và các tổ chức này sẽ đƣợc hƣởng một khoản phí nhất định theo mức
thoả thuận với nhà phát hành.
- Phát hành qua tổ hợp ngân hàng đầu tƣ
Hình thức này áp dụng khi cơ quan phát hành uỷ thác việc phát hành trái phiếu
cho Ngân hàng Trung ƣơng. Phƣơng thức tiến hành là một tổ hợp ngân hàng đầu tƣ
lớn sẽ đứng ra thảo luận mức lãi suất với ngân hàng Trung ƣơng. Sau đó, toàn bộ khối
lƣợng trái phiếu phát hành sẽ đƣợc tổ hợp đảm nhận mua và phân phối.
- Phát hành theo phƣơng thức bán lẻ
Với hình thức này, nhà phát hành tiến hành tự tổ chức phát hành trái phiếu
cho nhà đầu tƣ mà không thông qua bất cứ một tổ chức trung gian nào. Hình thức
phát hành này phù hợp khi huy động với khối lƣợng vốn không lớn. Ƣu điểm là
chi phí phát hành tƣơng đối thấp. Tuy nhiên, có thể việc huy động sẽ bị kéo dài
và khối lƣợng huy động không đảm bảo theo kế hoạch vì phạm vi thị trƣờng

17


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×