Tải bản đầy đủ (.pdf) (18 trang)

Đề cương_kê biên quyền sử dụng đất

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (497.61 KB, 18 trang )

ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TRÀ VINH

ISO 9001:2015

ĐỀ CƯƠNG LUẬN VĂN
KÊ BIÊN QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT TRONG HOẠT
ĐỘNG THI HÀNH ÁN DÂN SỰ VÀ THỰC TIỄN
ÁP DỤNG TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BẾN TRE
Ngành: Luật Dân sự và Tố tụng dân sự
Mã ngành: 8380103

TRÀ VINH, NĂM 2019


MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU ............................................................................................................ 1
1. Tính cấp thiết của đề tài .............................................................................................. 1
2. Mục tiêu nghiên cứu.................................................................................................... 2
2.1. Mục tiêu chung ......................................................................................................... 2
2.2. Mục tiêu cụ thể ......................................................................................................... 2
3. Tổng quan các nghiên cứu có liên quan đến đề tài ..................................................... 3
4. Phương pháp nghiên cứu............................................................................................. 6
5. Phạm vi giới hạn đề tài ................................................................................................ 6
6. Đối tượng nghiên cứu.................................................................................................. 7
7. Kết cấu luận văn .......................................................................................................... 7
PHẦN NỘI DUNG ........................................................................................................ 8
8. Tài liệu tham khảo ..................................................................................................... 11
9. Dự kiến tiến độ thực hiện luận văn ........................... Error! Bookmark not defined.
PHẦN KẾT LUẬN ...................................................................................................... 15



PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Thi hành án dân sự là giai đoạn sau cùng của điều tra, tuy tố và xét xử, có vai
trò quan trọng trong hoạt động Tư pháp, nhằm góp phần thượng tôn tính nghiêm minh
của pháp luật, pháp chế xã hội chủ nghĩa; bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức,
cá nhân và lợi ích của Nhà nước. Mọi cá nhân có liên quan phải nghiêm chỉnh chấp
hành bản án, quyết định của tòa án đã có hiệu lực, pháp luật được quy định tại Điều
106 Hiến pháp năm 2013 quy định “Bản án, quyết định của tòa án nhân dân có hiệu
lực, pháp luật phải được cơ quan, tổ chức, cá nhân tôn trọng; cơ quan, tổ chức, cá
nhân hữu quan phải nghiêm chỉnh chấp hành”; Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02
tháng 06 năm 2005 của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách Tư pháp đến năm 2020
“Nhằm xây dựng cơ chế bảo đảm mọi bản án của tòa án có hiệu lực, pháp luật phải
được thi hành, các cơ quan hành chính vi phạm bị xử lý theo phán quyết của tòa án
phải nghiêm chỉnh chấp hành”; Chỉ thị số 05/CT-TTg ngày 06 tháng 02 năm 2017 của
Chính phủ về tăng cường công tác thi hành án dân sự. Tuy nhiên, trên thực tế không
phải trường hợp nào đương sự cũng tự nguyện thi hành án, để thi hành dứt điểm bản
án, quyết định của tòa án đã có hiệu lực, pháp luật Chấp hành viên phải áp dụng biện
pháp cưỡng chế thi hành án nói chung và biện pháp kê biên quyền sử dụng đất trong
hoạt động thi hành án nói riêng, để thi hành dứt điểm bản án, quyết định của tòa án đã
có hiệu lực, pháp luật.
Kê biên quyền sử dụng đất trong hoạt động thi hành án dân sự là một biện pháp
hữu hiệu nhất mang tính răn đe, thể hiện quyền lực của Nhà nước do Chấp hành viên
thực hiện kê biên quyền sử dụng đất. Nhằm định đoạt tài sản của người phải thi hành
án để đảm bảo các nghĩa vụ thi hành án bằng tiền, được xác định trong bản án, quyết
định của tòa án đã có hiệu lực, pháp luật. Vì vậy, việc kê biên quyền sử dụng đất của
người phải thi hành án được Chấp hành viên áp dụng thường xuyên trong quá trình tổ
chức thi hành án.
Trong những năm qua, nhiều vụ việc án với số tiền lớn liên quan đến lĩnh vực
đất đai được Chấp hành viên giải quyết dứt điểm nhằm góp phần công tác thi hành án

dân sự đạt và vượt chỉ tiêu do Quốc hội giao. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt
được, qua nghiên cứu các quy định hiện hành về kê biên quyền sử dụng đất vẫn còn
bộc lộ những tồn tại, hạn chế, bất cập, dẫn đến nhiều cách hiểu khác nhau chưa thống
1


nhất về kê biên quyền sử dụng đất cần phải tháo gỡ như: Luật Thi hành án dân sự;
Luật Đất đai; Các Nghị định hướng dẫn thi hành và các văn bản pháp luật khác có liên
quan vẫn còn những điểm chồng chéo chưa thống nhất. Công tác phối hợp giữa các cơ
quan quản lý đất đai chưa chặc chẽ, dẫn đến nhiều bản án, quyết định của tòa án đã có
hiệu lực, pháp luật mà người phải thi hành án vẫn thực hiện chuyển quyền sử dụng đất
nhằm trốn tránh nghĩa vụ thi hành án. Các việc án tín dụng Ngân hàng không xác định
được phạm vi giá trị tài sản bảo lãnh số tiền vay bao nhiêu, các ngành không thống
nhất quan điểm giải quyết dẫn đến nhiều việc án tồn đọng kéo dài nhiều năm, phát sinh
nhiều việc khiếu nại, tố cáo trong quần chúng nhân dân làm mất an ninh trật tự tại địa
phương. Vì vậy, hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự là vấn đề mang tính cấp bách
và cần thiết.
Vì những lẽ đó tác giả mạnh dạng chọn đề tài “Kê biên quyền sử dụng đất
trong hoạt động thi hành án dân sự và thực tiễn áp dụng trên địa bàn tỉnh Bến
Tre” làm đề tài nghiên cứu cho mình.
2. Mục tiêu nghiên cứu
2.1. Mục tiêu chung
Mục đích của việc nghiên cứu đề tài làm rõ một số vấn đề lý luận, phân tích,
đánh giá toàn diện về kê biên quyền sử dụng đất trong hoạt động thi hành án, theo quy
định pháp luật hiện hành, qua thực tiễn áp dụng trên địa bàn tỉnh Bến Tre. Quá trình áp
dụng còn những hạn chế, khó khăn, bất cập quy định của pháp luật về kê biên quyền
sử dụng đất trong hoạt động thi hành án dân sự. Từ đó, để có giải pháp, kiến nghị
nhằm hoàn thiện pháp luật về kê biên quyền sử dụng đất trong hoạt động thi hành án
dân sự phù hợp giai đoạn cải cách Tư pháp hiện nay.
2.2. Mục tiêu cụ thể

Từ mục đích nêu trên, nhiệm vụ của Luận văn là:
+ Nghiên cứu một số vấn đề lý luận, về kê biên quyền sử dụng đất trong hoạt
động thi hành án dân sự qua thực tiễn áp dụng trên địa bàn tỉnh Bến Tre.
+ Nghiên cứu các quy định của pháp luật về kê biên quyền sử dụng đất trong
hoạt động thi hành án dân sự để chỉ ra những bất cập, hạn chế của pháp luật hiện nay
quy định về kê biên quyền sử dụng đất trong hoạt động thi hành án dân sự thời gian
qua.

2


+ Từ cơ sở thực tiễn để đưa ra những giải pháp, kiến nghị nhằm hoàn thiện
pháp luật quy định về kê biên quyền sử dụng đất trong hoạt động thi hành án dân sự
phù hợp với cải cách Tư pháp hiện nay.
3. Tổng quan các nghiên cứu có liên quan đến đề tài
Đến nay, đề tài “Kê biên quyền sử dụng đất trong hoạt động thi hành án
dân sự qua thực tiễn áp dụng trên địa bàn tỉnh Bến Tre” luôn được nhiều nhà
nghiên cứu quan tâm. Tuy nhiên, mức độ nghiên cứu ở nhiều góc độ khác nhau, chưa
toàn diện, đặc biệt là khi Luật Thi hành án dân sự năm 2008 được sửa đổi, bổ sung
năm 2014, ra đời và có hiệu lực, pháp luật kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2015; Các Nghị
định hướng dẫn thi hành và các văn bản pháp luật khác có liên quan. Những công trình
đó có thể liệt kê sau:
- Nguyễn Văn Tiến (2015), Kê biên quyền sử dụng đất trong thi hành án dân sự
qua thực tiễn thực hiện trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên, Luận văn Thạc sĩ Luật học,
Trường đại học Quốc gia Hà Nội. Luận văn tác giả Nguyễn Văn Tiến tập trung phân
tích trình tự, thủ tục kê biên quyền sử dụng đất như; xác minh điều kiện thi hành án;
thẩm định giá quyền sử dụng đất; bán đấu giá tài sản quyền sử dụng đất; giao quyền sử
dụng đất cho người mua trúng đấu giá; thanh toán tiền bán đấu giá quyền sử dụng đất
và hoàn thiện thủ tục về kê biên quyền sử dụng đất. Bên cạnh đó, tác giả liệt kê quá
trình áp dụng trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên còn những bất cập, vướng mắc như; việc

phối hợp của các cơ quan tổ chức, cá nhân chưa nghiêm túc, thiếu trách nhiệm; trình
trạng văn bản pháp luật về thi hành án khi áp dụng còn nhiều bất cập gây cản trở cho
việc kê biên; ý thức pháp luật của người dân hạn chế; đội ngũ Chấp hành viên chưa
đáp ứng được công việc trong thời kỳ đổi mới. Từ những khó khăn, vướng mắc, tác
giả cũng đưa ra kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật. Tuy nhiên, những kiến nghị tác
giả thời điểm Luật Thi hành án dân sự năm 2008 được sửa đổi, bổ sung năm 2014 mới
có hiệu lực, pháp luật thi hành nên giá trị ứng dụng vào thời điểm hiện nay là chưa phù
hợp trên thực tế.
- Lê Quang Tuấn (2016), Kê biên quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất
theo pháp luật thi hành án dân sự từ thực tiễn huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội,
Luận văn Thạc sĩ Luật học, Học viện Khoa học xã hội. Luận văn tác giả Lê Quang
Tuấn tập trung nghiên cứu khái niệm, đặc điểm, đặc trưng, trình tự, thủ tục, hậu quả
pháp lý của việc kê biên quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất, thực tiễn áp dụng.
3


Tác giả cũng đưa ra các kiến nghị, định hướng hoàn thiện pháp luật cụ thể: hoàn thiện
về quy định yêu cầu tòa án xác định, phân chia, quyền sở hữu, sử dụng tài sản; hoàn
thiện quy định thành lập hội đồng kê biên tài sản là quyền sử dụng đất và tài sản gắn
liền với đất; hoàn thiện về thứ tự kê biên tài sản; kê biên tài sản của người phải thi
hành án có tranh chấp với người khác; áp dụng chế tài đối với người phải thi hành án;
hoàn thiện về thời gian tự nguyện thi hành án. Tuy nhiên, trong Luận văn này tác giả
chỉ giới hạn phạm vi nghiên cứu tại huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội, nên các
kiến nghị của tác giả chưa mang tính pháp lý cao.
- Nguyễn Thị Thu Hà (2017), Kê biên tài sản là quyền sử dụng đất trong thi
hành án dân sự từ thực tiễn tỉnh Quảng Ngãi, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Học viện
Khoa học xã hội. Luận văn tác giả Nguyễn Thị Thu Hà phân tích cơ sở lý luận về kê
biên quyền sử dụng đất trong thi hành án dân sự và vận dụng vào thực tiễn tại tỉnh
Quảng Ngãi, đánh giá thực trạng kê biên tài sản là quyền sử dụng đất trong thi hành án
dân sự. Từ những bất cập, hạn chế để có giải pháp thích hợp nhằm nâng cao hiệu quả

kê biên tài sản là quyền sử dụng đất trong thi hành án dân sự tại tỉnh Quảng Ngãi. Tuy
nhiên, các kiến nghị, giải pháp tác giả đưa ra chưa cụ thể, còn chung chung ít mang
tính pháp lý khi áp dụng.
- Vũ Thị Phương Tú (2017), Kê biên quyền sử dụng đất trong thi hành án dân
sự theo pháp luật Việt Nam hiện nay, từ thực tiễn quận Đống Đa, Hà Nội, Luận văn
Thạc sĩ Luật học, thuộc học viện Khoa học xã hội. Luận văn này tác giả Vũ Thị
Phương Tú, tập trung phân tích trình tự thủ tục, để tiến hành kê biên quyền sử dụng đất
như; xác minh điều kiện thi hành án; ra quyết định cưỡng chế; xây dựng kế hoạch
cưỡng chế; tổ chức cưỡng chế kê biên; thẩm định giá; bán đấu giá tài sản; giao tài sản
cho người mua trúng đấu giá. Qua thực tiễn áp dụng còn những tồn tại, khó khăn
vướng mắc; công tác quản lý thi hành án dân sự chưa tốt; sự phối hợp giữa các ban
ngành đoàn thể còn nhiều vướng mắc. Qua đó, tác giả kiến nghị; Luật Thi hành án dân
sự cần xây dựng một trình tự thủ tục áp dụng biện pháp kê biên quyền sử dụng đất một
cách chi tiết; Đối với biện pháp kê biên một phần quyền sử dụng đất có diện tích đất
nhỏ trong tổng diện tích đất của người phải thi hành án. Tuy nhiên, Luận văn tác giả
chỉ giới hạn phạm vi nghiên cứu tại quận Đống Đa, Hà Nội, các kiến nghị của tác giả
chung chung, chưa cụ thể nên ít mang tính pháp lý khi áp dụng.

4


Ngoài những Luận văn chuyên ngành công bố trên thì nội dung căn cứ kê biên
quyền sử dụng đất trong hoạt động thi hành án dân sự còn được nhiều tác giả đề cập
đến những bài viết được công bố trên tạp chí khoa học cụ thể:
- Lê Anh Tuấn (2015), “Những điểm mới về cưỡng chế thi hành án dân sự”,
Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, số 5/2015.
- Nguyễn Thanh Vũ (2017), “Công tác bán đấu giá tài sản ở Đắk Lắk”, Tạp chí
Dân chủ và Pháp luật, số 4/2017.
- Lê Anh (2017), “Những quan điểm khác nhau về xử lý khoản tiền bán đấu giá
thành khi bản án, quyết định của tòa án bị hủy”, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, số

4/2017.
- Trần Thị Lan Hương (2018),“Áp dụng biện pháp bảo đảm thi hành án dân
sự”, Tài liệu tập huấn Nghiệp vụ thi hành án dân sự năm 2018 của Bộ Tư pháp.
- Lê Huy Hùng (2018),“Kỹ năng thực hiện việc giao bảo quản tài sản kê biên,
thu giữ để thi hành án”, Tài liệu tập huấn Nghiệp vụ thi hành án dân sự năm 2018 của
Bộ Tư pháp.
- Nguyễn Như Sơn (2018), “Định giá, định giá lại tài sản thi hành án, vấn đề
cần lưu ý”, tài liệu tập huấn Nghiệp vụ thi hành án dân sự năm 2018 của Bộ Tư pháp.
- Vương Toàn Thắng & Phạm Thị Hương Mai (2018), “Thực trạng cơ chế phối
hợp liên ngành trong thực hiện chức năng, nhiệm vụ của Bộ Tư pháp”, Tạp chí Dân
chủ và Pháp luật, số 4/2017.
- Hoàng Thị Thanh Hoa (2019), “Đơn giản hóa một số thủ tục hành chính trong
thi hành án dân sự”, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, số 16/2019.
- Nguyễn Huế Anh (2019), “Tăng cường quản lý hoạt động đấu giá quyền sử
dụng đất trên địa bàn tỉnh Nghệ An”, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, số 25/2019.
- Hoàng Việt Trung (2019), “Thực tiễn thi hành các quy định của Luật Đất đai
năm 2013 về thu tiền sử dụng đất, tiền cho thuê đất”, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, số
15/2019.
- Nguyễn Huy Cường (2019), “Bất cập trong quy định hộ gia đình sử dụng đất
của Luật Đất Đai năm 2013”, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, số 02/2019.
- Phạm Văn Lưỡng (2019),“Pháp luật về xử lý tài sản thế chấp là quyền sử
dụng đất của hộ gia đình tại các tổ chức tín dụng Ngân hàng ở nước ta hiện nay”, Tạp
chí Dân chủ và Pháp luật, số 39/2019.
5


Những công trình nghiên cứu khoa học trên ở nhiều góc độ, khía cạnh khác
nhau về lĩnh vực thi hành án nói chung và kê biên quyền sử dụng đất trong hoạt động
thi hành án nói riêng. Vì vậy, tác giả kế thừa các công trình nghiên cứu khoa học để
tiếp tục nghiên cứu đề tài “Kê biên quyền sử dụng đất trong hoạt động thi hành án

dân sự qua thực tiễn áp dụng trên địa bàn tỉnh Bến Tre” là rất cần thiết nhằm đánh
giá thực trạng và đưa ra những kiến nghị, giải pháp để hoàn thiện quy định pháp luật
về áp dụng kê biên quyền sử dụng đất trong hoạt động thi hành án dân sự, nhằm phù
hợp với cải cách Tư pháp hiện nay. Công trình nghiên cứu của tôi không trùng lắp với
các công trình khoa học nghiên cứu đã công bố nào khác.
4. Phương pháp nghiên cứu
Đề tài đã sử dụng một số phương pháp nghiên cứu sau:
- Luận văn được nghiên cứu dựa trên cơ sở vận dụng phương pháp luận chủ
nghĩa Mác-Lê Nin, quan điểm duy vật biện chứng lịch sử, tư tưởng Hồ Chí Minh về
Nhà nước và pháp luật Việt Nam hiện nay về áp dụng kê biên quyền sử dụng đất trong
hoạt động thi hành án dân sự.
- Phương pháp lịch sử: để nghiên cứu, tìm hiểu sự hình thành và phát triển thi
hành án dân sự qua các thời kỳ lịch sử Việt Nam.
- Phương pháp phân tích – tổng hợp: tác giả sử dụng thường xuyên để làm sáng
tỏa những vấn đề lý luận và thực tiễn áp dụng trong Luận văn.
- Phương pháp so sánh, thống kê: tác giả sử dụng để cung cấp các số liệu, đối
chiếu, so sánh, thực trạng kê biên quyền sử dụng đất trong hoạt động thi hành án dân
sự qua thực tiễn áp dụng trên địa bàn tỉnh Bến Tre. Từ đó, nhằm tìm ra giải pháp, kiến
nghị để hoàn thiện pháp luật và phù hợp cải cách Tư pháp hiện nay.
5. Phạm vi giới hạn đề tài
Luận văn tác giả tập trung nghiên cứu một số vấn đề lý luận cơ bản kê biên
quyền sử dụng đất cụ thể: khái niệm, đặc điểm, các quy định của Luật Thi hành án dân
sự; các Nghị định hướng dẫn thi hành và các văn bản pháp luật khác có liên quan về kê
biên quyền sử dụng đất qua thực tiễn áp dụng trên địa bàn tỉnh Bến Tre, trong những
năm gần đây. Từ đó, để có cơ sở đánh giá những hạn chế, bất cập cũng như đề xuất,
kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật kê biên quyền sử dụng đất trong hoạt động thi
hành án dân sự nhằm phù hợp cải cách Tư pháp hiện nay.

6



6. Đối tượng nghiên cứu
Luận văn tác giả tập trung nghiên cứu biện pháp kê biên quyền sử dụng đất
trong hoạt động thi hành án dân sự qua thực tiễn áp dụng trên địa bàn tỉnh Bến Tre
theo quy định pháp luật hiện nay.
7. Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục và danh mục tài liệu tham khảo, đề tài
này gồm hai chương:
Chương 1: Tổng quan về kê biên quyền sử dụng đất trong hoạt động thi hành
án dân sự.
Chương 2: Thực tiễn áp dụng kê biên quyền sử dụng đất trên địa bàn tỉnh Bến
Tre và kiến nghị hoàn thiện pháp luật.

7


PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN VỀ KÊ BIÊN QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT TRONG
HOẠT ĐỘNG THI HÀNH ÁN DÂN SỰ
1.1. KHÁI NIỆM KÊ BIÊN VÀ KÊ BIÊN QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT TRONG
HOẠT ĐỘNG THI HÀNH ÁN DÂN SỰ
1.1.1. Khái niệm kê biên
1.1.2. Khái niệm kê biên quyền sử dụng đất
1.1.3. Đặc điểm, phân loại, ý nghĩa việc kê biên quyền sử dụng đất trong hoạt động thi
hành án dân sự
1.1.4. Căn cứ kê biên quyền sử dụng đất trong hoạt động thi hành án dân sự
1.1.5. Nguyên tắc kê biên quyền sử dụng đất trong hoạt động thi hành án dân sự
1.2. QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ KÊ BIÊN QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT TRONG
THI HÀNH ÁN DÂN SỰ QUA CÁC THỜI KỲ
1.2.1. Giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1993

1.2.2. Giai đoạn từ năm 1993 đến năm 2004
1.2.3. Giai đoạn từ năm 2004 đến năm 2014
1.2.4. Giai đoạn từ năm 2014 đến nay
1.3. QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH VỀ KÊ BIÊN QUYỀN SỬ
DỤNG ĐẤT TRONG HOẠT ĐỘNG THI HÀNH ÁN DÂN SỰ
1.3.1. Trình tự thủ tục kê biên quyền sử dụng trong hoạt động thi hành án dân sự
1.3.1.1 Lập hồ sơ thi hành án
1.3.1.2. Xác minh điều kiện thi hành án
1.3.1.3. Ra quyết định kê biên quyền sử dụng đất trong hoạt động thi hành án dân sự
1.3.1.4. Thông báo quyết định kê biên quyền sử dụng đất trong hoạt động thi hành án
dân sự
1,3.1.5. Lập kế hoạch kê biên quyền sử dụng đất trong hoạt động thi hành án dân sự
1.3.1.6. Tổ chức kê biên quyền sử dụng đất trong hoạt động thi hành án dân sự
1.3.1.7. Thỏa thuận giá tài sản quyền sử dụng đất kê biên
1.3.1.8. Thẩm định giá tài sản quyền sử dụng đất kê biên
1.3.1.9. Thông báo quyền yêu cầu thẩm định giá lại tài sản
1.3.2. Trình tự thủ tục bán đấu giá tài sản kê biên quyền sử dụng đất
1.3.2.1. Quyết định giảm giá tài sản kê biên bán đấu giá
8


1.3.2.2. Đề nghị bán đấu giá tài sản kê biên quyền sử dụng đất
1.3.2.3. Hợp đồng bán đấu giá tài sản kê biên quyền sử dụng đất
1.3.2.4. Bán đấu giá tài sản kê biên quyền sử dụng đất trong hoạt động thi hành án
dân sự
1.3.2.5. Giao tài sản quyền sử dụng đất kê biên cho người mua trúng đấu giá trong
hoạt động thi hành án dân sự
1.3.3. Các khoản chi phí kê biên quyền sử dụng đất trong hoạt động thi hành án dân sự
1.3.3.1. Thanh toán các khoản tiền ưu tiên trong hoạt động thi hành án dân sự
1.3.3.2. Thanh toán những khoản nộp ngân sách Nhà nước trong hoạt động thi hành

án dân sự
1.3.3.3. Thanh toán các khoản tiền còn lại trong hoạt động thi hành án dân sự
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
CHƯƠNG 2. THỰC TIỄN ÁP DỤNG KÊ BIÊN QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT TRÊN
ĐỊA BÀN TỈNH BẾN TRE VÀ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT
2.1. THỰC TIỄN ÁP DỤNG KÊ BIÊN QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT TRÊN ĐỊA
BÀN TỈNH BẾN TRE
2.1.1. Tình hình áp dụng kê biên quyền sử dụng đất trong hoạt động thi hành án dân sự
trên địa bàn tỉnh Bến Tre
2.1.2. Những yếu tố ảnh hưởng đến kê biên quyền sử dụng đất trong hoạt động thi
hành án dân sự trên địa bàn tỉnh Bến Tre
2.1.3. Kết quả áp dụng biện pháp kê biên quyền sử dụng đất trong hoạt động thi hành
án dân sự trên địa bàn tỉnh Bến Tre
2.2. CÁC KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ KÊ BIÊN QUYỀN SỬ
DỤNG ĐẤT TRONG THI HÀNH ÁN DÂN SỰ
2.2.1. Những bất cập áp dụng, trong quy định pháp luật việc giảm giá tài sản quyền sử
dụng đất để bán đấu giá trong hoạt động thi hành án dân sự và những kiến nghị hoàn
thiện pháp luật
2.2.2. Những bất cập áp dụng, trong quy định pháp luật việc kê biên quyền sử dụng đất
chung của hộ gia đình trong hoạt động thi hành án dân sự và những kiến nghị hoàn
thiện pháp luật

9


2.2.3. Những bất cập áp dụng, trong quy định pháp luật về xác minh, ủy quyền xác
minh quyền sử dụng đất trong hoạt động thi hành án dân sự và những kiến nghị hoàn
thiện pháp luật
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2
KẾT LUẬN CHUNG


10


8. Tài liệu tham khảo
A. Các văn bản quy phạm pháp luật
[1]. Hiến pháp nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1946, 1959, 1980, 1992
và 2013.
[2]. Bộ luật Dân sự năm 2015 (Luật số 91/2015/QH) ngày 24/11/2015.
[3]. Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 (Luật số 92/2015/QH13) ngày 25/11/2015.
[4]. Bộ luật Hình sự 2015 (Luật số 100/2015/QH13) ngày 27/11/2015.
[5]. Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 (Luật số 101/2015/QH13) ngày 27/11/2015.
[6]. Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (Luật số 26/2008/QH12) ngày 14/11/2008.
[7]. Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014 (Luật số
64/2014/QH13), ngày 25/11/2014.
[8]. Luật Phá sản năm 2014 (Luật số 51/2014/QH13) ngày 19/6/2014.
[9]. Luật Đất đai năm 2013 (Luật số 45/2013/QH13) ngày 29/11/2013.
[10]. Luật Đấu giá tài sản năm 2016 (Luật số 01/2016/QH14) ngày 17/11/2016.
[11]. Luật Nhà ở năm 2014 (Luật số 65/2014/QH13) ngày 25/11/2014.
[12]. Luật Hôn nhân và gia đình 2014 (Luật số 52/2014/QH13) ngày 19/6/2014.
[13]. Nghị định số 62/2015/NĐ-CP ngày 18/7/2015 quy định chi tiết và hướng dẫn thi
hành một số điều của Luật Thi hành án dân sự.
[14]. Nghị định số 17/2010/NĐ-CP ngày 04 tháng 3 năm 2010 quy định bán đấu giá
tài sản.
[15]. Nghị quyết số 49/2005/NQ/TW ngày 02 tháng 06 năm 2006 về chiến lược cải
cách Tư pháp đến năm 2020.
[16]. Nghị quyết 42/2017/QH14 của Quốc hội về thí điểm xử lý nợ xấu của các tổ
chức tín dụng.
[17]. Thông tư 200/2016/TT-BTC ngày 09 tháng 11 năm 2016 của Bộ Tài chính quy
định việc lập, quản lý, sử dụng và quyết toán kinh phí bảo đảm hoạt động của cơ

quan thi hành án dân sự, kinh phí cưỡng chế thi hành án dân sự.
[18]. Thông tư liên tịch số 11/2016/TTLT-BTP-TANDTC-VKSNDTC ngày 01 tháng
8 năm 2016 quy định một số vấn đề về thủ tục thi hành án dân sự và phối hợp liên
ngành trong thi hành án dân sự.
[19]. Thông tư liên tịch số 03/2012/TTLT-BTP-BCA ngày 30 tháng 3 năm 2012 quy
định cụ thể phối hợp bảo vệ cưỡng chế trong thi hành án dân sự.
11


[20]. Thông tư số 216/2016/TT-BTC ngày 10/11/2016 của Bộ Tài chính quy định mức
thu, chế độ thu, nộp, quản lý và sử dụng phí thi hành án dân sự.
[21]. Thông tư số 02/2016/TT-BTP ngày 01/02/2016 của Bộ Tư pháp quy định quy
trình giải quyết đơn khiếu nại, tố cáo, đề nghị, kiến nghị, phản ánh trong thi hành án
dân sự.
[22]. Chỉ thị số 05/CT-TTg ngày 06 tháng 02 năm 2017 của Thủ tướng chính phủ về
tăng cường thi hành án dân sự.
B. Danh mục tài liệu tiếng Việt
[22]. Viện ngôn ngữ học năm (1994), Từ điển tiếng Việt, Nxb Giáo dục, Hà Nội.
[23]. Viện ngôn ngữ học (2012), Từ điển tiếng Việt, Nxb Từ điển bách khoa, Hà Nội.
[24]. Nguyễn Văn Tiến (2015), Kê biên quyền sử dụng đất trong thi hành án dân sự
qua thực tiễn thực hiện trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên, Luận văn thạc sĩ Luật học,
Đại học Quốc gia Hà Nội.
[26]. Lê Anh Tuấn (2015),“Những điểm mới về cưỡng chế thi hành án dân sự”, Tạp
chí Dân chủ và Pháp luật, số 5/2015.
[27]. Lê Quang Tuấn (2016), Kê biên quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất theo
pháp luật thi hành án dân sự từ thực tiễn huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội,
Luận văn thạc sĩ Luật học, Học viện Khoa học xã hội.
[28]. Tổng cục Thi hành án dân sự, tài liệu tập huấn Nghiệp vụ thi hành án dân sự năm
2016 tại Nghệ An.
[28]. Tổng cục Thi hành án dân sự, tài liệu tập huấn Nghiệp vụ thi hành án dân sự năm

2017 tại Đắk Lắk.
[29]. Vũ Thị Phương Tú (2017), Kê biên quyền sử dụng đất trong thi hành án dân sự
theo pháp luật Việt Nam hiện nay từ thực tiễn quận Đống Đa, thành phố Hà Nội,
Luận văn thạc sĩ Luật học, Học viện Khoa học xã hội.
[30]. Nguyễn Thị Thu Hà (2017), Kê biên tài sản là quyền sử dụng đất trong thi hành
án dân sự từ thực tiễn tỉnh Quãng Ngãi, Luận văn thạc sĩ Luật học, Học viện Khoa
học xã hội.
[31]. Nguyễn Thanh Vũ (2017), “Công tác bán đấu giá tài sản ở Đắk Lắk”, Tạp chí
Dân chủ và Pháp luật, số 4/2017.

12


[32]. Lê Anh (2017), “Những quan điểm khác nhau về xử lý khoản tiền bán đấu giá
thành khi bản án, quyết định của tòa án bị hủy”, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, số
4/2017.
[33]. Vương Toàn Thắng & Phạm Thị Hương Mai (2018), “Thực trạng cơ chế phối
hợp liên ngành trong thực hiện chức năng, nhiệm vụ của Bộ Tư pháp”, Tạp chí Dân
chủ và Pháp luật, số 4/2017.
[34]. Trần Thị Lan Hương (2018), “Áp dụng biện pháp bảo đảm thi hành án dân sự”,
tài liệu tập huấn Nghiệp vụ thi hành án dân sự năm 2018 của Bộ Tư pháp.
[35]. Nguyễn Như Sơn (2018), “Định giá, định giá lại tài sản thi hành án, vấn đề cần
lưu ý”, tài liệu tập huấn Nghiệp vụ thi hành án dân sự năm 2018 của Bộ Tư pháp.
[36]. Tổng cục Thi hành án dân sự, tài liệu tập huấn Nghiệp vụ thi hành án dân sự năm
2018 tại Cần Thơ.
[38]. Nguyễn Huế Anh (2019), “Tăng cường quản lý hoạt động đấu giá quyền sử dụng
đất trên địa bàn tỉnh Nghệ An”, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, số 25/2019.
[39]. Hoàng Thị Thanh Hoa (2019), “Đơn giản hóa một số thủ tục hành chính trong thi
hành án dân sự”, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, số 16/2019.
[40]. Lê Huy Hùng (2019), “Kỹ năng thực hiện việc giao bảo quản tài sản kê biên, thu

giữ để thi hành án”, tài liệu tập huấn Nghiệp vụ thi hành án dân sự năm 2018 của
Bộ Tư pháp.
[41]. Phạm Văn Lưỡng (2019), “Pháp luật về xử lý tài sản thế chấp là quyền sử dụng
đất của hộ gia đình tại các tổ chức tín dụng Ngân hàng ở nước ta hiện nay”, Tạp chí
Dân chủ và Pháp luật, số 39/2019.
[42]. Hoàng Việt Trung (2019), “Thực tiễn thi hành các quy định của Luật Đất đai
năm 2013 về thu tiền sử dụng đất, tiền cho thuê đất”, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật,
số 15/2019.
[43]. Nguyễn Huy Cường (2019) “Bất cập trong quy định hộ gia đình sử dụng đất của
Luật Đất Đai năm 2013”, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, số 02/2019.
C. Tài liệu điện tử
[44]. Nguyễn Minh Hằng, Cao Đức Phong (2014), Kê biên, bán đấu giá quyền sử
dụng đất để thi hành án thực tiễn và vấn đề trao đổi, http://noichinh.vn/nghien-cuutrao-doi/201405/ke-bien-ban-dau-gia-quyen-su-dung-dat-de-thi-hanh-an-thuc-tienva-van-de-trao-doi-294527/, ngày truy cập 10/3/2019.
13


[45]. Tri Phương (2016), Một số khó khăn, vướng mắc khi kê biên quyền tài sản là
quyền sử dụng đất để thi hành án, http://www.luatbinhtan.com/mot-so-kho-khanvuong-mac-khi-ke-bien-quyen-tai-san-la-quyen-su-dung-dat-de-thi-hanh-an.html,
ngày truy cập 15/3/2019.

14


PHẦN KẾT LUẬN
Thi hành án dân sự có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với quá trình giải quyết
các vụ việc án của tòa án, củng cố kết quả công tác xét xử, đảm bảo tính hiệu lực, pháp
luật bản án, quyết định về phần dân sự trong bản án, quyết định của tòa án, bảo vệ lợi
ích của Nhà nước, của tập thể và lợi ích hợp pháp của công dân, củng cố pháp chế xã
hội chủ nghĩa. Tuy nhiên, trên thực tế người dân không mấy ai quan tâm đến ngành thi
hành án dân sự, xem công tác thi hành án dân sự như một nghề đòi nợ thuê. Chính vì

những nhận thức đó nên đương sự cản trở, chống đối quyết liệt, chay lỳ không tự
nguyện thi hành án, gây nhiều khó khăn cho cơ quan thi hành án dân sự nói chung và
Chấp hành viên nói riêng khi thực hiện nhiệm vụ. Do vậy, Chấp hành viên cần áp
dụng biện pháp kê biên quyền sử dụng đất trong hoạt động thi hành án dân sự là giải
pháp hiệu quả nhất, mang tính răn đe pháp luật, thể hiện quyền lực của Nhà nước,
nhằm định đoạt tài sản của người phải thi hành án để đảm bảo các nghĩa vụ thi hành án
bằng tiền, được xác định trong bản án, quyết định của tòa án đã có hiệu lực, pháp luật.
Luật Thi hành án dân sự năm 2008 được sửa đổi, bổ sung năm 2014; các Nghị
định hướng dẫn thi hành và các văn bản pháp luật khác quy định về kê biên quyền sử
dụng đất trong hoạt động thi hành án dân sự đã quy định một cách chi tiết, rõ ràng, cụ
thể, nhằm khắc phục được những bất cập, hạn chế so với Luật Thi hành án dân sự năm
2008. Với những quy định trên trong những năm qua Bến Tre luôn đạt và vượt chỉ tiêu
do Quốc hội giao.
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đã đạt được, qua nghiên cứu Luật Thi hành
án dân sự năm 2014 và thực tiễn áp dụng kê biên quyền sử dụng đất trên địa bàn tỉnh
Bến Tre, tác giả nhận thấy còn những hạn chế, bất cập dẫn đến nhiều cách hiểu và áp
dụng khác nhau chưa thống nhất. Trong luận văn tác giả cũng phân tích, đánh giá, tìm
hiểu qua thực tiễn áp dụng kê biên quyền sử dụng đất trên địa bàn tỉnh Bến Tre, chỉ ra
những hạn chế, bất cập quy định kê biên quyền sử dụng đất, đồng thời tác giả đề xuất,
kiến nghị giải pháp để hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự về kê biên quyền sử
dụng đất trong thời gian tới.
Dưới gốc độ của một luận văn thạc sĩ, tác giả không kỳ vọng luận văn của mình
có thể bao quát hết những khía cạnh tồn tại, hạn chế, bất cập của đề tài kê biên quyền
sử dụng đất trong hoạt động thi hành án. Nhưng tác giả cũng kỳ vọng luận văn của
mình có thể đóng góp được phần nào cho việc nghiên cứu các quy định của pháp luật
15


về kê biên quyền sử dụng đất, theo Luật Thi hành án dân sự năm 2008 được sửa đổi,
bổ sung năm 2014. Quá trình nghiên cứu luận văn tác giả không tránh khỏi những hạn

chế, thiết xót rất mong được quý thầy, cô góp ý để luận văn được hoàn thiện hơn trong
thời gian tới, chân thành cảm ơn.

16



×