Tải bản đầy đủ

Tiểu luận tình huống: Xử lý doanh nghiệp tư nhân Cường Thịnh vi phạm sử dụng hóa đơn bất hợp pháp trong hồ sơ thuế tại phường An Thạnh, thị xã Hòng Ngự, Đồng Tháp

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NỘI VỤ HÀ NỘI
PHÂN HIỆU TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CHƯƠNG TRÌNH BỒI DƯỠNG NGẠCH CHUYÊN VIÊN
TIỂU LUẬN TÌNH HUỐNG
XỬ LÝ DOANH NGHIỆP TƯ NHÂN CƯỜNG THỊNH VI PHẠM
SỬ DỤNG HÓA ĐƠN BẤT HỢP PHÁP TRONG HỒ SƠ THUẾ
TẠI PHƯỜNG AN THẠNH, THỊ XÃ HÒNG NGỰ, ĐỒNG THÁP

Giáo viên hướng dẫn: TS. Trần Văn Trung
Học viên thực hiện: Nguyễn Đại Sứ
Đơn vị công tác: Ban Quản lý Công trình Công cộng thị xã Hồng Ngự

Đồng Tháp, tháng 06 năm 2019


TRƯỜNG ĐẠI HỌC NỘI VỤ HÀ NỘI
PHÂN HIỆU TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CHƯƠNG TRÌNH BỒI DƯỠNG NGẠCH CHUYÊN VIÊN
TIỂU LUẬN TÌNH HUỐNG

XỬ LÝ DOANH NGHIỆP TƯ NHÂN CƯỜNG THỊNH VI PHẠM
SỬ DỤNG HÓA ĐƠN BẤT HỢP PHÁP TRONG HỒ SƠ THUẾ
TẠI PHƯỜNG AN THẠNH, THỊ XÃ HÒNG NGỰ, ĐỒNG THÁP

Giáo viên hướng dẫn: TS. Trần Văn Trung
Học viên thực hiện: Nguyễn Đại Sứ
Đơn vị công tác: Ban Quản lý Công trình Công cộng thị xã Hồng Ngự

Đồng Tháp, tháng 06 năm 2019


MỤC LỤC
Trang

MỞ ĐẦU...............................................................................................................3
NỘI DUNG...........................................................................................................6
1. MÔ TẢ TÌNH HUỐNG...................................................................................6
2. PHÂN TÍCH NGUYÊN NHÂN VÀ HẬU QUẢ CỦA TÌNH HUỐNG.......8
2.1. NGUYÊN NHÂN..........................................................................................8
2.2. HẬU QUẢ TÌNH HUỐNG........................................................................10
3. MỤC TIÊU XỬ LÝ TÌNH HUỐNG............................................................11
4. CÁC PHƯƠNG ÁN XỬ LÝ TÌNH HUỐNG..............................................11
4.1. XÂY DỰNG PHƯƠNG ÁN.......................................................................11
4.1.1. PHƯƠNG ÁN 1........................................................................................11
4.1.2. PHƯƠNG ÁN 2........................................................................................12
4.1.3. PHƯƠNG ÁN 3........................................................................................13
4.2. LỰA CHỌN PHƯƠNG ÁN TỐI ƯU.......................................................13
5. PHƯƠNG THỨC THỰC HIỆN PHƯƠNG ÁN.........................................14
6. BÀI HỌC KINH NGHIỆM..........................................................................15
7. NHỮNG KIẾN NGHỊ...................................................................................16
KẾT LUẬN.........................................................................................................19
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO..........................................................21


MỞ ĐẦU
Ngày nay, trong sự nghiệp đổi mới, cơ chế tập trung quan liêu bao cấp
không còn phù hợp. Cơ chế quản lý mới đòi hỏi phải có những chuyển biến về
nhận thức, quan điểm. Nhà nước đã sử dụng thuế làm công cụ để điều tiết nền
kinh tế vĩ mô nhằm đảm bảo hoạt động của các chương trình mục tiêu của Nhà
nước, góp phần đảm bảo cho việc cân đối thu chi ngân sách Nhà nước, dành vốn


cho đầu tư, thúc đẩy phát triển và tăng trưởng kinh tế, tăng cường củng cố quốc
phòng, đảm bảo giữ vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội ...
Nước ta chuyển đổi từ một nền kinh tế kế hoạch tập trung quan liêu bao
cấp sang nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường
có sự quản lý của Nhà nước. Trong nhiều công cụ kinh tế được Nhà nước dùng
để quản lý vĩ mô thì Thuế là một công cụ có tầm quan trọng đặc biệt, vai trò của
thuế ngày càng được nâng cao và phát huy tác dụng.
Thuế ra đời nhằm quản lý, điều tiết sản xuất kinh doanh, phân phối và
phân phối lại tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân nên chính sách thuế
đảm bảo bình đẳng, công bằng, hợp lý. Thông qua Thuế, Nhà nước xây dựng
chính sách thuế phù hợp giữa các đối tượng nộp thuế, đối tượng tính thuế, thuế
suất, chế độ miễn giảm, phương pháp thu thuế nhằm góp phần khuyến khích,
phát triển những hoạt động sản xuất kinh doanh cần thiết đảm bảo có hiệu quả,
hướng dẫn sản xuất, tiêu dùng đúng hướng hợp lý.
Do đó, trong quản lý Nhà nước về kinh tế nói chung và quản lý nhà nước
về Thuế nói riêng là nhiệm vụ trọng tâm cơ bản để định hướng phát triển kinh
tế, xã hội đúng đắn và khẳng định Thuế là nguồn thu chủ yếu của ngân sách nhà
nước, chính vì thế quan điểm của Đảng ta là tiếp tục đổi mới, kiện toàn và cải
cách hệ thống chính sách thuế theo hướng đơn giản hóa, dễ làm, dễ kiểm tra;
bên cạnh đó chủ trương của Đảng ta là nuôi dưỡng và phát triển nguồn thu, nâng
cao tính chủ động và tự chịu trách nhiệm của tổ chức, cá nhân người nộp thuế.
Thực hiện đường lối đổi mới cơ chế quản lý kinh tế gắn liền với quá trình
đổi mới chính sách kinh tế, thời gian qua chính sách thuế đã được cải cách
hướng tới hoàn thiện, phù hợp với sự phát triển nền kinh tế thị trường, đã có
những bước chuyển biến tích cực và góp phần vào việc hoàn thành tốt nhiệm vụ


công tác Thuế do Nhà nước giao, năm sau cao hơn năm trước. Song để hệ thống
Thuế ngày càng đáp ứng hơn nữa những mục tiêu đường lối đổi mới của Đảng,
Nhà nước trong thời gian tới, cần phải hiện đại hoá công tác quản lý thuế cho
phù hợp với thời kỳ công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước .
Với sự phát triển của nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, vận hành
theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ
nghĩa. Trong điều kiện Việt Nam thực hiện mở cửa hội nhập kinh tế với khu vực
và thế giới, các đối tượng nộp thuế sẽ tăng lên cả về số lượng và loại hình kinh
tế, đặc biệt đối tượng nộp thuế là các doanh nghiệp vừa và nhỏ .
Trong những năm qua trên địa bàn thị xã Hồng Ngự một số công ty,
doanh nghiệp phát triển nhanh cả về số lượng, qui mô, tiền vốn. Đến nay có trên
300 công ty, doanh nghiệp được đăng ký thành lập doanh nghiệp theo Luật
doanh nghiệp. Trong đó, Cục thuế tỉnh Đồng Tháp quản lý 25 công ty, doanh
nghiệp có quy mô lớn, còn lại Chi cục thuế thị xã Hồng Ngự quan lý. Sự phát
triển của các công ty, doanh nghiệp ở thị xã Hồng Ngự đã góp phần không nhỏ
trong việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế của huyện, tạo ra nhiều ngành nghề mới,
sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ phục vụ tốt cho nhu cầu xã hội, tạo ra nhiều công
ăn việc làm cho người lao động, tăng thu cho Ngân sách nhà nước.
Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện công tác quản lý thuế đối với các
công ty, doanh nghiệp vẫn còn nhiều vấn đề cần đặt ra, còn nhiều bất cập. Một
số chính sách thuế thường xuyên sửa đổi, bổ sung làm cho các công ty, doanh
nghiệp chưa thực sự an tâm đầu tư cho sản xuất kinh doanh. Các chính sách về
con người, phương tiện khoa học, kỹ thuật chưa thực sự phù hợp với cơ chế mới
để quản lý vĩ mô nền kinh tế, thúc đẩy sản xuất kinh doanh phát triển.
Mặc khác, lợi nhuận là mục tiêu hàng đầu quyết định sự tồn tại và phát
triển của doanh nghiệp. Ngoài những doanh nghiệp chấp hành tốt việc thực hiện
nghĩa vụ đối với nhà nước, cũng còn không ít những doanh nghiệp lợi dụng kẽ
hở của chính sách Thuế để làm gây thất thu cho Ngân sách Nhà nước.
Tiến tới xây dựng hoàn thiện Nhà nước Pháp quyền, Nhà nước quản lý xã
hội bằng Pháp luật và giải quyết các vấn đề xảy ra trong thực tế bằng Pháp luật.
Do đó trong lĩnh vực Tài chính, vấn đề đặt ra các chế tài để xử phạt đối với các
hành vi gian lận trốn thuế trong lĩnh vực sử dụng hóa đơn là rất cần thiết và đặc


biệt quan trọng.
Để góp phần vào khắc phục những hạn chế nêu trên, nhằm đưa luật quản
lý thuế ngày càng thật sự đi vào cuộc sống, giúp cho tổ chức, cá nhân, người nộp
thuế thực hiện theo cơ chế tự khai, khai đúng, tự nộp theo quy định của Luật
quản lý thuế. Trên cơ sở những kiến thức cơ bản về quản lý Nhà nước mà bản
thân em đã được học trong thời gian tham gia khóa học, bằng những hiểu biết
của mình xin đưa ra và phân tích xử lý tình huống sau “Xử lý Doanh nghiệp tư
nhân Cường Thịnh về hành vi sử dụng hóa đơn bất hợp pháp trong hồ sơ
thuế tại phường An Thạnh, thị xã Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp”.
Qua lớp bồi dưỡng ngạch chuyên viên và những kiến thức đã học được,
trong quá trình giải quyết nội dung tình huống cũng còn thiếu sót. Em rất mong
nhận được nhiều ý kiến đóng góp của Thầy, Cô để tình huống của em được hoàn
thiện hơn và có ý nghĩa thiết thực trong thực tiễn. Em xin chân thành cảm ơn
quý Thầy, Cô đã giảng dạy, tạo mọi điều kiện để em hoàn thành khóa bồi dưỡng.
Em xin chân thành cảm ơn Trường Đại Học Nội vụ Hà Nội, Trường Cao đẳng
Cộng đồng Đồng Tháp đã tạo điều kiện cho em tham gia lớp bồi dưỡng ngạch
chuyên viên.


NỘI DUNG
1.

Mô tả tình huống

Doanh nghiệp tư nhân Cường Thịnh (DNTN Cường Thịnh) được thành
lập theo giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh và đăng ký thuế số 1400235146
do phòng đăng ký kinh doanh thuộc sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Đồng Tháp cấp
ngày 16/10/2012, địa điểm kinh doanh tại phường An Thạnh, thị xã Hồng Ngự,
tỉnh Đồng Tháp; ngành nghề kinh doanh: Mua bán vật liệu xây dựng, do Ông
Phạm Văn Cường làm chủ doanh nghiệp. Doanh nghiệp đi vào hoạt động từ
tháng 12 năm 2012.
Trong thời gian đầu đi vào hoạt động doanh nghiệp Cường Thịnh chấp
hành pháp luật thuế kê khai, nộp thuế tốt, mang lại nguồn thu tương đối khá cho
địa phương; qua hơn một năm đầu hoạt động doanh nghiệp Cường Thịnh đã nộp
ngân sách nhà nước trên 1 tỷ đồng, góp phần cho Chi cục thuế thị xã Hồng Ngự
hoàn thành vượt mức chỉ tiêu do Cục thuế giao.
Kể từ khi Luật số 71/2014/QH13 của Chủ tịch Quốc Hội thông qua ngày
26/11/2014 quy định doanh nghiệp không phải gửi bảng kê hàng hóa, dịch vụ
mua vào, bán ra khi gửi tờ khai thuế giá trị gia tăng thì từ đây doanh nghiệp
Cường Thịnh lợi dụng sự thông thoáng về chính sách khuyến khích của Nhà
nước mà khai khống hoá đơn giá trị gia tăng đầu vào được khấu trừ để trốn thuế
nhằm thu lợi bất chính; doanh thu kê khai hàng tháng tăng giảm khác thường, số
thuế phát sinh phải nộp cũng giảm so với trước.
Chi cục thuế phân công cụ thể từng công chức theo dõi, giám sát tình hình
hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp. Với nghiệp vụ chuyên
môn của mình qua phân tích số liệu kê khai thuế của kỳ thuế tháng 02 năm 2019
của doanh nghiệp Cường Thịnh, nhận thấy có biểu hiện kê khai không trung
thực thông qua việc xử dụng hoá đơn giá trị gia tăng bất hợp pháp, vì thuế giá trị
gia tăng đầu vào và doanh số bán ra tăng đột biến, cán bộ thuế đã tham mưu
Lãnh đạo Chi cục Thuế phát hành thơ mời doanh nghiệp Cường Thịnh đến giải
trình; trong quá trình giải trình, doanh nghiệp Cường Thịnh có cung cấp bảng kê
hàng hóa, dịch vụ mua vào, bán ra, nhận thấy các hóa đơn đầu vào mua của


Công ty TNHH Trần Phong Phú, địa chỉ 126 Ấp Gãy, xã Thuận Bình, H. Thạnh
Hóa, tỉnh Long An có dấu hiệu nghi vấn, nên cán bộ có hỏi doanh nghiệp về
phương thức mua bán như thế nào, có hợp đồng mua bán hay không thì doanh
nghiệp Cường Thịnh trả lời chưa phù hợp và đồng thời tiến hành lập, gửi phiếu
xác minh hoá đơn số 10/ XMHĐ-CCT ngày 10 tháng 3 năm 2018 về việc xác
minh hoá đơn và ngày 20/4/2018 được Chi cục thuế huyện Phụng Hiệp, tỉnh
Hậu Giang trả lời 03 số hoá đơn mà Công ty TNHH Trần Phong Phú xuất cho
doanh nghiệp Cường Thịnh là hoá đơn đã hết giá trị sử dụng, hiện Công ty
TNHH Trần Phong Phú đã bỏ địa chỉ kinh doanh từ ngày 25/01/2019.
Với kết quả như trên ngày 21/4/2019, cán bộ thuế báo cáo Lãnh đạo đội
và tham mưu Lãnh đạo Chi Chi cục thuế thị xã Hồng Ngự ký Quyết định số
08/QĐ-CCT “ Về việc kiểm tra chấp hành pháp luật thuế tại trụ sở Doanh
nghiệp tư nhân Cường Thịnh”.
Trong quá trình kiểm tra, đoàn kiểm tra ghi nhận như sau: (Trích dẫn nội
dung chủ yếu của Biên bản kiểm tra thuế tại Doanh nghiệp).
Về hóa đơn giá trị gia tăng mua vào của kỳ thuế tháng 02/2018 doanh
nghiệp Cường Thịnh kê khai khấu trừ thuế giá trị gia tăng đầu vào có 03 hoá
đơn mua cát của Công ty TNHH Trần Phong Phú, địa chỉ 126 Ấp Gãy, xã Thuận
Bình, H. Thạnh Hóa, tỉnh Long An như sau:
STT

Mẫu số

Kí hiệu

1

01GTKT-3LL

2

01GTKT-3LL

HD/18P
HD/18P

3

01GTKT-3LL

HD/18P

Tổng cộng

Số hóa

Thuế

200.000.000

GTGT
20.000.000

Ngày lập hóa
đơn
05/02/2019

96

300.000.000

30.000.000

06/02/2019

97

450.000.000

45.000.000

07/02/2019

950.000.000

95.000.000

đơn
95

Tiền hàng

Biên bản kiểm tra, đoàn kiểm tra có kết luận:
+ Doanh số mua vào, bán ra của đơn vị tăng đột biến vào tháng 02/2019 so với
tháng 01/2019 (từ 01 tỷ đồng tăng lên 03 tỷ đồng).
+ Thuế giá trị gia tăng đầu vào tháng 02/2019 tăng bất thường so tháng 01/2019
(từ 100.000.000 đồng lên 300.000.000 đồng), nhưng thực tế thuế GTGT phải nộp
không tăng mà còn giảm hơn so tháng trước.
+ Kết quả xác minh 03 hoá đơn giá trị gia tăng nêu trên thì Công ty TNHH Trần


Phong Phú xuất hoá đơn cho doanh nghiệp Cường Thịnh sau ngày Chi cục thuế
huyện Thạnh Hóa, tỉnh Long An xác định là Công ty TNHH Trần Phong Phú đã bỏ
trốn khỏi địa chỉ kinh doanh vào ngày 25 tháng 01 năm 2019 theo thông báo số 02/
TB-CCT của Chi cục Thuế huyện Thạnh Hóa, tỉnh Long An.
2. Phân tích nguyên nhân và hậu quả của tình huống
2.1. Nguyên nhân
Hiện nay, một số công ty, doanh nghiệp đã lợi dụng sự thông thoáng của
Pháp luật thuế; Lợi dụng sự thông thoáng của chính sách thuế hiện hành là tránh
gây phiền hà cho doanh nghiệp trong sản xuất kinh doanh; đồng thời phát huy,
khuyến khích tính tự giác của doanh nghiệp trong việc chấp hành và thực hiện
nghĩa vụ thuế đối với ngân sách nhà nước. Một vài cá nhân đã thành lập doanh
nghiệp để mua bán hoá đơn thu lợi bất chính hoặc tìm cách gian lận để giảm số
thuế phải nộp. Mục đích của doanh nghiệp là vì mục tiêu lợi nhuận, các doanh
nghiệp luôn tìm mọi cách để đạt được lợi nhuận cao nhất không tôn trọng quy
định của pháp luật.
Hoạt động mua, bán hoá đơn trái phép này đã gây rất nhiều khó khăn cho
công tác quản lý thuế của nhà nước. Cơ quan thuế khó có thể quản lý được và
đảm đương được sự mua bán trái phép này một cách kịp thời. Vì nó diễn ra rộng
khắp và diễn biến rất phức tạp, nó không có sự giới hạn về mặt thời gian và
không gian. Đa số các trường hợp phát hiện ra là thông qua phân tích tờ khai
thuế, công tác xác minh hoá đơn giữa cơ quan thuế với nhau. Mặt khác, việc
mua, bán hoá đơn giá trị gia tăng bất hợp pháp đã gây không ít khó khăn cho các
doanh nghiệp kinh doanh lành mạnh, đúng pháp luật quy định, gây bất bình
trong xã hội, trong quần chúng nhân dân về vấn đề mua, bán hoá đơn như hiện
nay đối với doanh nghiệp kinh doanh ngành vật liệu xây dựng.
2.1.1. Nguyên nhân khách quan
Do các quy định về thuế chưa được chặt chẽ còn nhiều kẽ hở cho nên một
số tổ chức, cá nhân đã lợi dụng kẽ hở đó để thực hiện những hành vi sái trái.
Về quản lý, chỉ đạo của Chi cục thuế chưa kiểm tra thường xuyên, liên tục
và tuyên truyền mạnh mẽ tinh thần trách nhiệm, ý thức nộp thuế của tổ chức, cá
nhân.Việc kiểm tra, thanh tra các đơn vị đôi khi còn mang tính hình thức , qua


loa do nể nang nên chưa nắm rõ tình hình thục tế của đơn vị.
Do lĩnh vực kinh tế tham gia hoạt động sản xuất kinh doanh rất lớn, qui
mô kinh doanh đa số nhỏ và trải đều trên khắp địa bàn, trình độ quản lý còn thấp
và ý thức chấp hành pháp luật còn yếu, bên cạnh đó lực lượng làm công tác quản
lý về thuế quá mỏng.
Việc tuyên truyền, phổ biến pháp luật về thuế chưa được tổ chức, thực
hiện một cách có hiệu quả.
Về cơ quan thuế chưa có sự phối hợp chặt chẽ với các cấp, các ngành có
liên quan ở địa phương trong việc quản lý đối tượng kinh doanh đã để doanh
nghiệp lợi dụng kinh doanh không khai báo, bán hàng không xuất hóa đơn.
2.1.2. Nguyên nhân chủ quan
Doanh nghiệp Cường Thịnh không thực tế mua cát mà đi tìm các doanh
nghiệp làm ăn bất chính chuyên thành lập để bán hoá đơn, không có tổ chức
kinh doanh, cụ thể là doanh nghiệp Cường Thịnh đã mua của Công ty TNHH
Trần Phong Phú 03 số hoá đơn để về kê khai khấu trừ thuế giá trị gia tăng đầu
vào, nhằm làm giảm số thuế phải nộp. Vì lợi nhuận mà doanh nghiệp Cường
Thịnh thực hiện hành vi vi phạm của mình, không nghĩ đến hậu quả ảnh hưởng
đến uy tín của doanh nghiệp, tác động xấu đến môi trường kinh doanh trên địa
bàn, về doanh số qua các tháng có sự biến động lớn, nhưng thuế nộp không tăng.
Làm thất thu cho ngân sách nhà nước số tiền thuế 95.000.000 đồng nếu
không được phát hiện và kiểm tra xử lý kịp thời. Nếu không xử phạt vi phạm
hành chính thật nghiêm đối với DNTN Cường Thịnh sẽ làm cho trật tự pháp luật
thuế thiếu nghiêm minh, ảnh hưởng đến môi trường kinh doanh trung thực, đúng
pháp luật của các Doanh nghiệp khác; nếu không ngăn chặn kịp thời thì việc sử
dụng hoá đơn kê khai khống để gian lận trốn thuế lây lan các doanh nghiệp khác
trên địa bàn.
Từ các nguyên nhân trên dẫn đến vi phạm trong việc sử dụng hóa đơn
GTGT của doanh nghiệp Cường Thịnh.
2.2. Hậu quả tình huống
Theo quy định hóa đơn là chứng từ gốc làm cơ sở hạch toán kế toán và


thanh toán các giao dịch giữa các đối tác với nhau trong kinh doanh. Nếu hoá
đơn không hợp pháp thì sẽ không đánh giá đúng tình hình hoạt động sản xuất
kinh doanh của doanh nghiệp và kê khai không đúng nghĩa vụ tài chính với Nhà
nước.
2.2.1. Về chính trị
Doanh nghiệp Cường Thịnh sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính về thuế đối
với hành vi vi phạm pháp luật thuế của mình theo Nghị định số 129/2013/NĐCP ngày 16 tháng 10 năm 2013 của Chính phủ, quy định về xử lý vi phạm pháp
luật về thuế và cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế, cho nên ít nhiều
gì cũng sẽ làm ảnh hưởng về vật chất và tinh thần đối với doanh nghiệp Cường
Thịnh, như ngoài việc truy thu đủ số thuế trốn còn phải bị xử phạt, khi bị xử phạt
thì làm ảnh hưởng đến uy tín trong việc kinh doanh, qua đó cũng có rất nhiều dư
luận không tốt đối với DNTN Cường Thịnh.
DNTN Cường Thịnh sử dụng hoá đơn bất hợp pháp để kê khai khấu trừ
thuế giá trị gia tăng đầu vào đã làm thất thu ngân sách Nhà nước 95.000.000
đồng, đồng thời sẽ không được công bằng đối với các doanh nghiệp kinh doanh
cùng ngành hàng, dẫn đến tình trạng cạnh tranh không lành mạnh, gây mất ổn
định thị trường và làm ảnh hưởng đến công tác quản lý thuế, ảnh hưởng đến sự
phát triển sản xuất kinh doanh trên địa bàn huyện.
2.2.2. Về kinh tế
Thiệt hại về mặt kinh tế cho xã hội, làm thất thu cho ngân sách Nhà nước.
Không những gây thất thu cho ngân sách Nhà nước mà còn tạo nên một liên
doanh chuyên mua bán hoá đơn để thu lợi bất chính, đồng thời còn làm tổn hại
về nhiều mặt cho nền tài chính nước nhà như: không phản ánh đúng tính chất
của nền kinh tế thị trường.
3. Mục tiêu xử lý tình huống
Xử lý tình huống này nhằm đưa ra các phương án xử lý nghiêm minh,
đúng pháp luật đối với các đối tượng có liên quan đến việc trốn thuế, kê khai sai
thuế. Góp phần khắc phục những hậu quả của vụ việc trên và củng cố niềm tin,
nâng cao hiệu quả đầu tư tài chính của doanh nghiệp và các khoản ngân sách của
nhà nước cũng như các tổ chức của nước ngoài và thế giới đầu tư cho phát triển
nền kinh tế.


Việc xử lý tình huống hợp lý góp phần củng cố niềm tin giữa các doanh
nghiệp, cũng như răng đe các đơn vị sản xuất kinh doanh khác.
Tạo thêm động lực không ngừng nâng cao học tập nghiên cứu về Luật
thuế để sau này các doanh nghiệp, cơ sở làm đúng.
Tìm hiểu nguyên nhân doanh nghiệp kê khai không đầy đủ các nội dung
trong hồ sơ thuế.
Xác định hậu quả của việc kê khai sai, trong trường hợp công ty vẫn hoạt
động sản xuất kinh doanh bình thường.
Đảm bảo nguồn thu cho Ngân sách Nhà nước ổn định, thu đúng, thu đủ và
nộp kịp thời vào Ngân sách Nhà nước, góp phần cân đối chi tiêu cho Ngân sách,
nhất là trong lĩnh vực chi đầu tư phát triển.
Giải pháp, biện pháp khắc phục sai phạm và hướng dẫn đơn vị thực hiện
kê khai, quyết toán theo đúng quy định trong thời gian tới. Nâng cao vai trò
quản lý của Nhà nước trên lĩnh vực thuế đồng thời đảm bảo cho pháp luật của
Nhà nước được thực thi một cách hiệu quả.
4. Các phương án xử lý tình huống
4.1. Xây dựng phương án
4.1.1. Phương án 1
Xử phạt nghiêm minh, xử phạt hành vi khai sai theo Khoản 1, Khoản 4,
Khoản 5 Nghị định 129/2013/NĐ-CP ngày 16 tháng 10 năm 2013 của Chính
phủ Quy định về xử lý vi phạm về thuế và cưỡng chế thi hành quyết định hành
chính thuế.
- Truy thu số thuế giá trị gia tăng đã kê khai khấu trừ: 95.000.000 đồng.
- Phạt 3 lần số thuế giá trị gia tăng kê khai khấu trừ: 285.000.000 đồng.
- Không cho tính vào chi phí hợp lý khi xác định thu nhập chịu thuế giá trị
hàng hoá của 03 hoá đơn trên.
Ưu điểm của phương án 1:
Đây là biện pháp mang tính quyền lực, tính cưỡng chế cao, hậu quả giải
quyết nhanh gọn. Xử phạt đúng pháp luật, hợp tình, hợp lý có tính thuyết phục
cao làm cho Doanh nghiệp nhận thấy được hành vi vi phạm của mình và đồng ý
với quyết định của cơ quan thuế. Tạo điều kiện cho doanh nghiệp khắc phục


được hậu quả. Xử phạt nhanh chóng, thủ tục đơn giản.
Nhược điểm phương án 1:
Tính khả thi không cao, các cơ quan pháp luật chưa hẳn đã đồng tình, vì
mức xử phạt quá cao.
Về mặt xã hội ảnh hưởng xấu đến quyền lợi của DNTN Cường Thịnh và
người lao động về công ăn việc làm thu nhập đời sống của họ.
Mức xử phạt hành chính đều ở mức tối đa, gây nên gánh nặng tài chính
cho doanh nghiệp, chỉ đưa ra các tình tiết tăng nặng, mà không xem xét tình tiết
giảm nhẹ.
4.1.2. Phương án 2
- Truy thu số thuế giá trị gia tăng đã kê khai khấu trừ: 95.000.000đ.
- Phạt cảnh cáo.
- Không cho tính vào chi phí hợp lý khi xác định thu nhập chịu thuế giá trị
hàng hoá 03 hoá đơn vi phạm.
Ưu điểm của phương án 2:
Tính khả thi có cao hơn phương án 1, chỉ truy thu số tiền thuế trốn và giáo
dục doanh nghiệp. Xử phạt nghiêm minh, có tính răn đe, giáo dục cao đối với
người vi phạm.
Nhược điểm phương án 2:
Không xử phạt vi phạm hành chính nên chưa đủ mạnh để răng đe doanh
nghiệp, chưa tạo công bằng trong kinh doanh.
4.1.3. Phương án 3
- Truy thu số thuế giá trị gia tăng đã kê khai khấu trừ: 95.000.000 đồng.
- Phạt 01 lần trên số thuế trốn: 95.000.000 đồng.
- Không cho tính vào chi phí hợp lý khi xác định thu nhập chịu thuế giá trị
hàng hoá 03 hoá đơn vi phạm.
Ưu điểm của phương án 3:
Ngoài ưu điểm như phương án 2 vì vừa xử phạt hành chính vừa giáo dục
doanh nghiệp, phù hợp với bản chất sự việc, đảm bảo cho đơn vị hoạt động bình
thường mà không gây xáo trộn hoạt động sản xuất kinh doanh. Về mặt xã hội
bảo đảm ổn định việc làm và thu nhập của người lao động.
Về xử phạt vi phạm hành chính có xét đến tình tiết giảm nhẹ, về nguyên
nhân xảy ra lỗi do doanh nghiệp mới vi phạm lần đầu, có tính giáo dục, thuyết phục


cao đối với đơn vị vi phạm
Nhược điểm phương án 3:
Việc xử lý đòi hỏi cán bộ phải có năng lực, trình độ cao để xem xét tình
tiết cụ thể đồng thời có xem xét lịch sử thái độ chấp hành pháp luật của đơn vị
trước khi vi phạm xảy ra.
Phải cần đến cơ quan pháp luật để thu thập tài liệu, xác minh quá trình
giao dịch mua bán với các đối tác có liên quan nên thời gian xử lý kéo dài.
4.2. Lựa chọn phương án tối ưu
Phương án 3 với phương án 1: Phương án 1 truy thu và phạt 3 lần số thuế
trốn đủ mạnh để răng đe doanh nghiệp. Hạn chế là thiếu sự giáo dục doanh
nghiệp, khả năng doanh nghiệp không thực hiện nổi dẫn đến gặp khó khăn về tài
chính. Phương án 3 truy thu đủ số thuế trốn, xử phạt 01 lần số thuế trốn
95.000.000 đồng đúng theo quy định, có mang tính giáo dục là chính, doanh
nghiệp có khả năng nộp, tạo điều kiện cho doanh nghiệp tiếp tục kinh doanh.
Phương án 3 với phương án 2: phương án 2 chỉ truy thu số thuế trốn, giáo
dục chủ doanh nghiệp không xử phạt hành chính thì tính khả thi cao; nhưng hạn
chế là chưa đủ mạnh để răng đe các doanh nghiệp vi phạm, chưa tạo công bằng
trong kinh doanh.
Qua đó cho thấy phương án 3 là phương án tối ưu hợp tính hợp lý vừa
truy thu đủ số thuế trốn còn xử phạt hành chính để răng đe các doanh nghiệp,
đồng thời có giáo dục cho chủ doanh nghiệp về chính sách thuế.
Qua 3 phương án trên mỗi phương án đều có những ưu điểm, nhược
điểm nhất định, với nhận thức bản thân tôi chọn phương án 3 với lý do sau:
Thứ nhất, về xử phạt vi phạm hành chính cần quán triệt nguyên tắc xử
phạt vi phạm hành chính: một hành vi vi phạm hành chính chỉ bị xử phạt một lần
và xem đến tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ. Nên ngoài việc truy thu đủ số thuế
trốn chỉ phạt 01 lần trốn thuế (mức phạt thấp nhất của khung) là vì Doanh
nghiệp vi phạm lần đầu và mức phạt vi phạm hoá đơn ở mức thấp hơn phương
án 1. Từ đó thể hiện rõ tính nghiêm minh và nhân đạo của Pháp luật Việt Nam,
ngoài ra còn giáo dục thuyết phục người nộp thuế chấp hành tốt luật thuế hơn.
Thứ hai, một phần lỗi do cơ quan thuế chưa làm tốt công tác tuyên truyền
hướng dẫn tư vấn các doanh nghiệp kinh doanh. Mặt khác sự thống nhất và quản


lý của cơ quan thuế một số địa phương còn buông lõng, thiếu sâu sát nên dẫn
đến tình trạng nêu trên.
Thứ ba, về mặt kinh tế xã hội vẫn đảm bảo sự ổn định, phát triển sản xuất
kinh doanh và công ăn việc làm cho người lao động.
Về mặt ngân sách nhà nước đã kịp thời làm tăng số thuế phải nộp 95.000.000
đồng (do không cho đơn vị khấu trừ số thuế giá trị gia tăng của hoá đơn bất hợp
pháp) và tăng thu về xử phạt hành vi trốn thuế, gian lận thuế: 95.000.000 đồng
(Phạt theo khoản 1, Điều 11 Nghị định số 129/2013/NĐ-CP ngày 16 tháng 10
năm 2013 của Chính phủ quy định về xử lý vi phạm pháp luật về thuế và cưỡng
chế thi hành quyết định hành chính thuế).
5. Phương thức thực hiện phương án
Để thực hiện có hiệu quả phương án tối ưu như đã lựa chọn, chúng ta phải
chuẩn bị một cách chặt chẽ các bước sau:
Bước 1
Đoàn kiểm tra tiến hành lập biên bản kiểm tra tại doanh nghiệp Cường
Thịnh về việc sử dụng 03 hoá đơn bất hợp pháp trong vòng 05 ngày làm việc kể
từ ngày kết thúc thời hạn kiểm tra và Trưởng đoàn kiểm tra phải công bố công
khai Biên bản kiểm tra trước người nộp thuế và các thành viên trong Đoàn kiểm
tra.
Bước 2
Theo biên bản kiểm tra căn cứ Luật Quản lý thuế, nghị đinh số
129/2013/NĐ-CP ngày 16 tháng 10 năm 2013 của Chính phủ, đoàn kiểm tra lập
tờ trình trình Lãnh đạo Chi cục ra quyết định về việc xử lý vi phạm về thuế qua
kiểm tra việc chấp hành pháp luật thuế trong thời hạn 07 ngày làm việc kể từ
ngày ký biên bản kiểm tra: Truy thu tiền thuế giá trị gia tăng đã khấu trừ:
95.000.000đ; Phạt 01 lần trên số thuế bị truy thu: 95.000.000đ và không cho tính
vào chi phí hợp lý khi xác định thu nhập chịu thuế để tính thuế thu nhập doanh
nghiệp giá trị hàng hoá ghi trên 03 hoá đơn .
Bước 3
Đoàn kiểm tra đến doanh nghiệp Cường Thịnh trao quyết định xử lý vi
phạm pháp luật thuế trong thời hạn 02 ngày làm việc kể từ ngày ra quyết định


xử lý vi phạm về thuế, có lập biên bản giao nhận quyết định và ký nhận Quyết
định của chủ doanh nghiệp Cường Thịnh.
Bước 4
Doanh nghiệp Cường Thịnh nộp tiền vào tài khoản của Chi cục thuế thị
xã Hồng Ngự mở tại Ngân hàng trong vòng 10 ngày kể từ ngày nhận được
Quyết định.
6. Bài học kinh nghiệm
Qua hành vi vi phạm pháp luật và việc áp dụng các quy phạm pháp luật
vào giải quyết hành vi vi phạm tại doanh nghiệp Cường Thịnh ta rút ra bài học
kinh nghiệm như sau:
Thứ nhất
Pháp luật phải thật sự trở thành là hành lang pháp lý để cho các chủ thể
tham gia quan hệ kinh tế một cách bình đẳng, tạo điều kiện sản xuất kinh doanh
phát triển. Do đó khi ban hành chính sách mới Nhà nước phải tuyên truyền rộng
rãi để mỗi tổ chức, cá nhân hiểu biết và nhận thức một cách rõ ràng khi thực
hiện đồng thời đấu tranh với những hành vi vi phạm pháp luật, đảm bảo tăng
cường pháp chế xã hội chủ nghĩa.
Thứ hai
Cơ quan quản lý thu ngân sách: Để công tác thu ngân sách đúng quy định,
tạo sự công bằng xã hội, khuyến khích sản xuất kinh doanh phát triển, nhằm bảo
vệ những tổ chức, cá nhân làm ăn chính đáng, hệ thống cơ quan thuế phải thực
hiện pháp luật thuế một cách đồng bộ giữa các địa phương, đồng thời trong quá
trình thực thi phải nghiên cứu phát hiện các khiếm khuyết của cơ chế quản lý để
kịp thời bổ sung, sữa đổi. Tăng cường thanh tra, kiểm tra và phân công cán bộ
phân tích hồ sơ khai thuế có năng lực chuyên môn và khả năng đánh giá phân
tích tốt để kịp thời phát hiện vi phạm của đối tượng nộp thuế, nếu không được
phát hiện kịp thời không những Nhà nước thất thu, thậm chí các hành vi vi phạm
gây thiệt hại nghiêm trọng cho đời sống kinh tế - xã hội.
Thứ ba
Trong việc áp dụng các quy phạm pháp luật vào giải quyết các hành vi vi
phạm xảy ra trong thực tế, cần phải triệt để chấp hành các quy định về trình tự
thủ tục, xử lý đúng đối tượng, đúng hành vi vi phạm thì mới có tác dụng răn đe,
giáo dục và làm gương cho các đối tượng khác.


7. Những kiến nghị
Từ sự việc trên cho thấy đã xuất hiện một loại tội phạm mới đó là một số
đối tượng chuyên dùng hóa đơn giá trị gia tăng để mua bán thu lợi bất chính, gây
thiệt hại cho ngân sách nhà nước, cho những người làm ăn chân chính.Từ tình
huống nêu trên tôi xin đề nghị một số kiến nghị sau:
Đối với Chi cục thuế
Cần xây dựng lại các quy trình thanh tra, kiểm tra một cách chặt chẽ,
không còn kẽ hở để một số đơn vị lợi dụng thực hiện các hành vi trái pháp luật.
Đề nghị Chi cục thuế ra quyết định truy thu đủ số thuế mà Công ty TNHH
Trần Phong Phú ƯỜNG THỊNH kê khai khống với số tiền 95.000.000 đồng, xử
phạt một lần trên số thuế trốn là 95.000.000 đồng.
Chi cục thuế cần bố trí công chức vững vàng về chuyên môn nghiệp vụ
để thường xuyên tuyên truyền chính sách pháp luật thuế cho các chủ doanh
nghiệp bằng nhiều hình thức như đối thoại doanh nghiệp, qua đài phát thanh,
truyền hình, pa nô. Đảm bảo 100% các văn bản pháp luật thuế, các văn bản
hướng dẫn thực hiện pháp luật thuế được triển khai đến các doanh nghiệp và các
tổ chức kinh tế 100% các doanh nghiệp, tổ chức kinh tế mới ra hoạt động sản
xuất kinh doanh đều được tập huấn, hướng dẫn về các chính sách thuế và chế độ
quản lý sử dụng hoá đơn chứng từ có liên quan để người nộp thuế biết để thực
hiện.
Đề nghị Chi cục thuế tăng thêm nhân sự cho đội Kiểm tra, chỉ đạo đội
Kiểm tra tăng cường công tác kiểm tra giám sát tình hình hoạt động kinh doanh
của các công ty, doanh nghiệp trên địa bàn thị xã Hồng Ngự nhất là các công ty,
doanh nghiệp có ngành nghề nhạy cảm. Đây là biện pháp nhằm bảo đảm cho
chính sách pháp luật được thực hiện một cách nghiêm minh, nhằm phát hiện
sớm các sai sót, lệch lạc để kịp thời uốn nắn chấn chỉnh, xử lý. Hoạt động kiểm
tra giám sát, phải được thực hiện theo đúng quy định của pháp luật và phải tiến
hành thường xuyên đó là nhiệm vụ của hệ thống các cơ quan quyền lực Nhà
nước. Đồng thời kiểm tra, thanh tra cũng nhằm kịp thời giúp cho các doanh
nghiệp khắc phục sai sót tạo điều kiện hoạt động thuận lợi và hiệu quả tránh gây


phiền hà, nhũng nhiễu cho người nộp thuế.
Đối với Tổng cục Thuế
Thường xuyên có kế hoạch đào tạo cho đội ngũ cán bộ công chức trong
hệ thống ngành thuế, nâng cao trình độ chuyên môn, phẩm chất chính trị, năng
lực quản lý. Đủ sức đảm đương nhiệm vụ trong tình hình mới, đồng thời tăng
cường trang bị cơ sở vật chất như công nghệ thông tin được áp dụng ngày càng
hoàn chỉnh hơn, có thể truy cập trên toàn quốc mỗi khi cần thiết, xây dựng hệ
thống dữ liệu quản lý đối tượng nộp thuế. Áp dụng công nghệ tin học hiện đại
vào công tác quản lý thuế, cung cấp dịch vụ hỗ trợ cho đối tượng nộp thuế; mở
rộng việc kết nối thông tin với mọi tổ chức, cá nhân có liên quan phục vụ cho
công tác quản lý thuế.
Để thực hiện hiệu quả vấn đề thanh tra, kiểm tra đòi hỏi ngành thuế cần
có một đội ngủ cán bộ có năng lực, kỹ năng, giỏi về nghiệp vụ chuyên môn
trong lĩnh vực thuế phải có tầm nhìn sâu, rộng. Xây dựng một hệ thống hành
chính thuế có hiệu quả là yêu cầu không phải dễ dàng, vì vậy ngành thuế phải có
chiến lược bồi dưỡng, đào tạo chuyên sâu cho lực lượng ngành thuế.


KẾT LUẬN
Thuế là nguồn thu chủ yếu của ngân sách Nhà nước với mọi thành phần
trong xã hội, khoản thu này được pháp luật quy định mang tính chất bắt buộc,
không hoàn trả trực tiếp ngang giá mà nó gián tiếp hoàn trả lại cho toàn xã hội
sử dụng cho mục đích chung thông qua nhiều con đường: Xây dựng cơ sở hạ
tầng, chi phúc lợi xã hội, giáo dục đào tạo, y tế, sự nghiệp khoa công nghệ, an
ninh quốc phòng.
Mặt khác thuế ra đời nhằm quản lý, điều tiết sản xuất kinh doanh, phân
phối và phân phối lại tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân, cho nên chính
sách thuế cần phải đảm bảo tính bình đẳng, công bằng và hợp lý. Thông qua
thuế Nhà nước xây dựng chính sách thuế phù hợp giữa các đối tượng nộp thuế,
các đối tượng tính thuế, thuế suất, chế độ miễn giảm, phương pháp khai thuế,
nộp thuế, nhằm góp phần khuyến khích, nâng đỡ và phát triển sản xuất kinh
doanh theo đúng mục tiêu, định hướng mà Nhà nước đặt ra là “Dân giàu, nước
mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”.
Qua việc khai man trốn thuế của DNTN Cường Thịnh là hành vi vi phạm
pháp luật về thuế, đã gây ra hậu quả làm thất thu ngân sách nhà nước, làm ảnh
hưởng đến môi trường kinh doanh lành mạnh trên địa bàn thị xã Hồng Ngự,
cũng vì lợi nhuận trước mắt làm mờ lý trí vì thế qua việc bị xử lý làm tổn hại về
vật chất, đặc biệt là làm tổn hại về tinh thần, làm mất uy tín trong kinh doanh, sẽ
ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh sau này của Doanh nghiệp, việc xử lý này
nhằm răn đe các cá nhân, tổ chức kinh doanh không tuân thủ pháp luật thuế. Đây
cũng là bài học kinh nghiệm cho những doanh nghiệp chạy theo lợi nhuận mà
kinh doanh không tuân thủ đúng theo pháp luật thuế đã quy định.
Thực hiện đúng đắn và xử lý nghiêm các hành vi vi phạm Luật quản lý
thuế nhằm nâng cao hiệu lực pháp lý, pháp chế của các văn bản quy phạm pháp
luật của cơ quan quản lý nhà nước trong lĩnh vực kinh tế.
Bài tiểu luận có đưa ra phương án 3 để xử lý là rất thích hợp, nhằm giáo
dục doanh nghiệp là chính, bên cạnh đó ngoài việc truy thu đủ số thuế trốn số
tiền 95.000.000 đồng chỉ phạt 01 lần trên số thuế trốn là tạo điều kiện cho doanh
nghiệp khắc phục hậu quả để sớm bước vào kinh doanh tuân thủ đúng pháp luật


về thuế.
Qua nghiên cứu tình huống xử lý vi phạm pháp luật về thuế đối với
DNTN Cường Thịnh giúp cho bản thân nhận thức được việc áp dụng các biện
pháp xử lý hành chính trong vi phạm pháp luật thuế đúng người, đúng tội là hết
sức cần thiết, nâng dần ý thức chấp hành pháp luật của người kinh doanh, tạo
môi trường kinh doanh bình đẳng giữa những người nộp thuế, đồng thời thể hiện
tính pháp chế của pháp luật và quyền lực của cơ quan quản lý nhà nước. Có vậy
mới đảm bảo được trật tự xã hội, ổn định và phát triển đất nước một cách bền
vững.


DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Hiến Pháp nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam;
2. Luật Quản lý thuế số 78/2006/QH11 ngày 29/11/2006 của Quốc Hội;
3. Thông tư số 156/2013/TT-BTC ngày 6 tháng 11 năm 2013 của Bộ Tài Chính
hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Quản lý thuế; Luật sửa đổi, bổ sung
một số điều của Luật Quản lý thuế và Nghị định số 83/2013/NĐ-CP ngày
22/7/2013 của Chính phủ;
4. Thông tư số 78/2014/TT-BTC ngày 18/6/2014 của Bộ tài chính Hướng dẫn
thi hành Nghị định số 218/2013/NĐ-CP ngày 26/12/2013 của Chính phủ quy
định và hướng dẫn thi hành Luật thuế thu nhập doanh nghiệp;
5. Thông tư 219/2013/TT- BTC ngày 31/12/2013 của Bộ Tài Chính hướng dẫn
thi hành Luật Thuế giá trị gia tăng và Nghị định số 209/2013/NĐ-CP ngày
18/12/2013 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số
điều Luật Thuế giá trị gia tăng;
6. Nghị định 129/2013/NĐ-CP ngày 16 tháng 10 năm 2013 của Chính phủ Quy
định về xử lý vi phạm về thuế và cưỡng chế thi hành quyết định hành chính
thuế.
7. Tài liệu bồi dưỡng ngạch chuyên viên (Ban hành theo Quyết ttịnh 900/QĐBNV ngày 6 tháng 8 năm 2013 của Bộ trưởng Nội vụ).


ĐIỂM, NHẬN XÉT CỦA GIÁM KHẢO

.................................................................................................................................
.................................................................................................................................
.................................................................................................................................
.................................................................................................................................
.................................................................................................................................
.................................................................................................................................

ĐIỂM:

Bằng chữ:……………………………………..

GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN
(Ký tên, ghi rõ họ tên)

………………………..



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×