Tải bản đầy đủ

Giá trị Châu Á trong thế kỷ XXI

Giá trị Châu Á trong thế kỷ XXI
Từ ngữ của lịch sử thế giới, ánh sáng cho Phương Tây luôn đến từ phương Đông
(Châu Á). Ngay từ thế kỷ VII trước công nguyên, Hy lạp cổ luôn thừa nhận Lydia,
một vùng đất giàu có sung túc, cố gắng để tạo dựng phẩm chất của riêng mình bằng
cách học hỏi từ cái thế giới tinh hoa đó, đặc biệt là khu vực phía Đông Địa Trung Hải
như Lưỡng Hà, Ai Cập, đảo Cretan trên biển Aege. Có thể nói mà không sợ quá rằng,
nền văn minh rực rỡ Hy Lạp cổ đại chính là hiện thực hoá của nguồn ánh sáng đến
từ phương Đông.
Nguồn sáng đến từ Phương Đông
Từ ngữ của lịch sử thế giới, ánh sáng cho Phương Tây luôn đến từ phương Đông (Châu Á).
Ngay từ thế kỷ VII trước công nguyên, Hy lạp cổ luôn thừa nhận Lydia, một vùng đất giàu
có sung túc, cố gắng để tạo dựng phẩm chất của riêng mình bằng cách học hỏi từ cái thế
giới tinh hoa đó, đặc biệt là khu vực phía Đông Địa Trung Hải như Lưỡng Hà, Ai Cập, đảo
Cretan trên biển Aege. Có thể nói mà không sợ quá rằng, nền văn minh rực rỡ Hy Lạp cổ đại
chính là hiện thực hoá của nguồn ánh sáng đến từ phương Đông.
Lịch sử phương Tây ghi nhận rằng, nền văn minh phương Tây lại một lần nữa rơi vào đêm
tối khi nguồn sáng đến từ phương Đông đã tắt, với sự sụp đổ của Đế chế Tây La Mã năm
476. Tuy nhiên, đêm tối không đến từ ngữ cảnh lịch sử văn minh thế giới, hay lịch sử tri
thức của nhân loại. Như là tất yếu, nền văn minh HyLa chuyển sang phương Đông, Đế chế
Hồi giáo bắt đầu toả sáng, và thậm chí còn rực rỡ hơn. Những thế lực Hồi giáo chinh phục
thế giới ả rập hồi thế kỷ VII đã thành lập nên Viện Bayt al Hikma, một thể chế giáo dục cao

cấp và sưu tầm chắt lọc những học thuyết kinh viện của thời đó, gồm triết, toán, thiên văn,
y và âm nhạc, từ Byzantine đến Ấn Độ.
Trong nền khoa học phương Tây hiện đại, thì hoá học chính là bộ môn ảnh hưởng nhiều nhất
của tri thức Hồi giáo. Chữ hoá học trong tiếng Anh, có căn gốc từ tiếng Ả rập chemia, nghĩa
là thuật giả kim. Ngay từ đầu, thuật giả kim đã được coi là phương pháp bí mật làm biến đổi
vật liệu, và thậm chí bóng gió tới ma quỷ thánh thần. Hoá học hiện đại đã phát triển từ
thuật giả kim, bằng cách giải phóng các hiện tượng lạ kỳ cùng các thành tố phi lý. Dù đã
phát triển vượt bậc, những khái niệm hoá học ngày nay vẫn còn mang nguồn gốc ả rập
không suy chuyển, chứng tỏ một cách hiển nhiên ảnh hưởng của thuật giả kim lên hoá học.
Chỉ nguyên những cái tên thôi cũng đủ là một ví dụ thuyết phục: rượu cồn (alcohol), chất
kiềm (alkali), hỗn hống (amalgam), anilin (aniline), antimon (antimony), nhựa thơm
(balsam), etxăng (benzene), kali (kalium), natri (natnum), đường sacharin (saccharin),
nước ngọt (syrup), nước sôđa (sôđa)...
Những dấu tích ngôn ngữ từng giúp nền khoa học phương Tây lớn mạnh này nói lên một.
điều: ánh sáng ở cuối đường hầm, một lần nữa lại đến từ các quốc gia Hồi giáo và Ấn Độ. Vì
phương Tây lại một lần nữa phát hiện ra nguồn năng lượng phương Đông, họ đã cố gắng
giành lấy nó cho mình. Các trường Đại học phương Tây thành lập ở Bologna, Oxford,
Cambridge, và Paris hồi thế kỷ XII và XIII là những biểu hiện của sự thức tỉnh này. Bằng
chứng là: các trường đại học đó đã dịch các tác phẩm kinh viện Hồi giáo sang tiếng Latin,
quảng bá chúng và sáp nhập đại số, hình học, thiên văn học, âm nhạc của Ấn Độ và Hồi
giáo vào kho kiến thức của mình, cũng giống như điều đã từng xảy ra trong 7 lĩnh vực nghệ
thuật.
Cái bẫy của phương Tây hiện đại: Chủ nghĩa Đông tiến
Trong khi phương Tây chầm chậm thức tỉnh từ giấc ngủ đông gây ra do mớ triết lý giáo điều
của Nhà thờ sau thời Phục Hưng, thì ước muốn của họ về một uy quyền bá chủ đã dẫn dắt
họ đến với Chủ nghĩa Đế quốc. Từ đó, phương Đông không còn được coi là vùng đất có tính
"nguồn sáng" của phương Tây nữa. Phương Đông cũng không còn được coi là biểu tượng
văn hoá có thể thức tỉnh phương Tây.
Ngay từ thuở ban đầu, đã không hề có khái niệm phương Đông ở bất cứ đâu trên Châu Á.
Không hề có khái niệm Chủ nghĩa Đông tiến trong ý thức của các dân tộc Châu Á. Điều gì đã
làm cho phương Đông không phải của phương Đông, mà của phương Tây, của những giá trị
phương Tây?
Đó chính là vì phương Tây, với khát vọng đế quốc, muốn sáp nhập phương Đônbơ vào trang
chủ thống trị của mình. Tuy nhiên, chừng nào chủ nghĩa Đông tiến còn tồn tại trong ý thức
của phương Tây, thì khái niệm đó vẫn là một ý nghĩ độc đoán, một điều tưởng tượng chỉ tồn
tại trong đầu óc chủ quan của người phương Tây mà thôi. Suốt thời Cách mạng Công
nghiệp, phương Tây chỉ coi tính đa dạng và sự khác biệt của Châu Á như là biểu hiện của cái
dã man, và không bao giờ tỉnh táo. Bằng cách đó, hoài vọng về một đế chế phương Tây
luôn làm họ trở thành tự cao tự đại, lúc nào cũng muốn thực dân hoá và thống trị Châu Á.
Đó chính là phong cách nhận thức của phương Tây, tái sinh từ ánh sáng của phương Đông,


nhưng lại chống lại chính phông nền phương Đông.
Tuy nhiên, điều này cũng là vận rủi của chủng tộc đa trắng, không thể nhìn trực tiếp vào
phương Đông để thấy đầu mối suy tàn của phương Tây. Chính điều này đã biến Hegel, một
học giả vị chủng (luôn đề cao tính thượng đẳng của dân tộc Đức), lý trí đến cùng cực, trở
thành người cho rằng phương Đông không có tự do. Đó chính là cái bẫy, thậm chí làm cho
Hegel thất bại trong việc giải phóng chính mình khỏi List der Vermuft (mớ lý thuyết suông)
của chủ nghĩa Đông tiến.
Châu Á và văn bản của Tương lai
Đó là một câu đa nghĩa luôn được lật đi lật lại Vì từng có sự uyên thâm của phương Đông
chiếu sáng phương Tây trong đêm tối, mà Châu Á có thể lại một lần nữa sẽ đưa đến cho
phương Tây suy tàn nguồn năng lượng để thức tỉnh. Vì lý do này, phương Tây ngày nay
đang cố gắng để tìm kiếm tương lai của mình tại Châu Á, họ muốn biết nhiều hơn nữa về
quá khứ của chính họ mà trước kia họ đã bỏ quên. Nói cách khác, phương Tây đang muốn
tái tạo lại tương lai của mình ở Châu Á. Phương Tây, và Thế giới, hiện đang nhìn Châu Á,
không phải như một hiện tượng đã được tạo ra, mà là một khả năng cho thế kỷ XXI. Tương
lai của Châu Á không còn là một phenotex (câu văn hiện tượng) nữa, mà là genotexte (câu
văn khởi nguồn).
Phương Tây đã nếm trải hậu quả của việc con bệnh hoá Châu Á, họ đã nhận ra cái giá của
chủ nghĩa Đông tiến, một hệ tư tưởng đế quốc trong hai cuộc chiến tranh thế kỷ XX. Pierre
Teilhard de Chardin (1881 - 1955), một lý thuyết gia xuất chúng, một nhà địa chất, nhà
sinh vật học Pháp, đã cảnh báo trong bài Nghĩ về cuộc khủng hoảng hiện nay: Hãy cứu lấy
loài người, một bài luận viết ở Bắc Kinh năm 1936, như sau: "Cuộc khủng hoảng xuất hiện
từ chiến tranh thế giới đang ngày càng lan rộng hơn, sâu hơn, chẳng hề chìm lắng. Cuộc
khủng hoảng, ban đầu không gì khác chính là sự đụng đâu giữa những ham muôn vật chất,
giờ trở thành cơn địa chấn rung chuyển mặt đất nơi con người đang đứng". Ấy thế mà, ông
vẫn kêu gọi loài người hãy tin tưởng ở tương lai. Bởi vì điều này, cái mà ông rất quan tâm,
chính là tinh thần Châu Á. Đối với Chardin, Châu Á là vùng đất của những điều kỳ diệu, quê
hương của cái tinh hần mà rất nhiều người vẫn hằng hướng về. Đó chính là nơi họ mong ước
gửi gắm niềm tin yêu cuộc sống. Điều đó giải thích vì sao ông đề nghị "Chúng ta hãy trở về
với muôn vàn điều kỳ diệu của Châu Á".
Tuy nhiên, phương Tây thế kỷ XX vẫn tiếp tục tiến theo hướng khác so với điều Chardin
mong mỏi. Phương Tây ngày một trở nên điên rồ. Họ vượt qua cả thứ được gọi là nạn bạo
lực, và mắc phải chứng hoang tưởng rồ đại có nguồn gốc bạo lực. Sự xuất hiện của Chủ
nghĩa phátxít là minh chứng của sự rồ dại đó. Hơn nữa, sự điên khùng còn sớm mở ra phân
nhánh của chủ nghĩa Đông tiến ở Nhật Bản và chủ nghĩa Đế quốc Nhật đã thẳng thừng
tuyên bố mình là phân nhánh của phương Tây. Sự điên khùng của phátxít Nhật (đặt ngang
bằng sự cự tuyệt của Châu Á với sự thống trị của Châu Á) bắt đầu bằng việc cùng với chủ
nghĩa Đông tiến phương Tây chinh phục các dân tộc Châu Á láng giềng. Thậm chí sự điên
khùng đó còn xuất sắc hơn khi săn lùng tiêu diệt dân Châu Á. Phátxít Đức và Đế quốc Nhật
đã liên minh với nhau, trở thành phe trục trong Đại chiến Thế giới lần thứ II. Đó là tột đỉnh
của chủ nghĩa Đông tiến.
Trong khi J.P. Sartre, một triết gia hiện sinh Pháp, tuyên bố tình trạng "Không lối thoát", thì
Edgar Morin một triết gia Pháp khác đồng thời và là một cây phê bình đối với nền văn minh
hiện đại, đã viết trong cuốn Trốn khỏi thế kỷ "Phương Tây khủng hoảng một mặt, từ nền
văn minh đến văn hoá, đến cách đo đếm giá trị, trong gia đình đến cả nhà nước. Phương
Tây cuối cùng sẽ đến điểm cuối chết chóc khi suy sụp tinh thần trong màn sương tiên bộ
văn minh hiện đại".
Tuy nhiên, sau những năm 1950, phương Tây bắt đầu thể hiện hành vi trốn khỏi thơi hiện
đại, đặc biệt là khỏi thế kỷ XX. Ví dụ, xuất hiện chủ nghĩa Chống vọng Tây và Chống duy lý
của các nhà Hậu cấu trúc như M.Foucault và J.Kristeva. Trước tiên, họ vạch mặt tình trạng
bạo lực bá chủ của phương Tây. Họ bóc trần âm mưu và sự điên rồ của Chủ nghĩa vọng Tây,
coi đó là một hình thức của Chủ nghĩa Đông tiến.
Vậy thì, họ tìm thấy cảm hứng và năng lượng cho Chủ nghĩa Chống Tây hoá và Chống hiện
đại hoá ở đâu? Ví dụ, Foucault nhận được ấn tượng tri thức mới lạ, điều không thể so sánh
với cái mà ông vẫn thấy nhan nhản ở phương Tây, trong cách phân loại muông thú ở một
cuốn bách khoa thư Trung Quốc. Cách này vượt xa hệ thống có sẵn của tư tưởng và sự hình
dung phương Tây. Trấn tĩnh lại, Foucault nghi ngờ hệ thống phương Tây về tư tưởng và bắt
đầu tìm kiếm các dấu tích cổ của các nền khoa học nghiên cứu chính con người.
Không kém gì Foucault, Kristeva, nữ học giả Pháp gốc Rumama, cũng bị ấn tượng và tìm
thấy nguồn cảm hứng từ Trung Hoa. Sau chuyến thăm Trung Quốc năm 1974, bà đã thú
nhận ấn tượng sốc của mình đang trong cuốn Phụ nữ ở Trung Quốc như sau: "Lịch sử Chủ
nghĩa Cộng sản ở Trung Quốc không khác gì lịch sử giải phóng phụ nữ”.
Tuy vậy, việc phát hiện lại Châu Á bởi những người như Chardin, Foucault, Knsteva, dù là
tích cực hay lạc quan đi nữa, cũng chẳng đáng gì so với việc "xem lại Châu Á" hay "đọc lại
Châu Á" mà một thế hệ khác ở phương Tây sau đó tiến hành. Nó không có nghĩa một sự dập
bài, hay một tuyên ngôn từ bỏ Chủ nghĩa Đông tiến. Sự dập bài thực sự của Chủ nghĩa Đông
tiến không bao giờ được làm triệt để bởi người phương Tây. Sau hết, việc vượt qua Chủ
nghĩa Bá quyền phương Tây chỉ có thể được làm bởi Châu Á, bởi chính sự nỗ lực của chúng
ta, chứ không của ai khác.
Năm 1902, Lương Khải Siêu ở Trung Quốc đã từng dự đoán rằng, thế kỷ XX sẽ là thời kỳ hôn
phối giữa văn minh phương Đông và văn minh phương Tây. Eun-sik Pak, một tư tưởng gia
soi sáng Hàn Quốc năm 1903 cũng tiên tri trong cuốn Tìm kiếm một đạo Khổng mới rằng,
"nói chung, thế kỷ XIX đã qua và thế kỷ XX hiện nay là thời kỳ văn minh phương Tây tiến bộ
vượt bậc, còn thế kỷ XXI và XXII, văn minh phương Đông sẽ trở thành khổng lồ". Khi xem
xét những tài liệu này, liệu chúng ta có thể nói rằng những lời dạy của Khổng Tử đã hết
thời? Thời đại mà những di huấn của bậc thánh nhân này ảnh hưởng đến cả thế giới, sẽ đến
trong tương lai gần.
Giáng sinh của những giá trị Châu Á:
Đó là sự tái phát hiện Châu Á.
Những thay đổi trong tiêu chuẩn toàn cầu
Mọi dân tộc trên thế giới này đều mong trở thành tiêu chuẩn toàn cầu trong rất nhiều lĩnh
vực, không chỉ về văn minh vật chất, mà còn cả văn minh tinh thần. Về văn minh vật chất,
muốn có nó phải giỏi khoa học và công nghệ, hoặc chí ít cũng phải có giống nòi cường tráng
khoẻ mạnh. Về vàn minh tinh thần, ai cũng muốn trải rộng văn hoá của riêng mình ra khắp
hành tinh, trở thành khuôn mẫu cho thế giới và thế là xuất hiện sự thống trị văn hoá.
Tuy nhiên, toàn cầu hoá trong quá khứ hầu như được thúc đẩy bằng những lực lượng hiếm
khi vận hành trơn tru và thầm lặng. Cả chủ nghĩa Đế quốc lẫn chủ nghĩa Đông tiến thế kỷ
XIX đều được sáng tạo bởi phương Tây và chính sách phân biệt chủng tộc, dẫn đến hai cuộc
chiến tranh thế giới đẫm máu. Chủ nghĩa toàn cầu trước khi kết thúc chiến tranh lạnh, thuộc
vào loại chủ nghĩa toàn cầu om sòm (hay chủ nghĩa toàn cầu quyền lực), muốn thống nhất
các vùng đất bằng vũ lực mà không có sự tự nguyện. Trên thực tế, dạng chủ nghĩa toàn cầu
này, muốn lấy sự chiếm cử lãnh thổ làm tiêu chuẩn, cũng chỉ là một phiên bản khác của chủ
nghĩa thực dân mà thôi.
Cuối thế kỷ XX, điều đó đã không thể tồn tại mãi. Hơn nữa, dạng tiêu chuẩn toàn cầu đang
thay đổi khi nhân loại bước vào thế kỷ XXI. Sự thay đổi dễ thấy nhất là sự tích hợp kinh tế
trở thành tiêu chuẩn. Điều này là toàn cầu hoá êm đềm, bởi sự tích hợp diễn ra tương đối tự
nguyện, chứ không bởi vũ lực.
Tuy nhiên, toàn cầu hoá êm đềm thực ra lại đang diễn ra trong những đòng thông tin vô
thanh, không phụ thuộc ý thức hệ hay năng lực kinh tế. Đó là sự tích hợp toàn cầu bằng
thông tin và công nghệ viễn thông (ICT), đóng vai trò như là tiêu chuẩn toàn cầu, dẫn đầu
bởi một loạt nước Châu Á như Hàn Quốc, Nhật Bản, Trung Quốc, Ấn Độ... Do là dạng tích
hợp thông tin lẫn nhau trên cơ sở tự nguyện, nên không thể gọi nó là gì khác ngoài cái tên
chủ nghĩa toàn cầu thầm lặng. Nó là sự vật chất hoá chủ nghĩa toàn cầu qua mạng, liên kết
siêu mạng, đồng thời với những tiêu chuẩn toàn cầu của không gian truyền tin, giữa một
thế giới tin học hoá nhanh chóng từ cuối thế kỷ XX.
Tái phát hiện Châu Á
Sự kết thúc của chiến tranh lạnh trong nửa cuối thế kỷ XX đã nói lên một điều: Thế giới
ngày nay không thể duy trì thêm nữa những mạng kín. Thế là hệ tư tưởng kiểu bài trừ,
nhằm tích hợp các vùng miền, đã không có giá trị. Sự tăng trưởng kinh tế tốc độ cao trong
các xã hội thị trường đã chứng minh rằng, hệ thống mở cửa những dòng vốn lưu chuyển có
khả năng tích hợp tốt hơn so với những hệ thống kín. Một trong những tiều vùng chứng tỏ
rõ nhất điều này là khu vực Đông Á gồm Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản. Nhờ có điều này
mà Trung Quốc quyết định chọn chính sách kinh tế mở, mặc dù vân giữ hệ tư tưởng chính trị
của mình. Thật chẳng quá thổi phồng khi cho rằng, ba quốc gia Đông Á này gần như đã duy
trì được một Cộng đồng kinh tế thị trường Đông Á. Bằng cách chia sẻ phương thức phối hợp
tư bản phát triển cao, ba quốc gia này đang tạo ra một cá tính Đông Á mới. Đó chính là điều
vì sao thế giới đang tập trung chú ý tới Đông Á trong thế kỷ XXI.
Vậy thì, ưu thế nào trong các thành tố Đông Á giúp cho các dân tộc vùng này, với những giá
trị và truyền thống phong phú, tạo lập và kết nối thành một mạng phát triển cao? Hay nói
cách khác, động lực thúc đẩy, làm cho thế giới một lần nữa phải chú ý đến Đông Á, đến từ
đâu? Ngắn gọn, đó là Sự sông dậy của truyền thông Khổng giáo. Các quốc gia Đông Á thắng
lợi về kinh tế, lại tạo ra một mẫu hình trật tự mới, và đạt được nhiều thành tựu xuất sắc hơn
so với các vùng khác trên thế giới, giữa sự lộn xộn của nền kinh tế tư bản suất hai thập kỷ
70 và 80.
Sự sống dậy của truyền thống Khổng giáo qua CNTB Khổng giáo bắt đầu hấp dẫn nền kinh
tế thế giới. Khi mà thế giới thế kỷ XXI bắt đầu phát hiện lại Đông Á, thì giới trí thức Đông Á
lại bắt đầu tự ý thức để đưa ra những giá trị và cả tính Đông Á như một sự hoán đổi cho văn
hóa thế giới trong thế kỷ XXI.
Ví dụ, Giáo sư Arif Dirlik, Đại học Tổng hợp Duke, Mỹ, một trong những học giả phương Tây,
đã giả định rằng: Sự sống dậy của Khống giáo có thể là do sự bất mãn quá lâu trước Chủ
nghĩa âu tâm từng đè nén truyền thông Đông Á. Tuy nhiên, sự dâng trào mạnh mẽ hiện nay
là bởi vì có sự khẳng định của các dân tộc Đông Á về ưu thế văn hoá của họ trước Châu Âu
và Bắc Mỹ, song song với sự tăng trương kinh tế của họ.
Thế là, cần phải nhận thấy rằng, Đông Á với những xã hội cùng chia sẻ một truyền thống
văn hiến chung, có một thực thể văn hoá tất hơn cấu trúc của Chủ nghĩa Đông tiến phương
Tây. Một khi nói được rằng, Đông Á là một mặt cầu văn hoá có nền tảng thống nhất, thì
Đông Á sẽ được nhận ra như một khái niệm văn hóa, chứ không chi đơn thuần là một khái
niệm địa lý.

Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×