Tải bản đầy đủ

Câu 9 dẫn luận ngôn ngữ học

9. Hãy trình bày những hiểu biết của anh (chị) về cơ cấu nghĩa của từ ?

Bài viết cần trình bày các ý cơ bản sau:
+ Khái niệm cơ cấu nghĩa của từ
+ Các khái niệm: Nghĩa vị;Nghĩa tố; Từ đơn nghĩa; Từ đa nghĩa (nghĩa gốc, nghĩa phái
sinh, quy tắc sắp xếp và ký hiệu trình bày nghĩa vị từ đa nghĩa trong từ điển)
+ Ý nghĩa thực tiễn của việc nghiên cứu nghĩa của từ.
Nghĩa của từ là những liên hệ được xác lập trong nhận thức của chúng ta giữa những cái mà nó
chỉ ra (những cái mà nó làm tín hiệu cho). Nghĩa của từ tồn tại trong từ và trong hệ thống ngôn
ngữ. Trong ý thức của con người chỉ tồn tại sự hiểu biết về nghĩa của từ (không phải nghĩa của
từ). Hiểu nghĩa của từ: quy chiếu vào đúng sự vật có tên gọi là từ đó (theo quy ước của cả cộng
đồng xã hội), đồng thời biết được những đặc trưng cơ bản nhất của sự vật đó, sử dụng từ đó
trong giao tiếp đúng với các mẹo luật ngôn ngữ. Nghĩa của từ phản ánh những đặc trưng chung,
khái quát sự vật, hiện tượng, là kết quả của nhận thức nhưng ít tiệm cận đến các chân lý khoa
học, nhiều từ không phản ánh khái niệm (thán từ, từ công cụ ngữ pháp…), có hàm chứa thêm sự
đánh giá, cảm xúc, thái độ…
Ví dụ: Nước là chất lỏng không màu, không mùi và hầu như không có vị, có sẵn trong ao hồ,
sông suối…
Một từ có thể có một hoặc nhiều nghĩa, nhưng đó không phải là những tổ chức lộn xộn. Nếu là
một từ nhiều nghĩa (đa nghĩa) thì các nghĩa đó của từ có quan hệ với nhau, được sắp xếp theo
những cơ cấu tổ chức nhất định.

Trong từng nghĩa của mỗi từ cũng vậy, chúng gồm những thành tố nhỏ hơn, có thể phân tích ra
được (gọi là các nghĩa tố – seme) và cũng được sắp xếp theo một tổ chức nào đó. Như vậy, xét
cơ cấu nghĩa của từ là ta xác định xem từ đó có bao nhiêu nghĩa, mỗi nghĩa có bao nhiêu thành tố
nhỏ hơn, và tất cả chúng được sắp xếp trong quan hệ với nhau như thế nào. Mỗi một nghĩa
thường gồm một số nghĩa tố được tổ chức lại.
Nghĩa tố được hiểu là một dấu hiệu logic ứng với một thuộc tính chung của sự vật, hiện tượng
(biểu vật) được đưa vào nghĩa biểu niệm... Đó cũng chính là "yếu tố ngữ nghĩa chung của các từ
thuộc cũng một nhóm từ hoặc riêng cho nghĩa của một từ đối lập với nghĩa của những từ khác
trong cùng một nhóm".
Ví dụ, một nghĩa của từ chân trong tiếng Việt được phân tích là: bộ phận thân thể động vật (ở
phía dưới cùng) để đỡ thân thể đứng yên hoặc vận động dời chỗ. Trong nghĩa này, có ba dấu hiệu
logic của sự vật ứng với ba thuộc tính chung của nó, đã được đưa vào. Đó là ba nghĩa tố của một
nghĩa trong từ chân. Ba nghĩa tố trên đây được phát hiện thông qua sự tập hợp và so sánh với các
từ khác: tay, đầu, vai, ngực, bụng, lưng,... Nghĩa tố "bộ phận thân thể động vật" chung cho mọi


từ trong nhóm. Hai nghĩa tố còn lại được phát hiện thông qua so sánh với các từ trong nhóm để
thấy những khác biệt trong dấu hiệu logic về vị trí, chức năng của sự vật được gọi tên (biểu vật).
Ta có thể hình dung một tập hợp các nghĩa tố của nghĩa nghĩa cũng tương tự như một tập hợp các
nét khu biệt của một âm vị vậy. Chỉ có điều ở đây, các nghĩa tố nằm trong tương quan giả định
lẫn nhau và thuyết minh cho nhau. Chúng quan hệ thứ tự, tôn tri trong tổ chức nghĩa. Ví dụ:
Trong nghĩa của từ "chân" vừa phân tích, ta có ba nghĩa tố gọi theo thứ tự là a. b. c.
Tuy nhiên, đó không phải là thứ tự thời gian, tuyến tính, mà thứ tự từ cái lớn đến cái nhỏ, từ cái
cần yếu nhất đến cái ít cần yếu hơn... Điều này được miêu tả lại trong từ điển như một "phổ" của
những lời giải nghĩa vậy.
Lúc đầu, chúng ta đã nói rằng một từ có thể đơn nghĩa hoặc đa nghĩa. Tính đa nghĩa của ngôn
ngữ ở cấp độ từ thể hiện qua từ đa nghĩa. Quan hệ đa nghĩa là một trong những dạng quan trọng
nhất thuộc các kiểu quan hệ ngữ nghĩa trong từ.
Có thể định nghĩa về từ đa nghĩa như sau: Từ đa nghĩa là những từ có một số nghĩa biểu thị
những đặc điểm, thuộc tính khác nhau của một đối tượng, hoặc biểu thị những đối tượng khác
nhau của thực tại.
Ví dụ: Động từ che trong tiếng Việt có hai nghĩa. Động từ ăn có 12 nghĩa... (Từ điển tiếng Việt.
Hà Nội, 1988). Chúng là các từ đa nghĩa.
Với tư cách là đơn vị định danh, từ đa nghĩa cho ta thấy rằng: Từ có thể di chuyển từ chỗ gọi tên
cho đối tượng này sang gọi tên cho đối tượng khác, từ chỗ có nghĩa này, có thể có thêm nghĩa
khác:

Từ →

Sự "di chuyển" đó có nguyên nhân ở nhận thức của người bản ngữ và tính chất tiết kiệm trong


ngôn ngữ. Hai nhân tố này tác động và ảnh hưởng lẫn nhau đã dẫn đến việc tạo lập từ đa nghĩa
của từ vựng. Các nghĩa của từ đa nghĩa được xây dựng và tổ chức theo những cách thức, trật tự
nhất định. Vì vậy, người ta cũng có thể phân loại chúng. Có nhiều cách phân loại, nhưng thường
gặp nhất là những cách phân loại quan trọng như sau:
1. Nghĩa gốc – Nghĩa phái sinh
Cách phân này dựa vào tiêu chí nguồn gốc của nghĩa.
Nghĩa gốc được hiểu là nghĩa đầu tiên hoặc nghĩa có trước, thường không giải thích được lý do,
có thể được nhận ra một cách độc lập, không cần thông qua nghĩa khác, trên cơ sở nghĩa đó mà
người ta xây dựng nên nghĩa khác. Ví dụ với từ chân:


(1) Bộ phận thân thể động vật ở phía dưới cùng, để đỡ thân thể đứng yên hoặc vận động rời chỗ;
Nghĩa 1 của từ chân ở đây là nghĩa gốc. Từ nghĩa 1 người ta xây dựng nên các nghĩa khác của từ
này bằng những con đường, cách thức khác nhau.
Nghĩa phái sinh là nghĩa được hình thành dựa trên cơ sở nghĩa gốc, và vì vậy chúng thường là
nghĩa có lí do, và được nhận ra qua nghĩa gốc của từ.
Ví dụ với từ chân:
(2) Cương vị, phận sự của một người với tư cách là thành viên của một tổ chức (có chân trong
ban quản trị).
Nghĩa 2 của từ chân vừa nêu là một ví dụ về nghĩa phái sinh.
2. Nghĩa tự do – Nghĩa hạn chế
Cách phân loại này một mặt dựa vào mối liên hệ giữa từ (với tư cách là tên gọi) với đối tượng,
mặt khác, là khả năng bộc lộ của nghĩa trong những hoàn cảnh khác nhau mà từ xuất hiện.
Nếu một nghĩa được bộc lộ trong mọi hoàn cảnh, không lệ thuộc vào một hoàn cảnh bắt buộc
nào, thì nghĩa đó được gọi là nghĩa tự do. Xét từ SẮT trong tiếng Việt, nó có nghĩa: Kim loại –
rắn, cứng – màu sáng – tỉ khối 7,88 – nóng chảy ở nhiệt độ 1535 0C. Nghĩa này là nghĩa tự do vì
được bộc lộ trong mọi hoàn cảnh: Giường sắt, Mua sắt, Có công mài sắt có ngày nên kim,...
Ngược lại, nếu một nghĩa chỉ được bộc lộ trong một (hoặc vài) hoàn cảnh bắt buộc thì nghĩa đó
được gọi là nghĩa hạn chế. Ví dụ: Ngoài nghĩa vừa nêu, từ SẮT còn bộc lộ nghĩa "Nghiêm ngặt,
cứng rắn, và buộc phải làm theo" trong hoàn cảnh hạn chế: kỉ luật sắt hoặc bàn tay sắt.
3. Nghĩa trực tiếp – Nghĩa gián tiếp
Hai loại nghĩa này được phân biệt dựa vào mối liên hệ định danh giữa từ với đối tượng.
Nếu một nghĩa trực tiếp phản ánh đối tượng, làm cho từ gọi tên sự vật một cách trực tiếp, thì
người ta gọi đó là nghĩa trực tiếp (hay còn gọi là nghĩa đen). Ví dụ: Nghĩa thứ nhất của từ chân
và từ sắt, như vừa nói ở trên, là những nghĩa trực tiếp.
Nếu một nghĩa gián tiếp phản ánh đối tượng, làm cho từ gọi tên sự vật một cách gián tiếp
(thường thông qua hình tượng hoặc nét đặc thù của nó), thì người ta bảo nghĩa đó là nghĩa
chuyển tiếp (hay còn gọi là nghĩa bóng).
Chẳng hạn, xét từ bụng trong tiếng Việt. Từ này có một nghĩa là ý nghĩ, tình cảm, tâm lí, ý chí
của con người. Nghĩa này là nghĩa chuyển tiếp (nghĩa bóng). Người Việt thường nói: Bụng bảo
dạ, Suy bụng ta ra bụng người, Con người tốt bụng,...Trong khi đó, nghĩa trực tiếp của từ bụng
phải là "Bộ phận cơ thể người, động vật, trong đó chứa ruột, dạ dày...". Ví dụ: Người ta vẫn nói:
Mổ bụng moi gan, Bụng mang dạ chửa, No bụng đói con mắt,...


4. Nghĩa thường trực – Nghĩa không thường trực
Cách phân loại này dựa vào tiêu chí: Nghĩa đang xét đã nằm trong cơ cấu chung ổn định của
nghĩa từ hay chưa.
Một nghĩa được coi là nghĩa thường trực, nếu nó đã đi vào cơ cấu chung ổn định của nghĩa từ và
được nhận thức một cách ổn định, như nhau trong các hoàn cảnh khác nhau.
Ví dụ: Các nghĩa đưa ra xét của các từ chân, bụng, sắt đã nêu bên trên, đều là nghĩa thường trực.
Chúng đã nằm trong cơ cấu nghĩa của các từ đó một cách rất ổn định, thường trực.
Ngược lại, nếu có một nghĩa bất chợt nảy sinh tại một hoàn cảnh nào đó trong quá trình sử dụng,
sáng tạo ngôn ngữ, nó chưa hề đi vào cơ cấu ổn định, vững chắc của nghĩa từ, thì nghĩa đó được
gọi là nghĩa không thường trực của từ. Loại nghĩa này cũng còn được gọi là nghĩa ngữ cảnh.
Ví dụ: Tên gọi áo trắng chỉ có nghĩa là thầy thuốc hoặc nhân viên y tế nói chung trong những
hoàn cảnh nói như sau:
Đây tôi sống những tháng ngày nhân hậu nhất
Mỗi mai hồng áo trắng đến thăm tôi.
(Chế Lan Viên)
Trong khi đó, áo trắng trong hoàn cảnh nói sau đây lại không phải vậy:
Tôi về xứ Huế chiều mưa
Em ơi áo trắng bây giờ ở đâu
(Nguyễn Duy)
Những cách phân loại trên chưa phải là toàn bộ sự phân loại nghĩa của từ, nhưng đó là những
cách phân loại quan trọng. Chúng sẽ được vận dụng như những tiêu chí cần thiết trong khi phân
tích để nhận diện, chia tách nghĩa của từ đa nghĩa cho hợp lí.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×