Tải bản đầy đủ

Cái tôi sử thi trong thơ kháng chiến chống mỹ và sự vượt qua những

Cái tôi sử thi trong thơ kháng chiến chống Mỹ và sự vượt qua những "ngập ngừng,
xao xuyến"
Lê Thị Bích Hồng
4

TVVHĐ - Bài tham gia Hội thảo văn học “Thơ hiện đại Việt Nam nhìn từ miền Trung”.
Cảm hứng sử thi

Trước yêu cầu của lịch sử, sử thi vẫn là yếu tố chủ đạo trong nền văn
học cách mạng, nhưng những năm cuối của cuộc kháng chiến chống Mỹ, trạng thái sử thi của đời
sống tinh thần xã hội vốn gắn với tính chất hào hùng của cuộc kháng chiến như “một môi trường
dẫn truyền và cộng hưởng cảm xúc”[1]Cái tôi sử thi vốn là âm hưởng chủ đạo của thơ chống
Mỹ không còn là loại hình thuần nhất và độc tôn sau khi đã hoàn tất sứ mệnh của nó với tư
cách là sự thể hiện đến đỉnh cao của tinh thần công dân và tính chiến đấu. cũng lắng dần.
Cảm hứng sử thi vẫn là nền tảng của các trường ca và nhiều bài thơ về đề tài chiến tranh chống
Mỹ, nhưng những trải nghiệm cá nhân của mỗi người làm thơ đã làm cho sự khái quát lịch sử có
được cái nhìn cụ thể, xác thực và thấm thía hơn. Giọng điệu cũng trầm lắng, hướng vào suy tư
chứ không còn cất lên ở âm vực cao đầy hào sảng hoặc bay bổng lãng mạn. Sự khẳng định dân
tộc, ngợi ca sức mạnh của nhân dân thường được thể hiện qua những mất mát, hy sinh, nỗi đau
thầm lặng của vô vàn con người và bao nhiêu số phận. Chân dung tinh thần của thế hệ trẻ đi qua
cuộc chiến tranh được tô đậm ở sự lựa chọn dấn thân tự nguyện đầy tỉnh táo chứ không còn là

niềm say mê, háo hức đầy chất lãng mạn như hồi đầu bước vào cuộc chiến tranh:
Chúng tôi đi không tiếc cuộc đời mình
Nhưng tuổi hai mươi làm sao không tiếc?
Nhưng ai cũng tiếc tuổi hai mươi thì còn chi Tổ quốc
(Những người đi tới biển - Thanh Thảo)
Tuổi trẻ biến trăm sông thành thác
Dập tắt lửa chiến tranh bằng máu đời mình
(Thu Bồn)
Các nhà thơ nói về niềm tự hào và niềm vui chiến thắng, nhưng còn nói nhiều hơn về những gian
lao, sự chịu đựng và hy sinh của nhân dân, của đồng đội để hôm nay dân tộc đến được cái đích


cuối cùng của cả một hành trình dài dặc. Trong các trường ca, nổi bật lên là hình tượng nhân dân,
vừa trong những hình ảnh khái quát, biểu tượng, vừa trong những chân dung cụ thể của nhiều
con người. Đó là người mẹ, người chị ở hậu phương, là người lính lái xe tăng, xạ thủ trung liên,
người lính đánh bộc phá trongĐường tới thành phố của Hữu Thỉnh:
- Mẹ xếp lại cho anh chồng sách cũ
Nhưng nhớ thương thì biết xếp vào đâu?
- Hai mươi năm chị tôi đi đò đầy
Cứ sợ đắm vì mình còn nhan sắc...
Một mình một mâm cơm
Ngồi bên nào cũng lệch
Chị chôn tuổi xuân trong má lúm đồng tiền.
- Dù chỉ gốc sim thôi dù chỉ gốc sim cằn
Anh ôm súng bò lên với trái tim tình nguyện.
Nhân dân trong trường ca Những người đi tới biển của Thanh Thảo là những ông Chín, thím Ba,
anh út... ở một vùng địa hình bám trụ, đó cũng còn là nhân dân trong những biểu tượng cao cả,
mang dáng vẻ kỳ vĩ của huyền thoại, nhưng lại hết sức giản dị, gần gũi:
- Khi các thần tiên đã an nghỉ cuối trời
Nhân dân tôi khởi lên tự phù sa vất vả
...
- Mồ hôi vã một trời sao trên đất
...
- Và cứ thế, nhân dân thường ít nói
Như mẹ tôi lặng lẽ suốt đời
Và cứ thế, nhân dân cao vòi vọi
Hơn cả những ngôi sao cô độc giữa trời
Chân dung thế hệ trẻ đã được khắc họa rất sinh động trong thơ trẻ thời kỳ kháng chiến chống
Mỹ, giờ đây tiếp tục được miêu tả phong phú hơn, sâu hơn ở cả những chi tiết, sự việc cụ thể của
những gian lao và hy sinh, và ở cả những suy tư trải nghiệm trong thế giới nội tâm tạo nên bức


chân dung tinh thần của họ:
- Tiểu đoàn thồ chẳng có gì thồ cả
Cứ đói ròng con gái hóa con trai
- Anh còn lại sau những ngày thay quân
Sau những lần hổ vồ


Sau những lần voi đuổi
Sau bữa canh nấm độc cào gan
Giặc đổ quân vào hậu cứ sư đoàn
Hất anh qua biên giới
Thèm một chỗ ngồi thư thả bóc măng
(Hữu Thỉnh - Đường tới thành phố)
- Để lại trong rừng những gì quý nhất
Mất mọi thứ để nhân dân không mất
(Phạm Tiến Duật - Đi trong rừng)
- Ngày sinh nhất bắt đầu bằng cơn sốt
Cổ đắng khô ngồi thở trên đỉnh dốc
Bạn mở bi đông nhường hớp nước cuối cùng
Hớp nước cuối cùng giữa cơn sốt đầu tiên
Ngày sinh nhất tuổi 25 mình được uống
(Thanh Thảo - Những người đi tới biển)
Cảm hứng sử thi cũng còn được tiếp tục khai thác trong những trường ca về lịch sử (Những ngọn
sóng mặt trời, Những nghĩa sĩ Cần Giuộc của Thanh Thảo), về đất nước trong cuộc hồi sinh và
xây dựng hôm nay (Sức bền của đất của Hữu Thỉnh, Trầm tích của Hoàng Trần Cương, Ba dan
khát của Thu Bồn).
Sự nhạt dần yếu tố sử thi
Cảm hứng chủ đạo trong nhiều tập thơ ra đời vào nửa cuối những năm 70 vẫn là cảm hứng sử thi
về cuộc kháng chiến chống Mỹ và chiến thắng của dân tộc, nhưng đã có nhiều nét mới từ cảm
hứng đến chất liệu và giọng điệu. Có “độ chênh” nhất định giữa cảm hứng ngợi ca và sự khắc
nghiệt của hiện thực đời sống sau chiến tranh. Dù thơ và cả nền văn học chống Mỹ không hề xa
rời vấn đề đất nước, đời sống xã hội, nhưng quan điểm tiếp cận đã có phần chuyển dịch theo cái
nhìn cá nhân. Có thể thấy một sự chuyển dịch thầm lặng, bền bỉ và cả sự “ngập ngừng”, phân
hoá trong cái tôi sử thi - vốn là âm hưởng chủ đạo của nền thơ chống Mỹ. Sự nở rộ của hàng loạt
trường ca do nhu cầu nội tại của thể loại trong những năm 80 của thập kỷ trước, cùng số tác
phẩm viết trong chiến tranh được công khai trước bạn đọc với cái nhìn trầm tĩnh có thể thấy yếu
tố phi sử thi “đậm dần trong sự vận động của thơ, trở thành tiếng nói đối thoại với sử thi” 1. Đó
chính là dấu hiệu dự báo về sự đổi mới căn bản về cả tư duy và thi pháp thơ, phần nào làm phong
phú diện mạo thơ, cái tôi trữ tình nhìn từ số phận con người cá nhân bấy lâu bị “khuất lấp”. Có
sự “giao thoa xao xuyến” giữa cái nhìn sử thi với các yếu tố thế sự, giữa giọng điệu cao vút với
giọng điệu trầm lắng, giữa lý tưởng với hiện thực, giữa không gian công cộng với không gian đời
tư, giữa khúc anh hùng ca và sắc màu bi tráng…


Bản chất của thơ trữ tình là sự ý thức về cái tôi, về giá trị bản thân, về quyền sống, quyền làm
người. Khát vọng bức thiết của con người là tự do cá nhân và dân chủ xã hội. Sự thức tỉnh nhu
cầu xã hội, nhu cầu của con người luôn là một đòi hỏi bức thiết và chính đáng. Song khi đất nước
có giặc ngoại xâm thì lợi ích của dân tộc và nhân dân hòa làm một, sự nghiệp giải phóng dân tộc
đồng thời là sự nghiệp giải phóng con người. Như một lẽ tự nhiên, văn học nói chung và thơ
chống Mỹ nói riêng đã ưu tiên đặt vấn đề tự do độc lập lên trên hết, vì lợi ích của Tổ quốc, vì
nhiều nhiệm vụ khác lớn hơn, cái tôi cá nhân tạm thời “nén lại”, lặng lẽ lùi lại bình diện sau và
vì thế “Cái tinh tế cỏ hoa tạm thời chưa nghĩ đến” (Chế Lan Viên).
Có thể thấy những dấu hiệu đổi mới này thể hiện trước hết ở lớp nhà thơ đứng ở mũi nhọn cuộc
chiến đấu, đối mặt với gian lao thử thách, trực tiếp xáp mặt với kẻ thù. Bên cạnh cái cao cả, anh
hùng, vĩ đại được phóng chiếu hết chiều kích vốn là thế mạnh của sử thi, cái tôi trữ tình tiềm ẩn
nhiều trăn trở, dằn vặt của con người trước sự chọn lựa: Sống - chết, được - mất, chiến thắng - hy
sinh… Con người được nhìn nhận từ nhiều bình diện, thơ nói nhiều hơn nỗi đau của con người
do chiến tranh, buồn vui một đời người trong cuộc sống, những nỗi niềm ẩn chứa bên trong chưa
dễ tỏ bày. Thực tiễn cuộc kháng chiến chống Mỹ tác động mạnh vào cảm xúc nhà thơ. Thơ
chống Mỹ có dáng dấp một dàn đồng ca, một dàn hợp xướng lớn bởi nó được sinh thành trong
một bối cảnh tinh thần đặc biệt của “Những năm đất nước có chung tâm hồn, có chung khuôn
mặt” (Chế Lan Viên), và khi nhà thơ “tự hát” thì cũng ý thức được:
Nhưng giọng anh đơn lẻ
Sánh sao bằng đồng ca
(Nhớ đồng ca, hát đồng ca-Phạm Tiến Duật)
Nhưng ngay trong dàn đồng ca ấy đã bắt đầu hé mở góc nhìn khác khá đa dạng và nhiều chiều về
cuộc sống qua các trường ca viết sau chiến tranh. Thu Bồn đóng góp Ba–dan khát (1977); Thanh
Thảo cùngNhững người đi tới biển (1977), Những ngọn sóng mặt trời, Đêm trên cát, Khối vuông
ru-bích; Trần Vũ Mai viết Ở làng Phước Hậu (1978), Hữu Thỉnh sáng tác Đường tới thành
phố (1979), Sức bền của đất, Trường ca biển; Nguyễn Đức Mậu chiêm nghiệm về cống hiến, hy
sinh của người lính trong Trường ca sư đoàn (1980), Trần Mạnh Hảo viết Mặt trời trong lòng
đất, Đất nước hình tia chớp; Trần Đăng Khoa mang đến Khúc hát người anh hùng)...
Thêm đó, sự “nhạt dần” cái tôi sử thi còn được thể hiện ở số những tác phẩm viết trong những
năm 70, 80 của thế kỷ trước, như tập “Cửa mở” của Việt Phương, bài thơ “Viết về số không” của
Phạm Tiến Duật, bài thơ “Sẹo đất” của Ngô Văn Phú từng gây nên những ý kiến không đồng
thuận. Đặc biệt các tập thơ của Lưu Quang Vũ, như :Mây trắng của đời tôi (1989), Bầy ong
trong đêm sâu (1993), Thơ tình Xuân Quỳnh - Lưu Quang Vũ (1994 ), Lưu Quang Vũ Thơ và
Đời(1997) và gần đây nhất tập thơ Gió tình yêu thổi trên đất nước tôi (2010) công khai trước bạn
đọc khi cuộc kháng chiến đã lùi xa.
Cái tôi cá nhân và những trăn trở về số phận con người
Cái tôi phi sử thi biểu hiện tập trung ở sự trăn trở về số phận con người và nỗi đau trong chiến
tranh. Vì thế, chưa chờ cuộc chiến tranh chống Mỹ kết thúc, chưa bước ra khỏi vầng hào quang
của cái tôi sử thi, tiếng nói tự ý thức về mình với khát vọng chân thực đã xuất hiện trong thơ,
tiềm ẩn như mạch nước ngầm.


Thơ kháng chiến chống Mỹ đã đề cập đến “mặt khuất lấp của con người”. So với thơ, cách thể
hiện của văn xuôi có nhiều ưu thế. Ngay từ giữa những năm chiến tranh chống Mỹ, nhà văn
Nguyễn Minh Châu đã nghĩ rằng cuộc chiến đấu cho quyền sống của mỗi con người sẽ còn lâu
dài và khó khăn hơn cả cuộc chiến đấu cho quyền sống của dân tộc. Sau khi cuộc chiến tranh kết
thúc, truyện ngắn Bức tranhphê phán và bác bỏ mạnh mẽ những luận điểm nhân danh cái chung,
mượn cớ lợi ích cộng đồng mà bỏ qua, thậm chí chà đạp lên nỗi đau khổ và số phận của mỗi cá
nhân”. Nói về số phận con người, thơ có cách thể hiện riêng. Nó không trực diện phân tích, mổ
xẻ mọi khía cạnh tâm lý con người như văn xuôi. Nhưng thơ có thế mạnh của riêng nó để nói
đến tận cùng những “trăn trở”, “dằn vặt”, “xót đau”. Hiện thực chiến tranh với đầy đủ sự khốc
liệt thể hiện qua số phận cá nhân và thế giới nội tâm phức tạp. Dấu ấn chiến tranh, ở môi trường
tiền tuyến hay hậu phương cũng đều chạm khắc lên số phận con người. Tư duy thơ chống Mỹ
vốn quen nói về con người đại diện cho phẩm chất, trí tuệ cộng đồng với lòng dũng cảm, xả thân
vì sự nghiệp hơn là những “con người bé bỏng” trong cõi nhân gian; ít nói tới mặt trái, thương
đau hơn ngợi ca, cổ vũ. Vượt khỏi khuynh hướng chung của cả nền thơ, một số nhà thơ có cái
nhìn khác, chất thơ khác so với các nhà thơ cùng thời trong sự tuyệt đối hoá cái đẹp, cái cao cả
thuộc về người anh hùng. Tuy không phải dòng chính, thơ đã tuôn những mạch ngầm từ các phụ
lưu, chi lưu. của ông ra đời cùng với thông điệp “
Sự nhạt dần yếu tố sử thi cũng được tiềm ẩn trong chiều sâu khôn cùng của con người. Bên cạnh
con người mang phẩm chất anh hùng, xả thân cho sự nghiệp giải phóng dân tộc - vốn là thế
mạnh trong cảm hứng sử thi, thì cũng đã xuất hiện (tuy chưa nhiều) sự đa dạng kiểu người. Phân
tách theo kiểu cơ học, con người là sự tổng hợp của hai phần: “con” và “người”, và trong thơ hai
chữ con người đã được đẩy tới những đối cực: “thánh thần và ác quỷ”, “cao thượng và thấp
hèn”, “thành thật và giả dối”... Tư duy hời chống Mỹ quen xây dựng hình ảnh kỳ vĩ “Hái mặt
trời hồng”, say với con người lý tưởng “Như khí phách Trần Lê, Như oai vũ Quang Trung” (Bài
ca xuân 68-Tố Hữu). Thơ nhấn mạnh “chất người” ở sự cao cả, phi thường. Nhưng bên
cạnh những hào quang chiến thắng, thơ kháng chiến chống Mỹ còn ẩn chứa muôn mặt đời
thường (cảnh nghèo nàn, sự thương đau, những thói xấu, các hiện tượng tiêu cực xã hội...).
Trong số những nhà thơ chống Mỹ ấy, Lưu Quang Vũ quá nhạy cảm để cảm nhận, hé mở một
cách nhìn khác về chiến tranh từ phía hậu phương. Thơ anh nói nhiều đến sự mất mát, chia lìa điều không dễ viết trong thời điểm ấy. Đó là bi kịch chiến tranh với “Những đứa bé nằm ngủ
trong mồ”, với người mẹ “bới gạch vụn tìm con” (Cầu nguyện) và bao người chết “vùi thân dưới
hố bom”, là “Khăn tang trắng xoá” - biểu trưng cho những mất mát khủng khiếp đã được Phạm
Tiến Duật thể hiện trong bài thơ Viết về số không (nhiều người vẫn quen gọi là Vòng trắng).
Đất nước hiện lên trong cảnh nghèo nàn:
“Tết hoà bình đầu tiên-Đất nước nghèo xơ xác”
(Nói với con cuối năm)
Những chi tiết gợi về một thời cả dân tộc thắt lưng buộc bụng chi viện cho chiến trường miền
Nam, mọi thứ đều thiếu thốn “Chăn rách, chiếu manh quần áo lạ” (Đêm Đông chí uống rượu
với bác Lâm và bác Khánh nói về những cuộc chia tay thời loạn), “Hoà bình đến mong manhNhiều tin đồn mà chẳng có gì ăn-Người đông, phố chật” (Liên tưởng tháng Hai), “Trời trong veo
dưới những vũng nước mưa-Người trên phố xếp hàng dài mua củi” (Viết lại một bài thơ Hà
Nội), “Thiếu ăn, thiếu mặc, thiếu nhà...Trẻ con thiếu nơi học hành dạy dỗ” (Viết lại một bài thơ
Hà Nội); khó khăn vây bủa hiện lên trên từng khuôn mặt “Quần áo và mặt người màu cỏ héo”


(Viết lại một bài thơ Hà Nội); nhiều cảnh đổ nát hiện lên “Cổng nhà thờ gạch vỡ” (Chiều cuối),
“Mưa ướt đầm trên gạch vỡ tan hoang” (Cầu nguyện).
Đi dọc con đường dân tộc từ thuở hồng hoang cho đến ngày chiến thắng, bài thơ “Đất nước đàn
bầu” hiện lên một Tổ quốc đau thương, nhọc nhằn, nghèo khó “Dân tộc tôi bốn ngàn năm áo
rách...Dân tộc trải xót xa nhiều nỗi khổ”, nhưng thấm đượm giá trị nhân văn “Phải thương nhau
mới sống được trên đời”. Thơ anh thoát ra khỏi ràng buộc của những quan niệm vốn định hình,
nói bằng giọng nói khác không ồn ã so với nhiều nhà thơ cùng thời viết về chiến tranh. Cảm
nhận về mất mát, bi thương xuất hiện trong thơ Lưu Quang Vũ khá sớm. Nhà thơ nói tới những
miền khuất lấp (điều nhạy cảm khó viết), ở sự khốc liệt, tàn phá của chiến tranh, ở số phận của
dân tộc, nhân dân từ nhiều góc nhìn hết sức nhân bản và cũng bằng chính trái tim nghệ sĩ rất mực
khắc khoải của anh. Những câu thơ trên được viết ra do nhu cầu thúc bách nội tâm của bản thân,
tuy không đại diện cho số đông lúc đó, nhưng nó là suy nghĩ, là nỗi lòng, là tâm trạng của con
người nhìn, cảm biết nỗi đau và nghịch cảnh của đồng loại. Điều ấy không dễ thấy trong thơ
những năm chiến tranh. Phải sau chiến tranh, các nhà thơ chống Mỹ mới thức nhận điều đó một
cách đầy đủ.
Nhạy cảm trước mọi biến thái của cuộc sống là phẩm chất người nghệ sĩ. Trong tập Cửa mở, nhà
thơ Việt Phương đưa vào thơ bao nỗi niềm, tâm sự còn ngổn ngang. Việc nhận ra phần “con” ẩn
chứa trong chất “người” không chỉ xuất hiện trong thơ Việt Phương, nhưng điều quan trọng, nhà
thơ đã viết và viết được (qua tập thơ từng gây nhiều tranh cãi đầu những năm 70 của thế kỷ
trước), lại ở thời điểm không dễ viết “Ta cứ nghĩ đồng chí rồi thì không ai xấu nữa-Trong hàng
ngũ ta chỉ có chỗ của yêu thương”. Nhà thơ đã đưa vào thơ cặp phạm trù đối lập về phẩm chất
người “Cao thượng người xấu xa người là thế-Lời của lòng và câu mẽ đầu môi” (Ta nhìn trời
đêm nay và ta đọc). Nhà thơ Việt Phương đã thể hiện một “kiểu người” thiếu chính kiến bản
thân, chịu sự chi phối nghiêm ngặt của cách nghĩ chung, nói và “nghĩ mượn” qua câu thơ khá táo
bạo:
Ta nhất quyết đồng hồ Liên xô tốt hơn đồng hồ Thuỵ Sĩ...
Mường tượng rằng trăng Trung Quốc tròn hơn trăng nước Mỹ
Nhà thơ luôn tự vấn lương tâm, thành thực với mình, gia tăng “chất người trong ta” bằng “cộng
sản thêm chút nữa” và hơn thế “Trút vỏ thần tượng đi càng lồng lộng chất người” (Cuộc đời yêu
như vợ của ta ơi).
Trong âm hưởng hùng ca, say sưa với hào quang chiến thắng, thơ chống Mỹ thường tránh nói nỗi
đau:
Đã có thời nỗi đau ta phải giấu
Ta đánh mất ta trong mỗi con người”
(Trương Nam Hương)
để
Những câu thơ chỉ dội tiếng ta cười
(Chế Lan Viên)


Hoặc nếu phải đối diện với hiện thực nghiệt ngã thì các nhà thơ vẫn cố gắng “xoa dịu” vết đau
bằng sức mạnh tinh thần:
Một tháng vã hành quân
Hai chân phồng rộp cả
Quấn băng rồi vẫn đau
Nhiều lúc đi bằng đầu
(Mùa xuân đi đón-Hữu Thỉnh)
Chung sức cùng đội ngũ văn nghệ sĩ, các nhạc sĩ cố gắng lấy “tiếng hát” để “át tiếng bom” và
“át cả thương đau”. Nhưng dù không động chạm nỗi đau, nhưng vết thương cố giấu vẫn âm ỉ,
sâu xoáy trong lòng, tự nó tràn trào. Mỗi thế hệ nhà thơ cảm nhận về nỗi đau riêng - chung theo
mạch đi riêng. Với nhà thơ lớp trước (Chế Lan Viên, Tố Hữu...), trước đó ít thấy bộc lộ nỗi đau
trong thơ, nhưng những năm cuối chiến tranh, điều khó viết ấy được đề cập một cách trực diện
và thấm thía:
Đau sóng nước muôn phương thân vạc, thân cò
...Khói thịt người làm mắt ta cay hơn khói đốt nhà
(Thơ bổ sung-Chế Lan Viên)
Tố Hữu cũng vậy, chưa thời điểm nào ông nói nhiều đến nỗi đau như tập thơ Máu và hoa: “máu
thắm trong lòng đất”, “Lá cờ này là máu, là da”, “đường qua máu chảy”, “Hôn nỗi đau tan nát
Phù Lai”... Nỗi đau ấy đã “chuyển hoá” một cách vật chất hơn, cụ thể hơn qua những con người
bằng xương, bằng thịt, chứ không còn là sự cắn răng chịu đựng, thách thức với cái chết của con
người ý chí - vốn phổ biến trong sáng tác trước đó của ông. Tố Hữu đã nói được phần nào nỗi
đau của dân tộc trong thơ là vậy.
Trong tập Cửa mở, nhà thơ Việt Phương dùng chữ “đau” để đa dạng những cung bậc của nó. Có
nỗi đau lớn mang hình vũ trụ “Nỗi đau trái đất” và lại có “nỗi đau trong mỗi cuộc đời”. Có “nỗi
đau qua đi rất nhanh”, nhưng cũng lại có “Nỗi đau thấm vào ta rất lâu” trải suốt “những đêm
dài nặng trĩu”. Có “nỗi đau mồ côi” và có cả những “nỗi đau sinh nở”. Có “Nỗi đau người” và
nối đau chuyển sang vạn vật vô tri... Trong đó, theo ông không có nỗi đau nào sánh được với
“nỗi đau người”. Nỗi đau ấy triền miên, tăng dần cấp độ :
Ta đau lắm những nỗi đau sinh nở
(Cuộc đời yêu như vợ của ta ơi)
Hơn nữa, nỗi đau “không sao chuyển thành niềm vui được” (Nỗi đau trái đất) khi nhà thơ cảm
nhận đầy đủ sự hy sinh vĩ đại của nhân dân “Máu ta chẳng thắm hồng và ta tìm thấy thước đo”
(Ta nhìn trời đêm nay và ta đọc), thấm thía niềm đau :
Thời gian trườn đi quằn quại
Ta uống một dòng đau nhói
Đau ngay trong cả nụ cười
(Cây sấu quê hương)


Cùng thế hệ các nhà thơ trẻ, Thanh Thảo đem đến tiếng thơ đầy ắp trăn trở, những suy ngẫm về
các cặp phạm trù đối lập giữa được - mất, sống - chết, chung - riêng, cá nhân - cộng đồng, gia
đình - Tổ quốc... Thơ anh nói nhiều chiến thắng, nhưng còn nói nhiều hơn mất mát, hy sinh “Mặt
nước trôi quê hương không còn nguyên vẹn”.
Ý thức về thế hệ, bên cạnh lòng tự hào còn có cả nỗi xót xa thấm thía :
Thằng bạn tôi dăm năm
Nhìn một ngôi sao trong hố bom nhoè nước
(Một người lính nói về thế hệ mình)
Thanh Thảo đã viết những câu thơ đầy ám ảnh về “tuổi thọ” của chiếc áo lính:
Những năm
Chiếc áo dính chặt vào thân bạc màu ngắn nhanh rồi rách
Những năm
Một chiếc áo có thể sống lâu hơn một cuộc đời
Rồi tới lúc chúng con thay áo khác
Nhưng khi cởi áo ra
Con không còn gì thay được!
(Những người đi tới biển)
Cảm thức cô đơn
Sự nhạt dần cảm hứng sử thi có thể thấy ở cảm thức cô đơn của cái tôi trữ tình trong thơ. Các
nhà thơ nữ (Xuân Quỳnh, Ý Nhi, Lâm Thị Mỹ Dạ, Dư Thị Hoàn…) là những người nhạy cảm
hơn cả với khát vọng hạnh phúc bình dị đời thường, với cả những lo âu, cô đơn trên hành trình
dài dặc kiếm tìm hạnh phúc:
Em lo âu trước xa tắp đời mình
Trái tim đập bao điều không thể nói
Trái tim đập cồn cào cơn đói
(Xuân Quỳnh)
Lưu Quang Vũ và không nhiều nhà thơ khác những năm cuối chiến tranh. Lưu Quang Vũ được
đông đảo công chúng mến mộ với tư cách nhà viết kịch và đặc biệt ở lĩnh vực thơ, anh đã có 12
tập thơ “nhuần chín”, trong đó nhiều tập đã hoàn chỉnh được nhà thơ đặt tên: Hương cây, Mây
trắng của đời tôi, Cỏ tóc tiên, Cuốn sách xếp lầm trang... và một số tập khác đang sắp xếp dở
dang, cần viết bổ sung. Ngoài nửa tập thơ: phần Hương cây (thơ in chung với Bằng Việt trong
tập Hương cây - Bếp lửa (1968) được bạn đọc yêu thích cùng những cái tên quen thuộc như
Bằng Việt, Nguyễn Mỹ, Lê Anh Xuân, Nguyễn Duy... ở vẻ tươi tắn, cách nhìn đời hồn hậu, lạc
quan chung của những người làm thơ trẻ hồi ấy, hầu như phần lớn thơ của anh chưa được in,


chưa công khai trước bạn đọc. Mãi đến thập kỷ 80, 90 của thế kỷ trước (sau khi anh qua đời 1988), các tập Mây trắng của đời tôi, Bầy ong trong đêm sâu, Thơ tình Xuân Quỳnh - Lưu
Quang Vũ và Lưu Quang Vũ Thơ và Đời mới được gia đình và bạn hữu sưu tập để xuất bản.
Thơ của anh qua từng mốc thời gian cuộc đời riêng gắn với những biến đổi, thăng trầm chung
của đất nước. Thời gian đầu thơ Lưu Quang Vũ giàu cảm xúc tinh tế, những rạo rực đầu đời tình bạn, tình yêu, tình quân dân, tình yêu quê hương đất nước... đan xen một cách ý vị bằng cảm
xúc trong trẻo, non tươi, man mác “Bồi hồi nghe hương bưởi, hương chanh” (Lá bưởi lá chanh).
Nhưng vào những năm 1971-1973 - khoảng thời gian diễn ra những bi kịch, khủng hoảng trong
cuộc đời riêng, thơ anh ngổn ngang những nỗi niềm tâm sự. Đây chính là thời điểm anh “ẩn
mình”, “rút ruột”, “vắt mình đến cùng kiệt” để viết nên những vần thơ trĩu nặng cảm thức cô
đơn. Anh viết chân thành - chân thành đến tàn nhẫn (chữ dùng của Vũ Quần Phương) cho riêng
mình, cho nhu cầu của bản thân nén chặt trong cả hai mươi bài thơ trong tập Cuốn sách xếp lầm
trang - tên một bài thơ cũng là tên của cả tập thơ hoàn chỉnh, đã chủ định đặt tên, nhưng hiện vẫn
ở dạng bản thảo của gia đình, chưa in trọn vẹn, mang rất nhiều “dằn vặt, nhiều nghĩ ngợi, có
phấn đấu và có cả thất vọng”[2]. Sự cô đơn đậm đặc, triền miên thường trực đã đi cùng Lưu
Quang Vũ trong suốt năm tháng không bình yên. Với anh, nỗi cô đơn là một trạng thái buở vây
từ cả hai phía: khách quan do hoàn cảnh bị động và chủ quan do cái tôi nhà thơ chủ động tách
mình ra khỏi sự đơn điệu, buồn tẻ, chọn con đường riêng cho mình: “Tôi chán cả bạn bè” vì
họ “chẳng nói được câu gì mới” ; “Tôi bỏ ra đi” và “họ ngồi ở lại ; cuối cùng chỉ một mình nhà
thơ trong “phố vắng ban đêm” (Có những lúc). Anh đã cô đơn ngay trên con đường mình chọn
“Anh là con ong bay giữa trời lận đận-Trời đêm dài chẳng có một ngôi sao” (Bầy ong trong
đêm sâu). Chọn cô đơn, nghĩa là nhà thơ đã chọn đề tài vốn là “cấm kỵ” trong thời điểm cả dân
tộc tập trung sức mạnh cộng đồng.
Anh thấy mình là người lính cô đơn giữa đồng đội “cô đơn giữa trung đoàn...Nỗi cô đơn hoàn
toàn, nỗi cô đơn khủng khiếp” (Mấy đoạn thơ). Quá nhạy cảm khiến anh nhận ra sự cô đơn của
những người xung quanh khi chính họ không cảm biết được “Những lá thư không biết gửi về
đâu-Những hải cảng không có tàu cập bến” (Lá thư). Là một công dân, anh tự thấy mình cô đơn
giữa xã hội “Anh bỏ hồ trong, bỏ vườn cây mát-Đi tìm chân trời nhưng chỉ thấy cô đơn” (Những
ngày chưa có em); lạc lõng giữa bạn bè “Mặt tôi âm u như rừng rậm-Nghe em cười giữa bè bạn
đông vui” (Có những lúc); lẻ loi giữa lớp học ồn ào; đổ vỡ trong tình yêu đôi lứa; xa lạ ngay bên
cạnh những người ruột thịt thân yêu “Tôi là đứa con cô đơn ngay khi ngồi cạnh mẹ”... Điều đáng
sợ nhất không chỉ bạn bè, tình yêu chối từ “Em sập cửa lại rồi, một mình “nhận bao cái tát”
(Mấy đoạn thơ), mà thơ – nơi anh ký thác nhiều nhất nỗi niềm của mình vẫn nằm yên trong bản
thảo, bạn đọc không ai khác là mình “Khi những bài thơ anh viết ra-Chỉ một mình anh đọc”
(Nếu đó là tội lỗi).
Bên cạnh giọng điệu chung phấn khởi tự hào, cổ động cho đánh giặc chi phối bởi tinh thần sử
thi, thì những bài thơ, tập thơ này quả có “lạc điệu”, khó có chỗ đứng trong lòng bạn đọc vào
chính thời điểm nó ra đời.
Thơ chống Mỹ không chỉ đề cập nỗi đau với ý nghĩa nằm ngoài nỗi đau khi tinh thần sử thi vẫn
chiếm giữ vị trí chủ đạo, mà còn thể hiện nỗi đau được ý thức như một tổn thất không dễ gì bù
đắp của con người vật chất, con người trần thế không chịu áp lực sử thi, trở về với cái tôi nhân
bản. Thơ đã góp một thành tựu trong việc thể hiện con người, khát vọng con người từ cái nhìn
phi sử thi. Đặt mục đích ưu tiên cho lợi ích cộng đồng, dù cái tôi nhìn từ số phận cá nhân chưa


phải là vấn đề cần được quan tâm, song nó đã có chỗ đứng ở ngay trong cuộc chiến đấu chống kẻ
thù xâm lược.
Nền tảng tư tưởng và cảm hứng chủ đạo bao trùm của nền văn học sau năm 1975
Sau chiến tranh, con người trở về với cuộc sống đời thường, cũng có nghĩa là trở lại với các quan
hệ thế sự trong cuộc sống thường nhật nhiều bộn bề lo toan, với những khát vọng về hạnh phúc
và cả những trăn trở lựa chọn về cách sống. Nguyễn Duy qua hình ảnh vầng trăng "im phăng
phắc" giữa thành phố đầy "bóng điện, cửa gương" để nhắc nhở về sự thủy chung với nhân dân,
đất nước, với những tháng năm gian lao vừa đi qua (Ánh trăng). Chế Lan Viên trong Hoa trên
đá đã ý thức rõ rệt về nhu cầu chuyển giọng của thơ:
Bao năm hát giọng cao, giờ anh hát giọng trầm
Chiến tranh đã đi qua, sau niềm vui ngây ngất của chiến thắng, hòa bình, con người trở về với
đời thường, phải đối diện ngay với bao khó khăn, phức tạp bộn bề và cả những ngang trái, bất
công ngày càng nặng nề. Cái mặt trận mới không có tiếng súng nhưng không hề kém phần gay
gắt, dữ dội, là một thử thách không hề dễ dàng với nhân cách và bản lĩnh của mỗi người. Nhiều
bài thơ, từ khoảng 1980 trở đi, đã không ngần ngại đối diện và phơi bày tình trạng xã hội và
trạng thái nhân thế với nhiều mặt trái vốn trước đó thường bị che khuất. Người lính trở về sau
mười năm chiến tranh, gặp cơn mưa ngoài trời và cả trong căn nhà mái dột lỗ chỗ: "Chỗ nằm chỉ
còn đủ độ dài hai chiếc cột, chiều rộng bằng khuôn chiếc tăng". Những lỗ thủng ấy cũng là
những viên đạn mà hôm nay người lính phải hứng chịu:
Những sợi nắng xuyên qua nhà mình
Thành những mũi tên
Thành những viên đạn
Bắn tiếp vào anh không gì che chắn
Phải nhận tất cả,
Vẫn anh
(Phùng Khắc Bắc - Ngày hòa bình đầu tiên)
Nguyễn Duy khi Nhìn từ xa... Tổ quốc, đau xót và thẳng thắn chỉ ra những nghịch cảnh của đất
nước trong thời kỳ khủng hoảng trầm trọng sau chiến tranh:
Xứ sở phì nhiêu sao thật lắm ăn mày
...
Xứ sở từ bi sao thật lắm thứ ma
Ma quái - ma cô - ma tà - ma mãnh...
Quỷ nhập tràng xiêu vẹo những hình hài
...
Xứ sở thông minh


Sao thật lắm trẻ con thất học
Lắm ngôi trường xơ xác đến tang thương
Tuổi thơ oằn vai mồ hôi nước mắt
Tuổi thơ còng lưng xuống chiếc bơm xe đạp
Tuổi thơ bay như lá ngã tư đường
Hướng vào đời sống thế sự và chiêm nghiệm về nhân sinh, phần lớn các nhà thơ đều đã mất đi
cái cảm giác bình yên mà thay vào đấy là nỗi âu lo, nỗi buồn nhân thế. Mối quan hệ giữa người
với người, giữa cá nhân và xã hội trong một hoàn cảnh mới đã đổi khác rất nhiều so với thời
chiến tranh. Khi ý thức cá nhân được trỗi dậy mạnh mẽ thì cũng là lúc các quan hệ cộng đồng trở
nên lỏng lẻo, phai nhạt. Cô đơn dường như thành cảm giác thường trực trong thơ, ngay cả trong
thi đề tình yêu.
Em chết trong nỗi buồn
Chết như trong giọt sương
...
Em chết trong nỗi buồn
Chết lặng thầm âm ỉ đớn đau
Trời cho em nụ cười thật tươi
Ai biết sau nụ cười
Giọt nước mắt về đâu!?
(Lâm Thị Mỹ Dạ - Tặng nỗi buồn riêng)
Còn đây là nỗi xót xa của hai nửa vầng trăng chẳng thể nào đến được sự viên mãn tròn đầy:
Ơi vầng trăng theo con nước đầy vơi
Trăng say đắm dào trên cỏ ướt
Trăng đầu tháng như đời anh chẳng thể nào khác được
Trăng cuối tháng như đời anh hao khuyết
Em đã khóc
Trăng từng giọt tan vào anh mặn chát
Em đã khóc
Nhưng làm sao tới được
Bến bờ anh tim dội sóng không cùng
(Hoàng Hữu - Hai nửa vầng trăng)


Tố Hữu, nhà thơ cách mạng từng cất cao tiếng hát hào sảng trong dàn đồng ca thơ thời chống
Mỹ, nay cũng muốn trở về với tiếng nói tâm tình hướng nội, với sự chiêm nghiệm về thế sự,
nhân tình:
Mới bình minh đó đã hoàng hôn
Đang nụ cười tươi, bỗng lệ tuôn
Đời thường sớm nắng chiều mưa vậy
Khuấy động lòng ta biết mấy buồn
(Một tiếng đờn)
Đối với nhiều nhà thơ, chặng đường thơ sau 1975 là hành trình tìm lại chính mình, nhà thơ hiện
ra như "Người đi tìm mặt" (Hoàng Hưng). Chế Lan Viên trở lại với câu hỏi day dứt: Ta là ai? Cái
câu hỏi mà một thời tưởng chừng nhà thơ đã rũ bỏ nó được. Mượn hình ảnh biểu tượng tháp
Bay-on bốn mặt, nhà thơ muốn bộc lộ những phía bị khuất lấp bấy lâu nay của khuôn mặt bên
trong của mình. Bài thơ như một lời tự thú:
Anh là tháp Bay-on bốn mặt
Giấu đi ba, còn lại đấy là anh
Chỉ mặt đó mà nghìn trò cười khóc
Làm đau ba mặt kia trong cõi ẩn hình
(Tháp Bay-on bốn mặt)
Ở xu hướng trở về với đời sống thế sự và đời tư, thơ sau 1975 đã khẳng định được vị trí của nó
trong đời sống tinh thần của xã hội và đã có được những gương mặt thơ, những bài thơ lưu giữ
được trong tâm trí của công chúng. Một số nhà thơ kiên trì và thủy chung với định hướng đã
chọn, đưa thơ về với cuộc đời giữa muôn cái xô bồ, hỗn tạp, bụi bặm mà vẫn không đánh mất
mình. Nguyễn Duy và hành trình thơ của anh từ sau 1975 là một trường hợp như thế. Vừa đưa
vào thơ mình cả bụi bặm, phồn tạp của cuộc sống nơi đô thị, nhưng vẫn chắt lọc được những giá
trị bền vững từ những nguồn sâu xa của đời sống dân dã và cả những vẻ đẹp mong manh, thoáng
qua chưa phải đã mất hết. Mượn truyện "cơm bụi", nhà thơ bày tỏ quan niệm của mình:
Đừng chê anh khoái bụi đời
Bụi dân sinh ấy bụi người đấy em
Xin nghe anh nói cực nghiêm
Linh hồn cát bụi ở miền trong veo
(Cơm bụi ca)
Xuân Quỳnh ngày từ khi đến với thơ đã bộc lộ rõ cá tính tâm hồn mình: vừa sôi nổi, vừa tha
thiết, chân thành. Thơ Xuân Quỳnh, nhất là từ sau 1975, là tự bạch của một tâm hồn luôn khao
khát hạnh phúc đời thường. Xuân Quỳnh cứ phơi trải những đam mê, những lo âu, niềm vui và
nỗi buồn trong cuộc sống thường nhật của một người phụ nữ lên những trang thơ. Chính vì thế
mà thơ của chị lại nhận được rất nhiều sự đồng cảm chia sẻ của bạn đọc, nhất là bạn đọc cùng
giới. Khát khao tình yêu, hạnh phúc, lại cũng hiểu rằng những điều đó đâu là vĩnh viễn: "Hôm


nay yêu mai có thể xa rồi". Nhưng chính vì thế mà niềm khát khao ấy lại càng da diết và thành
thực, xen lẫn sự lo âu về những đổi thay biến suy của đời người và lòng người:
Lời yêu mỏng mảnh như màu khói
Ai biết tình anh có đổi thay?
(Hoa cỏ may)
Trái tim phụ nữ ấy muốn được thành thực với mình, thành thực là mình:
Em trở về đúng nghĩa trái tim em
Là máu thịt đời thường ai chẳng có
Vẫn ngừng đập khi cuộc đời không còn nữa
Nhưng biết yêu anh cả khi chết đi rồi
(Tự hát)
Với thế hệ các nhà thơ trẻ xuất hiện cuối những năm 90, ý thức cá nhân càng được đề cao và mài
sắc. Họ muốn phơi bày con người thực của mình, chống lại mọi thứ khuôn phép, lề thói có sẵn,
thậm chí cả những quan niệm phổ biến về thi ca, về đạo đức. Vi Thùy Linh khẳng định như một
tuyên ngôn:
Tôi là tôi
Một bản thể đầy mâu thuẫn
Tôi đã nhìn mình trong gương cả khi khóc khi cười
Bất cứ lúc nào, trên sân khấu cuộc đời
Tôi vẫn là diễn viên tồi
Bởi tôi không bao giờ hóa trang để nhập vai người khác
(Tôi)
Bằng cái nhìn tỉnh táo và ý thức trách nhiệm, thơ đã không né tránh những sự thật đau lòng,
những bất công ngang trái và cả những trì trệ ngủ yên trong lối mòn tự mãn. Sự tự vấn, tự thú,
thức tỉnh trở thành một xu hướng ở nhiều bài thơ, khi nhà thơ đối diện với hiện thực bằng tinh
thần nhìn thẳng vào sự thật, nói rõ sự thật, nhất là khi không khí dân chủ đã được mở ra cùng với
công cuộc đổi mới. Chế Lan Viên xót xa nhìn lại mình và thơ mình ở giai đoạn trước:
Đã lâu tôi không nghe hồn lau gọi nữa
Xa tiếng gió xạc xào
Xa mùi bùn, mùi trâu, rơm rạ…
Chỉ nghe danh vọng ầm ào
Vinh quang xí xố
Hoa Lư ở đâu?


Hoa Lau ở đâu?
Hồn Lau ở đâu?
Hồn ta ở đâu?
(Cờ lau Đinh Bộ Lĩnh)
Trương Nam Hương thì Tạ lỗi cánh đồng:
Tôi ăn bao hạt mồ hôi
Mà sao thơ chẳng mặn mòi bao nhiêu
Cứ như nước ốc ao bèo
Thơ tôi ngại nói cái điều mẹ mong
Nhớ về cuộc đời đầy vất vả cay cực của bà ngoại, Nguyễn Duy ân hận:
Khi tôi biết thương bà thì đã muộn
Bà chỉ còn là một nấm cỏ thôi
(Đò Lèn)
Cảm hứng hào hùng và bi tráng khi nói về đất nước, nhân dân, về thế hệ trẻ trong chiến tranh đã
nhường chỗ dần cho những cảm xúc đượm nỗi buồn, nỗi xót xa hay sự hoài nghi. Thơ nói nhiều
đến nỗi buồn - buồn nhân thế - buồn thân thế và cả nỗi buồn trước sự bất lực của thơ ca và vị thế
mới của nó - nói như Chế Lan Viên:
Giờ là lúc xe cúp, tivi, phim màu ngũ sắc
Vị trí nhà thơ như rác đổ thùng
Tuy đã có không ít người làm thơ tỏ ra chới với, không bắt kịp được với bước chuyển của cuộc
sống, không tìm được giọng điệu phù hợp với thời đại, nhưng cũng có không ít nhà thơ bằng
mẫn cảm nghệ sĩ đã tìm được những hướng đi mới, giọng điệu mới.
Công cuộc đổi mới toàn diện đất nước đã thúc đẩy tinh thần dân chủ và sự phát triển mạnh mẽ ý
thức cá nhân trong văn học. Thơ ở thời kỳ này thể hiện khát vọng đào sâu vào bản ngã, vào con
người bên trong con người, đặc biệt là thế giới tâm linh, những vùng mờ của tiềm thức, vô thức,
cũng trong tinh thần dân chủ ấy mà nhiều xu hướng thơ được nảy nở, nhiều thể nghiệm mạnh
bạo được ra mắt công chúng. Quan niệm thơ có nhiều biến đổi và ý thức cách tân thơ ngày càng
mạnh mẽ. Khởi động cho những cách tân này lại là một số nhà thơ thuộc các thế hệ trước 1975.
Sự xuất hiện một số tập thơ (mà nhiều bài trong đó được viết từ trước 1975) của Hoàng Cầm ( Về
Kinh Bắc, Mưa Thuận Thành), Lê Đạt (Bóng chữ), Trần Dần (Cổng tỉnh, mùa sạch, Jờ joạc) rồi
Dương Tường, Đặng Đình Hưng, Hoàng Hưng... đã đem lại nhiều cái mới từ quan niệm đến sự
thể nghiệm trên văn bản những xu hướng hiện đại trong thơ , từ bóng dáng siêu thực đến thứ
"thợ vụt hiện", thơ như trò chơi của ngôn từ...
Ở nửa đầu thập niên 90, những tìm tòi cách tân này đã tạo ra sự phản ứng rất khác nhau trong
giới sáng tác và công chúng, có cả những cuộc tranh luận gay gắt. Nhưng dù thế nào thì cũng
phải thấy tác động tích cực của những hướng tìm tòi này: nó đưa đến những quan niệm mới về


thơ, cùng những khuynh hướng mới, kích thích sự tìm tòi, thể nghiệm của nhiều nhà thơ, đặc biệt
là của thế hệ xuất hiện từ thời kỳ đổi mới.
Khi yếu tố sử thi nhạt dần, cái tôi trữ tình thiếu đi chất tráng ca, nhưng bù lại nó đã tìm thấy tiếng
nói khác đầy ắp tâm trạng, nỗi trăn trở, sự day dứt, lo âu đầy trách nhiệm về chiến tranh vệ quốc,
về hy sinh, mất mát, về nhu cầu, khát vọng của con người. Văn học hé mở khát vọng bức thiết,
đòi hỏi quan tâm đến mỗi số phận cá nhân. Mối quan tâm cộng đồng đã nhường chỗ cho số phận
cá nhân. Đó chính là cơ sở để thức tỉnh ý thức cá nhân và tinh thần nhân bản sẽ trở thành nền
tảng tư tưởng và cảm hứng chủ đạo bao trùm của nền văn học sau năm 1975.
TS. Lê Thị Bích Hồng
Phó Vụ trưởng Vụ Văn hóa - Văn nghệ
________________________
[1] Vũ Tuấn Anh (1997), Nửa thế kỷ thơ Việt Nam. NXB Khoa học Xã hội. Hà Nội.
[2] Lưu Khánh Thơ (Biên soạn) (1997), Lưu Quang Vũ Thơ và đời. Nxb Văn học, Hà Nội.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×