Tải bản đầy đủ

Kiểm sát việc áp dụng biện pháp ngăn chặn bắt người trong trường hợp khẩn cấp trong tố tụng hình sự việt nam (trên cơ sở thực tiễn địa bàn tỉnh hà tĩnh)

I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT

NGUYN VN THNH

Kiểm sát việc áp dụng biện pháp ngăn chặn bắt ng-ời
trong tr-ờng hợp khẩn cấp trong tố tụng hình sự Việt Nam
(Trên cơ sở thực tiễn địa bàn tỉnh Hà Tĩnh)

LUN VN THC S LUT HC

H NI - 2017


I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT

NGUYN VN THNH

Kiểm sát việc áp dụng biện pháp ngăn chặn bắt ng-ời
trong tr-ờng hợp khẩn cấp trong tố tụng hình sự Việt Nam

(Trên cơ sở thực tiễn địa bàn tỉnh Hà Tĩnh)
Chuyờn ngnh: Lut hỡnh s v t tng hỡnh s
Mó s: 60 38 01 04

LUN VN THC S LUT HC

Ngi hng dn khoa hc: TS. PHM MNH HNG

H NI - 2017


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của
riêng tôi. Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong
bất kỳ công trình nào khác. Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong
Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực. Tôi đã
hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ
tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội.
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để
tôi có thể bảo vệ Luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!

NGƯỜI CAM ĐOAN

Nguyễn Văn Thành


MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các từ viết tắt
Danh mục các bảng
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ KIỂM SÁT VIỆC ÁP
DỤNG BIỆN PHÁP NGĂN CHẶN BẮT NGƯỜI TRONG
TRƯỜNG HỢP KHẨN CẤP ............................................................ 8
1.1.


Những vấn đề chung về bắt người trong trường hợp khẩn cấp ........ 8

1.1.1. Khái niệm biện pháp ngăn chặn bắt người trong trường hợp
khẩn cấp ............................................................................................... 8
1.1.2. Đặc điểm của việc bắt người trong trường hợp khẩn cấp .................. 16
1.2.

Những vấn đề chung về kiểm sát việc áp dụng biện pháp
ngăn chặn bắt người trong trường hợp khẩn cấp ......................... 18

1.2.1. Khái niệm kiểm sát việc áp dụng biện pháp ngăn chặn bắt người
trong trường hợp khẩn cấp .................................................................. 18
1.2.2. Đối tượng và phạm vi kiểm sát việc áp dụng biện pháp ngăn
chặn bắt người trong trường hợp khẩn cấp ......................................... 24
1.3.

Vai trò và ý nghĩa của hoạt động kiểm sát việc áp dụng biện
pháp ngăn chặn bắt người trong trường hợp khẩn cấp của
Viện kiểm sát ..................................................................................... 27

1.4.

Mối quan hệ giữa hoạt động thực hành quyền công tố và
kiểm sát việc áp dụng biện pháp ngăn chặn bắt người trong
trường hợp khẩn cấp của Viện kiểm sát ........................................ 28


Chương 2: CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ KIỂM SÁT
VIỆC ÁP DỤNG BIỆN PHÁP NGĂN CHẶN BẮT NGƯỜI
TRONG TRƯỜNG HỢP KHẨN CẤP VÀ THỰC TIỄN ÁP
DỤNG TẠI TỈNH HÀ TĨNH ........................................................... 34
2.1.

Khái quát quy định của pháp luật tố tụng hình sự trước năm
2003 về kiểm sát việc áp dụng biện pháp ngăn chặn bắt người
trong trường hợp khẩn cấp ............................................................... 34

2.1.1. Giai đoạn từ năm 1960 đến trước khi có Bộ luật tố tụng hình sự
năm 1988 ............................................................................................ 34
2.1.2. Giai đoạn từ năm 1988 đến trước khi có Bộ luật tố tụng hình sự
năm 2003 ............................................................................................ 37
2.2.

Quy định của Bộ luật tố tụng hình sự 2003 về kiểm sát việc
áp dụng biện pháp ngăn chặn bắt người trong trường hợp
khẩn cấp ............................................................................................. 39

2.2.1. Quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát trong kiểm
sát áp dụng biện pháp ngăn chặn ........................................................ 39
2.2.2. Kiểm sát việc tuân thủ quy định về căn cứ áp dụng biện pháp bắt
người trong trường hợp khẩn cấp ....................................................... 41
2.2.3. Kiểm sát việc tuân thủ các quy định của pháp luật về thẩm quyền
áp dụng ................................................................................................ 50
2.2.4. Kiểm sát việc tuân thủ các quy định của pháp luật về trình tự,
thủ tục áp dụng.................................................................................... 52
2.3.

Thực tiễn kiểm sát việc áp dụng biện pháp bắt người trong
trường hợp khẩn cấp ........................................................................ 54

2.3.1. Khái quát về tình hình kinh tế, xã hội tỉnh Hà Tĩnh và cơ cấu tổ
chức, hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh................ 54
2.3.2. Những kết quả đạt được trong hoạt động kiểm sát việc áp dụng
biện pháp ngăn chặn bắt khẩn cấp trên địa bàn Hà Tĩnh và những
hạn chế, tồn tại .................................................................................... 57
2.3.3. Nguyên nhân của những hạn chế, tồn tại............................................ 67


Chương 3: HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ CÁC GIẢI PHÁP KHÁC
NÂNG CAO HIỆU QUẢ KIỂM SÁT VIỆC ÁP DỤNG BIỆN
PHÁP BẮT NGƯỜI TRONG TRƯỜNG HỢP KHẨN CẤP ........... 72
3.1.

Hoàn thiện pháp luật ........................................................................ 72

3.1.1. Những nội dung mới của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 về
kiểm sát việc áp dụng biện pháp ngăn chặn bắt khẩn cấp .................. 72
3.1.2. Tiếp tục hoàn thiện các quy định về kiểm sát việc áp dụng biện
pháp bắt người trong trường hợp khẩn cấp ........................................ 76
3.2.

Các giải pháp khác nâng cao hiệu quả kiểm sát việc áp dụng
biện pháp bắt người trong trường hợp khẩn cấp .......................... 80

3.2.1. Tăng cường hoạt động chỉ đạo nghiệp vụ của Viện kiểm sát nhân
dân cấp trên ......................................................................................... 80
3.2.2. Tăng cường trình độ chuyên môn và ý thức trách nhiệm, đạo đức
nghề nghiệp của cán bộ kiểm sát .......................................................... 82
3.2.3. Đẩy mạnh quan hệ phối hợp giữa Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát .... 85
3.2.4. Nâng cao cơ sở vật chất, trang thiết bị làm việc và đổi mới chính
sách, chế độ đối với cán bộ kiểm sát .................................................... 85
KẾT LUẬN .................................................................................................... 87
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ..................................................... 90


DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BLHS:

Bộ luật hình sự

BLTTHS:

Bộ luật tố tụng hình sự

BPNC:

Biện pháp ngăn chặn

CQĐT:

Cơ quan điều tra

THQCT:

Thực hành quyền công tố

TTHS:

Tố tụng hình sự

TTPL:

Tuân theo pháp luật

VKS:

Viện kiểm sát

VKSND:

Viện kiểm sát nhân dân

VKSNDTC:

Viện kiểm sát nhân dân tối cao

XHCN:

Xã hội chủ nghĩa


DANH MỤC CÁC BẢNG

Số hiệu

Tên bảng

Trang

Bảng 2.1. Số liệu thụ lý án hình sự trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh từ
năm 2012 đến 2016

57

Bảng 2.2. Kết quả điều tra, truy tố, xét xử các vụ án hình sự trên
địa bàn tỉnh Hà Tĩnh trong giai đoạn 2012 - 2016

58

Bảng 2.3. Tình hình áp dụng biện pháp ngăn chặn bắt người
trong các vụ án hình sự từ năm 2012 đến năm 2016

59

Bảng 2.4. Tình hình Viện kiểm sát không phê chuẩn lệnh bắt
khẩn cấp của Cơ quan điều tra trên địa tỉnh Hà Tĩnh
giai đoạn 2012 – 2016

61


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong hệ thống các biện pháp cưỡng chế tố tụng hình sự (TTHS) thì
các biện pháp ngăn chặn (BPNC) chiếm vị trí đặc biệt quan trọng. Bởi lẽ các
BPNC nhằm giúp cơ quan tiến hành tố tụng có các điều kiện thuận lợi để giải
quyết các vụ việc, ngăn chặn kịp thời các hành vi phạm tội đang chuẩn bị thực
hiện hoặc đang xảy ra, góp phần đắc lực cho việc phát hiện và xử lý kịp thời
các hành vi phạm tội. Trong số các BPNC, thì bắt, tạm giữ, tạm giam là
những biện pháp mang tính cưỡng chế rất nghiêm khắc. Nếu bắt, giam, giữ
oan, sai sẽ xâm phạm đến quyền tự do dân chủ của công dân và các quyền, lợi
ích hợp pháp của con người được pháp luật bảo hộ. Ngược lại, không bắt,
giam, giữ người phạm tội để những người đó vẫn tự do ngoài vòng pháp luật,
tiếp tục gây án hoặc trốn tránh... gây khó khăn cho việc điều tra, xử lý vụ án
cũng là làm thiệt hại đến quyền lợi của con người, của cộng đồng, làm giảm
lòng tin của nhân dân đối với Nhà nước.
Trong các biện pháp ngăn chặn, thì biện pháp ngăn chặn bắt người là
biện pháp thường được áp dụng, nhưng cũng có thể làm hạn chế tới quyền tự
do của con người. Do đó, hoạt động bắt người luôn là vấn đề nhạy cảm trong
đời sống chính trị, xã hội vì bắt người đúng hay không đúng các quy định của
pháp luật có liên quan và ảnh hưởng đến quyền con người, quyền công dân:
Quyền bất khả xâm phạm về thân thể. Do đó, vấn đề bắt người quy định trong
tố tụng hình sự (TTHS) luôn đòi hỏi phải đảm bảo tính chặt chẽ, để có căn cứ
theo quy định của pháp luật.
Theo Hiến pháp 2013, Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) là cơ quan
thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp. Hoạt động của VKSND
nhằm bảo vệ Hiến pháp và pháp luật, bảo vệ quyền con người, quyền công

1


dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và
lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, góp phần bảo đảm pháp luật được chấp
hành nghiêm chỉnh và thống nhất. Chính vì vậy, VKSND có vai trò quan
trọng trong hoạt động tố tụng hình sự, trong đó một trong hai chức năng quan
trọng của VKS trong tố tụng hình sự là kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong
hoạt động TTHS, đảm bảo mọi hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án
hình sự đều tuân thủ đúng các quy định của pháp luật. Trong hoạt động áp
dụng biện pháp ngăn chặn nói chung và áp dụng biện pháp ngăn chặn bắt
người trong trường hợp khẩn cấp nói riêng VKSND có nhiệm vụ quyền hạn
mang tính riêng biệt, điều này thể hiện ở việc, VKSND vừa là cơ quan có
thẩm quyền trực tiếp áp dụng các biện pháp này, vừa là cơ quan kiểm sát việc
áp dụng các biện pháp ngăn chặn của các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố
tụng khác. Hoạt động kiểm sát việc áp dụng biện pháp ngăn chặn bắt người
trong trường hợp khẩn cấp của VKSND nhằm đảm bảo mọi trường hợp áp
dụng biện pháp này đều tuân thủ các quy định của pháp luật, tránh tình trạng
lạm dụng, áp dụng tùy tiện, thiếu căn cứ, điều kiện, sai về trình tự, thủ tục…
Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 quy định về biện pháp ngăn chặn
bắt người trong trường hợp khẩn cấp tại Điều 81, với 3 trường hợp các cơ
quan tiến hành tố tụng được áp dụng biện pháp bắt người trong trường hợp
khẩn cấp nhằm ngăn chặn người phạm tội tiếp tục thực hiện tội phạm hoặc
cản trở hoạt động điều tra tội phạm. Ngoài ra BLTTHS năm 2003 còn quy
định về trình tự, thủ tục, điều kiện bắt khẩn cấp. Quy định trên của pháp luật
tố tụng hình sự là căn cứ pháp lý quan trọng để các cơ quan tiến hành tố tụng
áp dụng biện pháp này, để từ đó có những hoạt động đấu tranh phòng, chống
tội phạm cần thiết. Trong thực tiễn áp dụng, trên thực tế, các cơ quan điều
tra đôi khi có biểu hiện lạm dụng áp dụng biện pháp bắt khẩn cấp, hoặc áp
dụng biện pháp này không đúng về điều kiện, thẩm quyền, trình tự, thủ tục.

2


Điều này đã xâm hại tới quyền, lợi ích hợp pháp của những người bị bắt, vi
phạm pháp chế xã hội chủ nghĩa, vi phạm quyền con người, quyền công dân
trong tố tụng hình sự.
Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh, được tổ chức, hoạt động theo các
quy định của Luật tổ chức VKSND và có chức năng nhiệm vụ theo quy định
của các văn bản pháp luật của nhà nước. Với tính chất là địa bàn tỉnh có diện
tích trung bình, dân số ít nhưng trong những năm vừa qua, kinh tế xã hội của
tỉnh Hà Tĩnh rất phát triển. Đặc biệt là với việc mở các khu kinh tế ven biển
như Vũng Áng… tốc độ tăng trưởng kinh tế của tỉnh Hà Tĩnh là khá cao so
với bình quân cả nước. Bên cạnh những ưu điểm về sự phát triển kinh tế xã
hội thì sự thay đổi về cơ cấu kinh tế, xã hội đã kéo theo sự gia tăng của các
loại tội phạm trên địa bàn. Trong những năm vừa qua, lợi dụng chính sách thu
hồi đất đai của chính quyền địa phương tình trạng khiếu nại đông người, gây
rối trật tự công cộng, các tội phạm về trật tự xã hội như: ma túy, trộm cắp,
cướp giật tài sản, tệ nạn mại dâm… ngày một gia tăng. Hàng năm, Cơ quan
điều tra trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh đã khởi tố, điều tra và VKS đã truy tố hàng
nghìn vụ án các loại. Kết quả trên góp phần có hiệu quả vào công tác đấu
tranh, phòng chống tội phạm trên địa bàn. Tuy nhiên, thực tiễn giải quyết vụ
án hình sự áp dụng các biện pháp ngăn chặn trong đó có biện pháp bắt người
trong trường hợp khẩn cấp vẫn còn những hạn chế, bất cập thể hiện qua việc
chậm trễ trong việc chuyển giao các quyết định bắt khẩn cấp, gia hạn tạm giữ,
hoạt động bắt khẩn cấp còn có sai sót về căn cứ, thẩm quyền, trình tự thủ tục.
Trong quá trình thực hiện chức năng, nhiệm vụ được giao việc áp dụng biện
pháp ngăn chặn VKS còn chưa thực sự kịp thời, sâu sát dẫn đến một số
trường hợp việc áp dụng biện pháp bắt người trong trường hợp khẩn cấp còn
sai sót, dẫn đến ảnh hưởng về quyền và lợi ích hợp pháp của người bị bắt.

3


Chính vì vậy, học viên quyết định chọn đề tài “Kiểm sát việc áp dụng
biện pháp ngăn chặn bắt người trong trường hợp khẩn cấp trong tố tụng
hình sự Việt Nam (trên cơ sở thực tiễn địa bàn Hà Tĩnh)” làm đề tài luận
văn thạc sĩ luật học.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Vấn đề các biện pháp ngăn chặn nói chung và biện pháp ngăn chặn bắt
người trong trường hợp khẩn cấp nói riêng đã được một số nhà nghiên cứu đề
cập đến trong các tác phẩm của mình. Có thể kể đến như:
Tác giả, Nguyễn Vạn Nguyên – Phạm Thanh Bình với cuốn sách: Những
điều cần biết về bắt người, tạm giam, tạm giữ... đúng pháp luật – NXB. Chính trị
quốc gia 1993 và “Các biện pháp ngăn chặn và những vấn đề nêu cao hiệu quả
của chúng” – Nguyễn Văn Nguyên – NXB. Công an nhân dân, 1995.
Tác giả Vũ Xuân Lâm với luận án Tiến sĩ luật học “Bắt người trong tố
tụng hình sự Việt Nam” – bảo vệ tại Đại học luật Hà Nội, Hà Nội 2000.
Tác giả, Hoàng Thị Minh Sơn với bài báo “Bảo đảm quyền của người
bị bắt, người bị tạm giữ, người bị tạm giam trong tố tụng hình sự Việt Nam”,
Tạp chí Luật học, số 3/2011, tr. 54
Ngoài ra, nghiên cứu về góc độ kiểm sát việc áp dụng biện pháp ngăn
chặn nói chung và kiểm sát việc áp dụng biện pháp bắt người trong trường hợp
khẩn cấp nói riêng có thể kể đến một số công trình như: Tác giả Lê Hữu Thể
với cuốn sách, Thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp
trong giai đoạn điều tra, Nhà xuất bản Tư pháp, năm 2009; Luận án Tiến sỹ
của tác giả Bùi Thị Hạnh - 2017: Hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân trong
thực hành quyền công tố và kiểm sát việc áp dụng biện pháp ngăn chặn của Cơ
quan điều tra; Tác giả Nguyễn Hải Phong với cuốn sách: Một số vấn đề: Tăng
cường trách nhiệm công tố trong hoạt động điều tra, gắn công tố với hoạt động
điều tra theo yêu cầu cải cách tư pháp - Nhà xuất bản chính trị Quốc gia 2014.

4


Nhìn chung, các công trình nghiên cứu trên đây mới chỉ đề cập đến một
số khía cạnh nhất định của việc áp dụng biện pháp ngăn chặn bắt người trong
trường hợp khẩn cấp cũng như kiểm sát việc áp dụng biện pháp này. Mà
không có công trình nào trực tiếp nghiên cứu về kiểm sát việc áp dụng biện
pháp bắt người trong trường hợp khẩn cấp, đặc biệt là nghiên cứu trên cơ sở
một địa bàn cụ thể là tỉnh Hà Tĩnh. Phân tích này cho thấy việc chọn đề tài
nghiên cứu trên của tác giả là hoàn toàn chính xác về khoa học và thực tiễn.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của đề tài là những vấn đề lý luận và thực tiễn về
kiểm sát việc áp dụng biện pháp ngăn chặn bắt người trong trường hợp khẩn
cấp trên cơ sở thực tiễn trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh, từ đó đề ra các giải pháp
nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng biện pháp bắt người trong trường hợp khẩn
cấp và nâng cao chất lượng kiểm sát hoạt động này.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Từ mục đích nghiên cứu trên, đề tài có nhiệm vụ nghiên cứu sau:
- Nghiên cứu lý luận về biện pháp bắt người trong trường hợp khẩn cấp
và lý luận về kiểm sát việc áp dụng biện pháp ngăn chặn bắt người trong
trường hợp khẩn cấp.
- Nghiên cứu về thực tiễn quy định của pháp luật về biện pháp bắt khẩn
cấp và thực tiễn quy định của pháp luật về kiểm sát việc áp dụng biện pháp
ngăn chặn nói chung và biện pháp ngăn chặn bắt người trong trường hợp khẩn
cấp nói riêng.
- Nghiên cứu thực tiễn hoạt động kiểm sát việc áp dụng biện pháp ngăn
chặn bắt người trong trường hợp khẩn cấp trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh, chỉ rõ
những ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân.
- Đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật về kiểm sát việc áp dụng

5


biện pháp ngăn chặn bắt người trong trường hợp khẩn cấp và nâng cao hiệu
quả hoạt động này trên thực tiễn.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đề tài có đối tượng nghiên cứu là những vấn đề lý luận và thực tiễn về
hoạt động kiểm sát việc áp dụng biện pháp ngăn chặn nói chung và biện pháp
ngăn chặn bắt người khẩn cấp nói riêng thông qua đó đề tài đưa ra được
những giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả kiểm sát
việc áp dụng biện pháp ngăn chặn bắt người trong trường hợp khẩn cấp trong
giai đoạn hiện nay.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Trên cơ sở đối tượng nghiên cứu trên, đề tài có phạm vi nghiên cứu về
những vấn đề lý luận và thực tiễn về kiểm sát việc áp dụng biện pháp ngăn chặn
bắt người trong trường hợp khẩn cấp theo quy định của BLTTHS năm 2003 trên
cơ sở có so sánh với BLTTHS năm 2015. Đề tài nghiên cứu thực tiễn kiểm sát
việc áp dụng biện pháp ngăn chặn bắt người trong trường hợp khẩn cấp trên địa
bàn Hà Tĩnh trong 5 năm từ năm 2012 đến năm 2016.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Đề tài được nghiên cứu trên cơ sở lý luận là chủ nghĩa duy vật biện
chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác – Lê nin và tư tưởng
Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật, về cải cách tư pháp.
Trên cơ sở lý luận nói trên đề tài sử dụng các phương pháp nghiên cứu
trực tiếp là phân tích, so sánh, đối chiếu, thống kê, tổng hợp….
6. Những đóng góp mới của đề tài
Đề tài là công trình nghiên cứu chuyên sâu đầu tiên ở cấp độ một luận
văn thạc sĩ luật học về vấn đề kiểm sát việc áp dụng biện pháp ngăn chặn bắt
người trong trường hợp khẩn cấp trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh.

6


Về mặt lý luận, đề tài giải quyết một cách toàn diện những vấn đề lý
luận cơ bản về kiểm sát việc áp dụng biện pháp ngăn chặn bắt người trong
trường hợp khẩn cấp như khái niệm, đặc điểm, phạm vi và đối tượng của
hoạt động này.
Về mặt thực tiễn đề tài đã nghiên cứu thực tiễn hoạt động kiểm sát việc
áp dụng biện pháp ngăn chặn bắt khẩn cấp trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh trong
những năm vừa qua.
Kết quả nghiên cứu đề tài có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo
trong các cơ sở đào tạo, nghiên cứu luật học và tài liệu thực tiễn cho cán bộ
của các cơ quan tư pháp như VKS, Cơ quan điều tra, Tòa án….
7. Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, đề tài
được kết cấu thành 3 chương 10 tiểu mục.

7


Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ KIỂM SÁT VIỆC ÁP DỤNG
BIỆN PHÁP NGĂN CHẶN BẮT NGƯỜI TRONG
TRƯỜNG HỢP KHẨN CẤP
1.1. Những vấn đề chung về bắt người trong trường hợp khẩn cấp
1.1.1. Khái niệm biện pháp ngăn chặn bắt người trong trường hợp
khẩn cấp
Bắt người là BPNC có tính cưỡng chế nghiêm khắc, vì vậy việc bắt
người nhất thiết phải tuân thủ các căn cứ, trình tự, thủ tục chặt chẽ mà pháp
luật quy định. Áp dụng biện pháp bắt người nhằm kịp thời ngăn chặn tội
phạm, ngăn ngừa người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội trốn tránh
pháp luật, nhằm tạo điều kiện bảo đảm cho việc điều tra, truy tố, xét xử và thi
hành án được thuận lợi. Theo quy định của Bộ luật TTHS thì bắt người là một
trong những BPNC áp dụng đối với bị can, bị cáo và có thể đối với người
chưa bị khởi tố nhằm ngăn chặn hành vi tội phạm, ngăn ngừa việc người
phạm tội trốn tránh pháp luật, bảo đảm cho hoạt động điều tra, truy tố, xét xử
và thi hành án hình sự được thuận lợi. Hậu quả của việc bắt người nhầm lẫn,
oan sai sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến các quyền hiến định của công dân, hạn chế
một số quyền tự do của cá nhân có tác hại rất lớn đến tính nghiêm minh của
pháp luật, ảnh hưởng xấu đến lòng tin của nhân dân đối với cơ quan pháp
luật. Đó là quyền bất khả xâm phạm về thân thể của con người mà Hiến
pháp năm 2013 đã ghi nhận: “Không ai bị bắt, nếu không có quyết định của
Tòa án nhân dân, quyết định hoặc phê chuẩn của Viện kiểm sát nhân dân,
trừ trường hợp do phạm tội quả tang. Việc bắt và giam giữ người phải đúng
pháp luật” [21]. Chỉ được bắt người theo TTHS khi có quyết định của Tòa
án, quyết định hoặc phê chuẩn của Viện kiểm sát và chỉ duy nhất trường hợp

8


bắt người phạm tội quả tang thì không cần có quyết định của Tòa án, quyết
định phê chuẩn của VKSND. Nếu bắt người trái pháp luật sẽ gây tác hại
nghiêm trọng về nhiều mặt: Quyền và lợi ích của công dân bị xâm phạm, hiệu
lực của pháp luật, uy tín của Nhà nước nói chung và của các cơ quan bảo vệ
pháp luật nói riêng bị suy giảm. Đối tượng của việc bắt là con người cho nên
việc bắt đòi hỏi phải đảm bảo chặt chẽ, chính xác. Bắt người không phải là
một biện pháp trừng phạt của pháp luật đối với với người phạm tội. Mà nhằm
ngăn chặn người phạm tội tiếp tục phạm tội, che giấu, trốn tránh hoặc gây khó
khăn cho việc xác định làm rõ sự thật của vụ án.
Trong khoa học luật TTHS thủ tục bắt người được nhiều tác giả nghiên
cứu và có những quan niệm, ý kiến khác nhau, cụ thể:
Theo tác giả Nguyễn Mai Bộ:
Bắt người là giữ người phạm pháp lại, không cho tiếp tục
tự do hoạt động, chặn đứng hành động phạm tội đề phòng người
đó lẩn trốn, tự sát, tiêu hủy chứng cứ hoặc gây trở ngại cho việc
điều tra. Bắt người là một trong những biện pháp cưỡng chế cần
thiết nhất của Nhà nước để trấn áp, ngăn chặn những hành động
phạm tội… Bắt người là một trong những BPNC do Cơ quan điều
tra, Viện kiểm sát, Tòa án áp dụng đối với bị can, bị cáo và có thể
đối với người chưa bị khởi tố nhằm ngăn chặn tội phạm, ngăn
ngừa việc người phạm tội trốn tránh pháp luật, bảo đảm cho việc
điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự được thuận lợi và
đúng pháp luật [3, tr. 31-32].
Theo Giáo trình Luật TTHS Việt Nam - Khoa luật, Đại học Quốc Gia
Hà Nội thì:
Bắt người là BPNC trong TTHS được áp dụng đối với bị can,
bị cáo, người bị nghi thực hiện tội phạm hoặc người phạm tội quả

9


tang hoặc người đang có lệnh truy nã nhằm kịp thời ngăn chặn tội
phạm, ngăn ngừa họ phạm tội, tạo điều kiện thuận lợi cho công tác
điều tra, truy tố, xét xử và thi hành bản án hình sự [6, tr.199].
Còn theo Giáo trình Luật TTHS Việt Nam của Trung tâm Đào tạo từ xa
Đại học Mở Hà Nội:
Bắt người là BPNC trong TTHS do Cơ quan điều tra, Viện
kiểm sát, Tòa án áp dụng đối với bị can, bị cáo và có thể đối với
người chưa bị khởi tố nhằm ngăn chặn tội phạm, ngăn ngừa việc
người phạm tội trốn tránh pháp luật, bảo đảm cho việc điều tra,
truy tố, xét xử và thi hành án hình sự được thuận lợi và đúng
pháp luật [28, tr.214].
Theo Giáo trình Luật TTHS của Trường Đại học Luật Hà Nội thì lại
quan niệm:
Bắt người là BPNC trong TTHS được áp dụng đối với bị can,
bị cáo, người đang bị truy nã và trong trường hợp khẩn cấp hoặc
phạm tội quả tang thì áp dụng cả đối với người chưa bị khởi tố về
hình sự nhằm ngăn chặn hành vi phạm tội của họ, ngăn ngừa họ
trốn tránh pháp luật, tạo điều kiện thuận lợi cho việc điều tra, truy
tố, xét xử và thi hành án hình sự [32, tr.197].
Cả bốn quan điểm trên về biện pháp bắt người đều có những hạt nhân
hợp lý, tuy nhiên có điểm không hợp lý khi cho rằng một trong những mục
đích của bắt người là “Tạo điều kiện thuận lợi cho việc điều tra, truy tố, xét
xử và thi hành bản án hình sự”. Đồng thời quan điểm cho rằng việc áp dụng
BPNC bắt người đều do Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án áp dụng đã
làm thiếu đi vai trò và thẩm quyền của công dân khi tham gia bắt người phạm
tội quả tang và bắt truy nã.

10


TS. Trần Quang Tiệp đưa ra quan niệm:
Bắt là BPNC trong TTHS, do người có thẩm quyền áp dụng,
tạm thời hạn chế tự do thân thể đối với bị can, bị cáo hoặc người
chưa bị khởi tố (trong trường hợp khẩn cấp hoặc phạm tội quả tang)
theo những trình tự, thủ tục do pháp luật TTHS quy định, nhằm
ngăn chặn tội phạm, người thực hiện tội phạm trốn tránh pháp luật,
bảo đảm cho việc tiến hành hoạt động điều tra, truy tố, xét xử và thi
hành án [29, tr.89].
Với quan niệm này có thể thấy biện pháp bắt là một BPNC độc lập
trong TTHS.
TS. Nguyễn Văn Điệp thì cho rằng:
Bắt người là biện pháp cưỡng chế được quy định trong pháp
luật TTHS do cơ quan, người có thẩm quyền do luật định áp dụng
đối với bị can, bị cáo hoặc người chưa bị khởi tố; người đang có
hành vi phạm tội quả tang hoặc đang bị truy nã khi có căn cứ do Bộ
luật TTHS quy định, nhằm kịp thời ngăn chặn tội phạm, ngăn chặn
việc bị can, bị cáo gây khó khăn cho việc điều tra, truy tố, xét xử và
thi hành án [9, tr.12]
Hai quan niệm trên có sự tương đồng và thống nhất người có quyền áp
dụng là “cơ quan, người có thẩm quyền”. Việc quy định này đã khắc phục
được phần nào hạn chế trong những quan niệm trước đây. Tuy nhiên việc liệt
kê đối tượng bị áp dụng lại khá dài.
Từ những phân tích trên, theo tôi, có thể đưa ra khái niệm về biện pháp
bắt người trong TTHS như sau: Bắt người là biện pháp ngăn chặn trong tố
tụng hình sự do người có thẩm quyền áp dụng đối với những người thực hiện
hành vi có dấu hiệu của tội phạm theo trình tự, thủ tục pháp luật tố tụng hình
sự quy định, nhằm ngăn chặn tội phạm, người thực hiện hành vi có dấu hiệu

11


tội phạm trốn tránh pháp luật, bảo đảm cho việc tiến hành hoạt động điều tra,
truy tố, xét xử và thi hành án không bị cản trở.
Nhà nước ta từ lâu đã coi bắt người là một chế định pháp lý quan trọng
không những trong TTHS mà cả trong tố tụng hành chính. Chế định bắt người
chiếm một vị trí xứng đáng trong các văn bản pháp luật do Nhà nước ban
hành. Bắt không theo quy định của pháp luật: bắt nhầm (bắt oan, sai) người
vô tội sẽ gây một tác hại rất lớn, ảnh hưởng xấu đến lòng tin của nhân dân đối
với cơ quan bảo vệ pháp luật. Vì vậy, khi bắt người phải thể hiện thái độ kiên
quyết đấu tranh chống tội phạm, song cũng phải thận trọng khi xem xét đánh
giá chứng cứ. Quá trình thực hiện bộ luật TTHS các cơ quan như: Bộ Công
an, VKSND tối cao, TAND tối cao, Bộ Tư pháp, đã ban hành nhiều văn bản
quy phạm pháp luật đơn ngành, liên ngành để hướng dẫn việc áp dụng BPNC
trong đó có biện pháp bắt người [13].
Quy định về biện pháp ngăn chặn bắt người và áp dụng BPNC bắt
người trong TTHS có ý nghĩa lớn trong việc đấu tranh chống và phòng ngừa
tội phạm:
Một là, thể hiện thái độ của nhà nước trong việc đấu tranh và phòng
chống tội phạm. Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội xâm phạm tới các
quan hệ xã hội mà nhà nước bảo vệ. Do đó, công tác đấu tranh, chống và
phòng ngừa những hành vi phạm tội nhằm hạn chế những hiện tượng phạm
tội ra khỏi đời sống xã hội là một trong những nhiệm vụ quan trọng và phải
được tiến hành một cách kiên quyết, triệt để, không khoan nhượng.
Hai là, bảo đảm cho các hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng
diễn ra bình thường, góp phần quan trọng nâng cao hiệu quả của cuộc đấu
tranh, phòng chống tội phạm. Thông thường, người phạm tội ý thức rất rõ về
hậu quả pháp lý mà mình phải chịu do việc thực hiện tội phạm nên họ tìm đủ
mọi cách để có thể nhanh chóng đạt được mục đích phạm tội lại vừa có thể che

12


giấu, trốn tránh được sự phát hiện và trừng phạt của pháp luật. Việc áp dụng
biện pháp bắt người là cần thiết nhằm ngăn chặn những hành vi phạm tội, đang
phạm tội hoặc người thực hiện hành vi phạm tội trốn tránh, góp phần hạn chế
đến mức thấp nhất những khó khăn mà người phạm tội có thể gây ra cho quá
trình giải quyết vụ án.
Ba là, bảo đảm sự dân chủ, tôn trọng các quyền con người, quyền công
dân được Hiến pháp quy định trong đó có quyền bất khả xâm phạm về thân
thể. Quy định BPNC bắt người không chỉ đơn thuần tạo điều kiện cho các cơ
quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện tốt nhiệm vụ theo chức năng của
mình mà còn nhằm đảm bảo sự tôn trọng và thực hiện đầy đủ các quyền con
người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân đã được quy định trong Hiến
pháp. Sự tuân thủ các quy định của pháp luật TTHS khi áp dụng, thay đổi hay
hủy bỏ một BPNC nào đó về các phương diện như: sự cần thiết phải áp dụng,
thay đổi, hủy bỏ, đối tượng áp dụng…; căn cứ áp dụng; thẩm quyền; thủ tục
áp dụng… trước hết là xuất phát từ sự tôn trọng các quyền và lợi ích hợp pháp
của con người [9, tr.76].
Việc bắt người có tác động trực tiếp đến quyền tự do về thân thể của con
người bởi vậy khi áp dụng cần phải cân nhắc hết sức thận trọng khi quyết định
việc bắt. Bắt người đúng pháp luật sẽ góp phần nâng cao hiệu quả của cuộc đấu
tranh chống và ngăn ngừa tội phạm. Chính vì vậy, việc quy định những cơ sở
pháp lý cho việc áp dụng BPNC bắt người là một yêu cầu cấp thiết và quan
trọng trong TTHS Việt Nam. TS. Nguyễn Vạn Nguyên và một số tác giả khác
chia biện pháp bắt người thành bốn loại: Bắt bị can, bị cáo để tạm giam; bắt
người trong trường hợp khẩn cấp; bắt người phạm tội quả tang; bắt người đang
bị truy nã [14]. Nhưng theo Chương VI, Bộ luật TTHS năm 2003 quy định ba
trường hợp bắt người gồm: Bắt bị can, bị cáo để tạm giam; Bắt người trong
trường hợp khẩn cấp; Bắt người phạm tội quả tang hoặc đang bị truy nã.

13


Căn cứ vào đối tượng bị bắt, có thể chia các biện pháp bắt người thành
các loại: Bắt bị can, bị cáo để tạm giam; bắt người trong trường hợp khẩn cấp;
Bắt người đang phạm tội quả tang hoặc đang bị truy nã và bắt một số đối
tượng đặc biệt [9, tr.198].
Bắt người trong trường hợp khẩn cấp là một trường hợp bắt, thường
được áp dụng đối với người chưa bị khởi tố về hình sự, nhằm ngăn chặn
ngay hành vi phạm tội hoặc những hành động cản trở việc điều tra, truy tố
và xét xử của người đó.
Có thể nói rằng, trước khi BLTTHS được ban hành, thì các quy định về
biện pháp bắt nói chung và bắt người trong trường hợp khẩn cấp nói riêng đã
có những tác dụng to lớn trong cuộc đấu tranh phòng ngừa và chống tội
phạm. Việc sử dụng chúng đã góp phần kịp thời ngăn chặn các tội phạm nguy
hiểm xâm phạm an ninh quốc gia, xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự,
nhân phẩm và tài sản của nhân dân. Tuy nhiên, do sự phát triển của xã hội,
các quan hệ xã hội ở nước ta cũng đã có nhiều thay đổi. Trước tình hình mới
nảy sinh đó, các quy định về những trường hợp bắt khẩn cấp cũng đã bộc lộ
những sơ hở nhất định (như sự thiếu chặt chẽ, tính chưa cụ thể trong các quy
định của pháp luật...). Cho nên dễ dẫn đến tình trạng bắt khẩn cấp tràn lan. Có
thể nói, việc quá lạm dụng bắt khẩn cấp đã có những ảnh hưởng không tốt
trong dư luận quần chúng nhân dân. Mặt khác, nó còn làm mất đi tính đặc biệt
của biện pháp này và biến nó thành một trường hợp được áp dụng phổ biến.
Tình trạng đó đã làm cho các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân bị xâm
hại, nó đi ngược lại những lợi ích của việc tăng cường pháp chế XHCN mà
Đảng và Nhà nước ta đã và đang đặc biệt quan tâm.
Nhằm khắc phục những thiếu sót và hạn chế nêu trên, để bảo đảm
cho việc bắt khẩn cấp chỉ áp dụng trong những trường hợp cần thiết (hay
thực sự đúng nghĩa là khẩn cấp) nhằm chặn đứng hành vi phạm tội và hành

14


vi trốn tránh pháp luật của người phạm tội. Đồng thời, hạn chế tới mức tối
đa những vi phạm về quyền và lợi ích hợp pháp của công dân các BLTTHS
1988 và BLTTHS 2003 đã quy định một cách khá cụ thể, rõ ràng các trường
hợp bắt khẩn cấp như sau:
- Khi có căn cứ để cho rằng người đó đang chuẩn bị thực hiện tội phạm
rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.
- Khi người bị hại hoặc người có mặt tại nơi xảy ra tội phạm chính mắt
trông thấy và xác nhận đúng là người đã thực hiện tội phạm mà xét thấy cần
ngăn chặn ngay việc người đó trốn.
- Khi thấy có dấu vết của tội phạm ở người hoặc chỗ ở của người bị
tình nghi thực hiện tội phạm và xét thấy cần ngăn chặn ngay việc người đó
trốn hoặc tiêu hủy chứng cứ.
Bắt người trong trường hợp khẩn cấp thể hiện tính chất đặc biệt cấp
bách của việc ngăn chặn tội phạm. Tính chất cấp bách đó được thể hiện ở chỗ:
nếu như không tiến hành bắt ngay người có hành vi nguy hiểm cho xã hội thì
người đó sẽ gây tổn thất nghiêm trọng cho Nhà nước, xã hội, xâm phạm đến
tính mạng, sức khỏe và sở hữu của công dân hoặc cản trở việc điều tra, xét
xử, trốn tránh pháp luật. Do đó, đối tượng bị bắt khẩn cấp là bất kỳ ai nếu như
người đó có đầy đủ các điều kiện thuộc vào một trong các trường hợp được
bắt khẩn cấp nêu trên.
Nói tóm lại, bắt người trong trường hợp khẩn cấp là một trong các
BPNC được quy định trong BLTTHS. Với đặc điểm là tính khẩn cấp, do vậy
việc áp dụng biện pháp bắt này đã phát huy được tác dụng rất lớn trong công
tác đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm. Tuy nhiên, để không bỏ lọt tội
phạm, không làm oan người vô tội và đảm bảo được các quyền con người,
quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, thì khi ra quyết định bắt khẩn cấp
những người có thẩm quyền cần phải tuân thủ nghiêm chỉnh các quy định

15


của pháp luật về bắt khẩn cấp. Chỉ áp dụng biện pháp này khi nó thực sự cần
thiết để hạn chế việc lạm dụng bắt khẩn cấp, hạn chế tình trạng bắt oan, sai.
Từ những phân tích trên, có thể đưa ra khái niệm về bắt người trong
trường hợp khẩn cấp như sau: Bắt người trong trường hợp khẩn cấp là một
trường hợp của biện pháp bắt người, do người có thẩm quyền áp dụng khi
có các căn cứ cho rằng một người đang chuẩn bị thực hiện tội phạm rất
nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng hoặc khi có người chính
mắt trông thấy và xác nhận đúng một người đã thực hiện tội phạm mà xét
cần ngăn chặn ngay việc người đó trốn hoặc khi thấy có dấu vết của tội
phạm ở người hoặc tại chỗ ở của người bị nghi thực hiện tội phạm và xét
thấy cần ngăn chặn ngay việc người đó trốn hoặc tiêu hủy chứng cứ.
1.1.2. Đặc điểm của việc bắt người trong trường hợp khẩn cấp
Bắt người trong trường hợp khẩn cấp có những đặc điểm sau:
Thứ nhất, đây là biện pháp được tiến hành khi có những căn cứ mang
tính cấp bách nếu được tiến hành theo thủ tục kéo dài thì sẽ không đảm bảo
được mục đích bắt đặt ra. Từ đó, người phạm tội sẽ gây khó khăn cho hoạt
động điều tra. Đây chính là căn cứ nổi bật để phân biệt với trường hợp bắt bị
can bị cáo để tạm giam. Theo đó, khi áp dụng biện pháp bắt bị can bị cáo để
tạm giam cần phải tuân thủ theo trình tự trước khi thi hành quyết định bắt
người phải được VKS cùng cấp phê chuẩn. Điều này đảm bảo vai trò kiểm sát
việc áp dụng biện pháp ngăn chặn của VKS, từ đó đảm bảo được quyền và lợi
ích hợp pháp của công dân. Ngược lại đối với biện pháp bắt khẩn cấp, do tính
cấp bách của biện pháp này mà cơ quan tiến hành bắt ra quyết định và thực
hiện ngay mà chưa cần sự phê chuẩn của VKS trước khi thi hành. Điều này
nhằm đảm bảo tính cấp bách, bí mật, bất ngờ của biện pháp này. Từ đó góp
phần ngăn chặn người phạm tội tiếp tục phạm tội mới, bỏ trốn, cản trở hoạt
động giải quyết vụ án hoặc tiêu hủy chứng cứ.

16


Thứ hai, nội dung của biện pháp ngăn chặn bắt khẩn cấp cũng giống
như các biện pháp bắt người khác là nó mang bản chất ngăn chặn bằng cưỡng
chế Nhà nước, theo đó, biện pháp này được tiến hành với nội dung là nhà
nước, thông qua các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng thực hiện bằng
cưỡng chế. Do đó, biện pháp bắt người trong trường hợp khẩn cấp tác động
tới các quyền con người cơ bản của người bị áp dụng.
Thứ ba, một trong những đặc điểm khác biệt của biện pháp ngăn chặn
bắt người trong trường hợp khẩn cấp so với các biện pháp ngăn chặn bắt
người khác như bắt người phạm tội quả tang hay bắt người đang bị truy nã đó
là về thẩm quyền áp dụng biện pháp này. Theo đó, nếu như bắt người phạm
tội quả tang hoặc bắt người đang bị truy nã thì bất cứ ai cũng có quyền bắt, và
phải giải ngay đến cơ quan có thẩm quyền điều này nhằm đáp ứng tính kịp
thời mang tính đặc thù của các biện pháp này, thì bắt người trong trường hợp
khẩn cấp chỉ có thể do người có thẩm quyền tiến hành tố tụng tiến hành. Điều
này nhằm đảm bảo tính hợp pháp và tính chặt chẽ của việc áp dụng biện pháp
bắt người trong trường hợp khẩn cấp. Không thể để tình trạng tùy tiện, bất kỳ
ai cũng có quyền bắt khẩn cấp được.
Thứ tư, về trình tự, thủ tục áp dụng biện pháp bắt người trong trường
hợp khẩn cấp cũng có những điểm đặc thù riêng so với bắt bị can, bị cáo để
tạm giam. Theo đó, bắt người trong trường hợp khẩn cấp là biện pháp được
tiến hành trước khi có sự phê chuẩn của VKS. Đây là sự khác biệt so với biện
pháp bắt bị can, bị cáo để tạm giam. Bởi lẽ, khi bắt bị can, bị cáo để tạm giam
thì cần phải có sự phê chuẩn của VKS trước khi tiến hành thì biện pháp bắt
người trong trường hợp khẩn cấp được tiến hành trước khi có sự phê chuẩn
trên. Bởi lẽ, đặc thù của biện pháp này là khẩn cấp, nếu phê chuẩn của VKS
thì sẽ dẫn đến tính cấp bách của biện pháp này không đạt được, người phạm
tội sẽ bỏ trốn, tiêu hủy chứng cứ hoặc làm cản trở hoạt động giải quyết vụ án.

17


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×