Tải bản đầy đủ

Bài thu hoạch BDTX module 3 THPT 3 Giáo dục học sinh cá biệt

BÀI THU HOẠCH
BỒI DƯỠNG THƯỜNG XUN NỘI DUNG 3 NĂM HỌC 2015-2016
Họ và tên giáo viên: ĐINH XN HẠNH
Tổ chun mơn: VĂN – NGOẠI NGỮ
Trường THPT Bình Gia
Tên mơ đun viết thu hoạch: GIÁO DỤC HỌC SINH THPT CÁ BIỆT
Mã mơ đun: Module THPT 3
PHẦN BÀI LÀM
Câu 1 (4 điểm): Qua q trình nghiên cứu tài liệu bồi dưỡng thường xun,
đồng chí hãy tóm tắt các nội dung chính của từng mơ đun mà cá nhân đã đăng
ký thực hiện bồi dưỡng.
Trả lời:
Sau khi tìm hiểu xong module THPT 3 “ Giáo dục học sinh THPT cá biệt”
giúp bản thân tơi nhận thức được rõ hơn và học hỏi được thêm nhiều thơng tin hữu
ích phục vụ cho cơng tác giáo dục học sinh của bản thân mình trong q trình thực
hiện nhiệm vụ giáo dục. Cụ thể các vấn đề học tập được thơng qua Module 3 “
Giáo dục học sinh THPT cá biệt” là:
1. Hiểu về khái niệm “học sinh cá biệt”:
Học sinh có những thái độ, hành vi khơng phù hợp với giá trị nội qui truyền
thống của tập thể, khơng thực hiện tròn bổn phận và trách nhiệm của học sinh hoặc
thiếu văn hóa, đạo đức trong quan hệ ứng xử với mọi người, đồng thời khơng có

động cơ học nên kết quả học tập yếu, kém… được lặp lại thường xun và trở
thành hệ thống được coi là học sinh cá biệt.
2. Những ngun nhân dẫn đến việc hình thành, xuất hiện học sinh cá biệt:
Có nhiều nguyên nhân dẫn đến học sinh cá biệt trong đó có thể kể đến
những nguyên nhân sau : Học yếu do bò hổng kiến thức lưu ban, gia đình khá
giả cha mẹ lo làm ăn không quan tâm đến con cái nhưng lại nuông chiều con
hết mức, môi trường sống không lành mạnh… có thể nói các măït biểu hiện của
một học sinh cá biệt cũng rất đa dạng và phức tạp. Điển hình như có rất nhiều
gia đình học sinh do cha mẹ các em bận làm ăn xa vắng nhà một đến hai tuần
thậm chí cả tháng mới ghé về nhà quẳng cho con ít tiền rồi lại vội vã ra đi mà
không biết con mình ở nhà sống ra sao học hành thế nào, muốn gì và cần gì ở
cha mẹ. Được sống tự do một mình vả lại ở tuổi các em lập trường chưa vững
vàng lại sẵn có tiền, bạn bè xấu biết hoàn cảnh nên rủ rê tụ tập làm những
chuyện không hay dần dần các em bò xa ngã và không thoát ra được. Khi cha
mẹ các em biết được thì đã quá muộn không thể dạy dỗ uốn nắn được nữa.
Việc học các em cũng không giống như trước nữa mà thường lơ là, cúp tiết, dẫn


đến học yếu, chán học và bỏ học, lêu lổng chơi bời. Một lý do nữa cũng không
thể bỏ qua là do cha mẹ bất hoà cãi vã thậm chí đánh nhau, đã vậy lại bò cha
mẹ mắng vô cớ do đó làm cho các em bò tổn thương nặng về tình cảm, tủi thân.
Đến lớp sợ bò bạn bè trêu chọc, mặc cảm tự ti làm cho các em chán nản, lười
học. Sợ đến lớp, sợ về nhà các em càng sống khép kín hơn, trầm tư tỏ ra lì lợm,
dễ bực dọc, gây gổ với bạn bè vô lễ với cha mẹ, thầy cô, từ đó các em thích
chơi với các bạn cùng hoàn cảnh hoặc tương tự hoàn cảnh của các em. Từ đó
dẫn đến chán học, học kém dẫn đến bỏ học.

3. Vì sao cần thu thập thơng tin về học sinh cá biệt?
Trong một tập thể lớp ln tồn tại những học sinh dễ giáo dục và những học
sinh khó giáo dục, ln xuất hiện những hành vi khơng mong đợi của những học
sinh mà chúng ta gọi là học sinh cá biệt.
Các giáo viên cần phải thu thập thơng tin cá nhân của các đối tượng học sinh cá
biệt trong lớp về mọi phương diện trong trường học cũng như ngồi trường học, để
từ đó có các phương pháp giúp đỡ, rèn luyện học sinh.
Thu thập thơng tin là con đường trục tiếp, hiệu quả nếu giáo viên biết tạo ra mơi
trường an tồn, học sinh tin tưởng, cảm giác thoải mái, thể hiện cho học sinh đó
tháy rằng mình muốn nghe từ cách nhìn, cử chỉ, thể hiện sự quan tâm lắng nghe để
hiểu hơn là để đáp lại hơn là tránh gây mất tập trung, đồng cảm với học sinh. Giáo
viên cũng cần đặt mình vào hồn cảnh của người nói, và xem xét các quan điểm
khác. Đồng thời giáo viên cần giữ bình tĩnh, kiên nhẫn khơng cắt ngang. Đặc biệt


giáo viên cần tránh tranh cãi hoặc phê phán học sinh.
Những nội dung cần tìm hiểu học sinh cá biệt:
- Hồn cảnh gia đình
- Các mối quan hệ bạn bè trong lớp, ngồi lớp
- Học tập
- Sức khỏe
- Tâm lí cá nhân
- Khả năng, năng lực của học sinh trong các hoạt động.
4. Có thể thu thập thơng tin về học sinh cá biệt bằng nhiều con đường khác
nhau:
- Tổ chức cho học sinh viết về điều có ý nghĩa với bản thân
- Quan sát và tham gia vào các hoạt động của học sinh
- Tiếp cận học sinh thơng qua nhóm bạn thân.
- Tìm hiểu học sinh thơng qua gia đình, hồn cảnh sống của học sinh cá biệt.
- Tìm hiểu học sinh thơng qua cán bộ lớp, tổ
- Tìm hiểu học sinh thơng qua giáo viên khác, đồn trường
- Tìm hiểu học sinh thơng qua hang xóm gia đình học sinh.
- Tìm hiểu qua kết quả học tập rèn luyện của học sinh qua những năm học
trước..


Cách phối hợp các thông tin về học sinh cá biệt để có hiệu quả cao nhất:
Cách sử lí, phân tích thông tin theo hướng kết hợp từ nhiều nguồn khác nhau
giúp giáo viên năm bắt được nhưng thông tin chính xác, cụ thể về học sinh cá
biệt.
Biết cách lưu giữ kết quả đánh giá để lập hồ sơ học sinh cá biệt:
- Phiếu đặc điểm gia đình học sinh
- Sổ theo dõi tung ngày, tháng, kì, năm
- Học bạ
- Sổ liên lạc
5. Khi khai thác thông tin học sinh cá biệt cần lưu ý:
Cần lưu ý những điều sau:
- Phải tạo ra môi trường an toàn, tin tưởng, cảm giác thoải mái, thể hiện cho
học sinh đó tháy rằng mình muốn nghe từ cách nhìn, cử chỉ, thể hiện sự
quan tâm lắng nghe để hiểu hơn là để dáp lại hơn là tránh gây mất tập trung,
đồng cảm với học sinh
- Giáo viên cũng cần đặt mình vào hoàn cảnh của người nói, và xem xét các
quan điểm khác
- Giáo viên cần giữ bình tĩnh, kiên nhẫn không cắt ngang. Đặc biệt giáo viên
cần tránh tranh cãi hoặc phê phán học sinh.
6. Các nguyên nhân cơ bản dẫn đến hành vi sai lệch của học sinh:
- Tác động tiêu cực từ gia đình như bố mẹ li hôn, gia đình đầy đủ hay khuyết
thiếu, hoàn cảnh kinh tế, văn hóa của gia đình, lối sống và bầu không khí
tâm lí – đạo đức của gia đình, tính chất các mối quan hệ, sự gắn bó giữa các
thành viên trong gia đình …
- Ảnh hưởng từ bạn bè: thủ lĩnh của nhóm mà học sinh cá biệt tham gia có
quy ước của nhóm mà tác động tiêu cực hay tích cực đến học sinh đó.Ảnh
hưởng từ môi trường xã hội: học sinh đó sống trong môi trường lành mạnh,
tích cực hay tiêu cực, nguy cơ rủi ro nào….
- Chưa có mục đich học tập rõ ràng
- Có niềm tin sai về giá trị của cuộc sống
- Chán nản, rối loạn hành vi xã hội
7. Các biện pháp, cách thức giáo dục học sinh:
- Giáo viên tiếp cận cá nhân, xây dựng quan hệ tin cậy, tôn trọng học sinh cá
biệt
- Giúp học sinh nhận thấy điểm mạnh, điểm yếu của bản than
- Giúp học sinh nhận thức được hậu quả của những hành vi tiêu cực, tất yếu
phải thay đổi thói quen cũ
- Giáo viên cần phải quan tâm, giúp đỡ các em vượt qua khó khăn, đáp ứng
nhu cầu chính đáng của học sinh cá biệt.
- Động viên, khích lệ động cơ học tập, hoàn thiện nhân cách của học sinh cá
biệt
- Tránh sử dụng củng cố tiêu cực


-

Sử dụng hệ quả tự nhiên và hệ quả lôgic
Phương pháp ứng xử với một số loại hành vi điển hình
Khơi dậy hoài bão, ý thức tự giáo dục của học sinh
Áp dụng biện pháp giáo dục kỉ luật tích cực đối với học sinh

8. Cách đánh giá kết quả học tập, giáo dục học sinh cá biệt:
- Đánh giá hành vi không đồng nhất với đánh giá nhân cách:
Nếu học sinh cá biệt thực hiện hành vi không mong đợi nào đó thì giáo viên
chỉ đánh gía hành vi đó chứ không được quy kết hành vi đó thành nét nhân
cách của học sinh
- Đánh giá theo quan điểm tích cực với học sinh cá biệt:
Đánh giá không chỉ giúp các em nhận thấy mà còn phát huy nhưng điểm
mạnh của học sinh. Đánh giá cần mang yếu tố khách quan, tích cực, mang
tính xây dựng.
- Đánh giá sự tiến bộ của học sinh cá biệt theo quá trình:
Đánh giá học sự tiến bộ của học sinh so với sự tiến bộ của bản thân. Đồng
thời xác định mức độ kết quả đạt được của tưng em học sinh để naang cao
hiệu quả.
- Đánh giá theo chuẩn quy định
9. Những tác động tích cực và tiêu cực đến học sinh từ gia đình, bạn bè và môi
trường sống:
- Ảnh hưởng của gia đình:
Bố mẹ sống không hạnh phúc, sống li thân, li hôn (có rất nhiều học sinh cá biệt
có hoàn cảnh này). Phương pháp giáo dục con không phù hợp (quá nghiêm
khắc hoặc quá chiều chuộng). Gia đình có lối sống buông thả, không gương
mẫu, nói năng giao tiếp không có chuẩn mực, không quan tâm giúp đỡ nhau
trong cuộc sống, không động viên chia sẻ cùng nhau... Ngoài ra kinh tế trong
gia đình không đầy đủ dẫn đến xung đột trong gia đình.… Sức ép lớn trong thi
cử từ gia đình và nhà trường và xã hội khiến cho học sinh căng thẳng rơi và lối
sống trầm cảm, tự ti về bản thân.
- Ảnh hưởng của nhóm bạn: Học sinh bị nhũng người bạn bè lôi kéo, ham chơi
sớm, có nhiều mối quan hệ không lành mạnh, thích đau đòi ăn diện. Ngoài ra
Học sinh bị hổng kiến thức từ lớp dưới nên chán học, thường hay nghịch phá,
mất trật tự.
- Ảnh hưởng của môi trường sống, các quan hệ xã hội khác: học sinh đó sống
trong môi trường lành mạnh hay chứa đựng nhũng ảnh hưởng tiêu cực, các nguy
cơ rủi ro.
10. Hướng phối hợp xử lí, khai thác, lưu trữ thông tin về từng học sinh cá biệt
- Xử lí thông tin: Phân tích các thông tin thu được theo cách kết hợp đối
chiếu so sánh từ các nguồn khác nhau trên cơ sở đó phân tích đánh giá những
thông tin được kiểm chứng sau đó tổng hợp khái quát để có những nhận định cơ
bản về học sinh đó, những thông tin thu thập được cũng có thể làm cơ sỏ đánh giá
về một học sinh cụ thể, đây là một thành phần quan trọng trong công tác giáo dục


học sinh chuẩn đoán trong giáo dục không chỉ để nhận dạng các khó khăn và các
thiếu hụt trong kiến thức mà còn để nhận dạng các điểm mạnh và các năng lực đặc
biệt của từng học sinh giáo viên chuẩn đoán nhằm giúp học sinh học tốt hơn chứ
không phải để “dán nhãn” cho học sinh. Các kết quả của chuẩn đoán nhằm sử dụng
để lập nên một kế hoạch dạy học nhằm loại bỏ các trở ngai của việc học và phát
triển nhân cách của các em.
- Lưu giữ kết quả, xử lí thông tin: lưu giữ kết quả đánh giá để lập hồ sơ từng
học sinh cá biệt hồ sơ học sinh có các tư liệu sau:
+ phiếu đặc điểm gia đình học sinh
+ sổ theo dõi phát triển cá nhân qua từng tuần, tháng, học kỳ
+ Các kết quả sau thu thập được về học sinh
+ Học bạ
+ sổ liên lạc
- Hướng khai thác thông tin về học sinh: thông tin về học sinh cá biệt được
khai thác để xác định biện pháp tác động, dự báo chiều hướng phát triển,
dưới tác động của các ảnh hưởng, dự kiến kết quả đạt được cũng như những
nguy cơ để có biện pháp phòng ngừa
-> Muốn giáo dục tốt học sinh cá biệt phải có sự kết hợp đồng bộ cả ba lực
lượng giáo dục: Gia đình – Nhà trường – Xã hôi. Trên cơ sở đó thúc đầy quá
trình tự giáo dục của học sinh
- Không lý tưởng hóa về học sinh. Không gọi các em là “ học sinh cá biệt”
trước tập thể và người khác. ( “Nếu bạn nhìn ai đó với ánh mắt yêu thương bạn
sẽ không nhìn thấy những nét xấu xa mà bạn sẽ chỉ nhìn thấy toàn những nét
đẹp mà thôi” – Danh ngôn
- Tin tưởng giao công việc tập thể phù hợp với khả năng của học sinh cá
biệt. Đây là việc làm mang tính hai mặt, đòi hỏi giáo viên chủ nhiệm phải thường
xuyên giám sát, kiểm tra và động viên kịp thời khi học sinh đạt được thành tích dù
là nhỏ nhất. ( Cho HS cơ hội “ tìm được sức mạnh cả trong chính sự khiếm
khuyết của mình”)
- Tổ chức hoạt động tập thể, hoạt động nhân đạo để học sinh cá biệt tham
gia, xây dựng môi trường lành mạnh, tích cực, để các em có cơ hội tự thể hiện
mình. Những học sinh trầm cảm, tự tin sẽ mạnh dạn, tích cực hơn trong học tập và
rèn luyện ( Tổ chức chuyên đề ngoại khoá, rèn luyện kỹ năng sống, . . .)
( “Sức mạnh mãnh liệt nhất, phi thường nhất trên thế gian này chính là sức
mạnh của tình yêu” và sự cảm thông là chìa khóa để mở cửa trái tim người
khác)
- Gặp riêng học sinh cá biệt bằng tình cảm chân thành của mình, GVCN
bình tĩnh, nhẹ nhàng, tế nhị, phân tích có lý, có tình cho HS thấy được ưu điểm để
phát huy, thấy mức độ nguy hại của khuyết điểm để sữa chữa. Giáo viên thức tỉnh
học sinh bằng những câu chuyện đạo đức. Cho các em một điểm tựa niềm tin. Đối
xử với các em bằng sự bao dung của người cha, sự nhân từ của người mẹ, sự
cảm thông của người anh người chị và sự thân thiết của người bạn. ( “ Trong
tất cả sự chia sẻ thì sự chia sẻ tinh thần là quý giá nhất”)
Giáo viên chủ nhiệm có thể lấy tấm gương tốt trong tập thể, hoặc chính một học
sinh cá biệt đã tiến bộ để cảm hoá học sinh cá biệt.


Thầy cô luôn là tấm gương về đạo đức, về lối sống và trình độ chuyên môn.
Thầy cô chủ nhiệm phải luôn có tình cảm yêu thương, niềm tin động viên học sinh
bởi “Chỉ có tấm lòng mới đánh thức được tấm lòng”. Giáo viên cần phải khéo
léo, linh hoạt trong mỗi trường hợp cụ thể, biết tập hợp và sử dụng sức mạnh của
các yếu tố giáo dục nhằm rèn luyện cho học sinh cá biệt. Giáo viên chủ nhiệm cần
tuyệt đối tránh tư tưởng định kiến cách cư xử thiếu sư phạm đối với học sinh.
- Áp dụng quy định thưởng, phạt “phân minh, nghiêm túc, công bằng”
để học sinh cá biệt có động lực mục tiêu phấn đấu
- Kết hợp chặt chẽ đối với giáo viên bộ môn vừa để hiểu hơn về học sinh
vừa giúp học sinh có những cố gắng ở từng môn học. Đồng thời, kết hợp chặt chẽ
với ĐTN để thống nhất biện pháp giáo dục học sinh cá biệt.
Bản thân tôi sẽ lưu trữ và khai thác thông tin về học sinh cá biệt bằng cách,
thu thập thông tin về học sinh thông qua hoạt động giáo dục hàng ngày lưu trữ
thông qua phiếu phát triển và sổ liên lạc, ghi chép chi tiết tỉ mỉ để có căn cứ giáo
dục và theo dõi sự tiến bộ của học sinh để từ đó có cách đánh giá khách quan nhất
giúp học sinh tiến bộ đấy chính là mục đích của việc giáo dục.
Câu 2 (6 điểm): Liên hệ với việc vận dụng nội dung của mô đun vào quá trình
thực hiện nhiệm vụ được giao năm học 2015-2016.
Trả lời:
Năm học 2015 – 2016, bản thân tôi được nhà trường giao nhiệm vụ:
+ Giảng dạy môn Ngữ văn 3 lớp: 10A1 + 10A2 + 12A9.
+ Chủ nhiệm lớp 12A9
+ Khối trưởng chủ nhiệm Khối 12.
Phát huy kinh nghiệm từ những năm học trước trong việc giáo dục học sinh
cá biệt, tôi nhận thấy mình cần:
- Có sự kết hợp đồng bộ cả ba lực lượng giáo dục: Gia đình – Nhà trường –
Xã hôi để giúp học sinh nhận thức toàn diện hơn về động cơ học tập và hoàn thiện
về nhân cách. Cụ thể: thường xuyên liên lạc với gia đình, thông báo kịp thời những
nhược điểm của học sinh, đặc biệt là những khuyết điểm vi phạm nghiêm trọng.
Tìm hiểu thêm thông tin về học sinh từ môi trường xã hội, bạn bè của học sinh đó.
(Ngay khi tôi đang trả lời câu hỏi này thì tôi cũng đã tiếp nhận được một thông tin
là có một học sinh lớp tôi tên là Hoàng Văn Linh hôm nay không đến lớp học mà
đang ngồi chơi ngoài quán nước cổng trường. Tôi đã ra quán nước tìm học sinh
Linh nhưng em học sinh đó đã đi đâu không rõ. Tôi vội gọi điện cho phụ huynh
đến gặp trực tiếp để phối hợp giáo dục).
- Không lý tưởng hóa về học sinh. Không gọi các em là “ học sinh cá biệt”
trước tập thể và người khác. Vì như vậy học sinh sẽ có mặc cảm tự ti, không nỗ lực
phấn đấu.
- Cho học sinh cơ hội khẳng định khả năng của chính mình. Tin tưởng giao
công việc tập thể phù hợp với khả năng của học sinh cá biệt. (Ví dụ: Tôi đã mạnh
dạn giao cho học sinh Triệu Văn Sơn (có thể coi là học sinh cá biệt vì hay mắc
khuyết điểm) làm đội trưởng CLB nghiên cứu KHKT của lớp để hoàn thành các ý


tưởng sáng tạo. Kết quả: học sinh Triệu Văn Sơn đã rất tích cực, sáng tạo và có
tinh thần trách nhiệm cao để hoàn thành công việc được giao.
Đây là việc làm mang tính hai mặt, đòi hỏi giáo viên chủ nhiệm phải thường
xuyên giám sát, kiểm tra và động viên kịp thời khi học sinh đạt được thành tích dù
là nhỏ nhất.
- Gặp riêng học sinh cá biệt bằng tình cảm chân thành của mình, tôi luôn
bình tĩnh, nhẹ nhàng, tế nhị, phân tích có lý, có tình cho HS thấy được ưu điểm để
phát huy, thấy mức độ nguy hại của khuyết điểm để sữa chữa. Tôi đã thức tỉnh học
sinh bằng những câu chuyện đạo đức. Cho các em một điểm tựa niềm tin. Đối xử
với các em bằng sự bao dung của người cha, sự nhân từ của người mẹ, sự cảm
thông của người anh người chị và sự thân thiết của người bạn. ( “ Trong tất cả sự
chia sẻ thì sự chia sẻ tinh thần là quý giá nhất”)
- Để hoàn thành được nghĩa vụ cao cả của một người thầy trong sự nghiệp
“trồng người” thì thầy cô luôn phải là tấm gương về đạo đức, về lối sống và trình
độ chuyên môn. Thầy cô chủ nhiệm phải luôn có tình cảm yêu thương, niềm tin
động viên học sinh bởi “Chỉ có tấm lòng mới đánh thức được tấm lòng”. Giáo viên
cần phải khéo léo, linh hoạt trong mỗi trường hợp cụ thể, biết tập hợp và sử dụng
sức mạnh của các yếu tố giáo dục nhằm rèn luyện cho học sinh cá biệt. Giáo viên
chủ nhiệm cần tuyệt đối tránh tư tưởng định kiến cách cư xử thiếu sư phạm đối với
học sinh. Bản thân tôi luôn quan tâm đến tâm tư, tình cảm của học sinh, tôi động
viên học sinh vượt qua những khó khăn trong cuộc sống bằng sự ân cần, tận tụy.
Từ đầu năm học tới giờ, tôi đã ít nhất hai lần ngồi tâm sự vào tối thứ 7 với
em học sinh Lăng Văn Nhớ (Lớp 12A1)và một số học sinh khác vì các em luôn tìm
đến tôi để tâm sự những vướng mắc, khó khăn cả về học tập lẫn tâm tư, tình cảm
trong chuyện tình yêu đôi lứa với một học sinh nữ. Tôi đã nhẹ nhàng phân tích,
giảng giải thấu đáo và định hướng cho em có những lựa chọn sáng suốt trên con
đường tương lai của bản thân.
Để học sinh tin yêu, kính trọng thì trước tiên tôi phải có một chuẩn mực đạo
đức trong sáng, lành mạnh, chí công , vô tư. Có lẽ tôi tin rằng bản thân mình chính
là tấm gương sáng về sự nỗ lực vượt khó, sửa sai và tự học để học sinh noi theo.
- Tôi đã áp dụng quy định thưởng, phạt phân minh, nghiêm túc, công bằng
để học sinh cá biệt có động lực mục tiêu phấn đấu. Có công thì dù là nhỏ nhất với
học sinh yếu kém cũng động viên khích lệ học sinh đó bằng một phần thưởng, có
lỗi thì dù là lớp trưởng hay bí thư của lớp cũng phải chấp nhận bằng một hình phạt
phù hợp (Phạt lấy công chuộc tội bằng cách ghi 1 đến 2 điểm khá, giỏi trong tuần
kế tiếp)
- Kết hợp chặt chẽ đối với giáo viên bộ môn vừa để hiểu hơn về học sinh
vừa giúp học sinh có những cố gắng ở từng môn học. Đồng thời, kết hợp chặt chẽ
với ĐTN để thống nhất biện pháp giáo dục học sinh cá biệt.
Bản thân tôi sẽ lưu trữ và khai thác thông tin về học sinh cá biệt bằng cách,
thu thập thông tin về học sinh thông qua hoạt động giáo dục hàng ngày lưu trữ
thông qua phiếu phát cho học sinh ngay từ đầu năm, ghi chép chi tiết tỉ mỉ để có
căn cứ giáo dục và theo dõi sự tiến bộ của học sinh để từ đó có cách đánh giá
khách quan nhất giúp học sinh tiến bộ đấy chính là mục đích của việc giáo dục.


CHUYÊN ĐỀ 2: KHẮC PHỤC TRẠNG THÁI TÂM LÍ CĂNG THẲNG TRONG
HỌC TẬP CỦA HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG (Module THPT 12)
1. Khái niệm stress:
- Stress là hiện tượng rất phức tạp và rất khó định nghĩa chính xác. Trong cuộc
sống thường nhật khái niệm này thường được dùng để mô tả trạng thái bực bội
hoặc tâm lí bất an.
- Stress xuất hiện khi áp lực vượt quá khả năng thông thường để ứng phó.
- Stress là tình trạng căng thẳng thể hiện mối tương tác giữa tác nhân công kích và
phản ứng của cơ thể.
- Stress là phản ứng của con người đối với một tác nhân được coi là có hại cho cơ
thể và tâm lí con người.
2. Các yếu tố ảnh hưởng đến stress trong học tập của học sinh THPT:
Có các nguyên nhân cơ bản sau:
- Môi trường bên ngoài: Thiên tai, thời tiết, tiếng ồn, giao thông, ô nhiễm môi
trường…
- Từ xã hội và gia đình: Thời hạn của công việc phải hoàn thành, các vấn đề tài
chính, áp lực công việc, môi trường làm việc không thuận lợi, thay đổi về thời gian


làm việc,…hay do sự mất mát của người thân, mâu thuẫn trong gia đình, quan hệ
bạn bè không tốt, …
- Các vấn đề về thể chất: Thay đổi cơ thể, không đủ chất dinh dưỡng, ốm đau, bệnh
tật…Đôi khi, cách chúng ta suy nghĩ hay phiên giải những điều đã hoặc sẽ xảy ra
đem đến cho chính mình rất nhiều căng thẳng.
- Có tới 68% người bị stress là do công việc.
- 75% dân số đã từng trải qua ít nhất bị stress 2 tuần/1 lần.
3.Các biểu hiện của stress trong học tập:
Về thứ bậc các biểu hiện stress của học sinh: Trong số 10 biểu hiện có thứ
bậc cao nhất: Học sinh khi bị stress hay có nhiều biểu hiện của dạng cơ thể như
nhức đầu, mệt mỏi, ngủ nhiều, uể oải khắp cơ thể và hoạt động bị giảm sút, không
tập trung làm được việc và hiệu quả công việc cũng từ đó không theo như ý muốn,
không hài lòng với bản thân.
Đa phần có nhiều biểu hiện của sự thay đổi cảm xúc như dễ tức giận, dễ nổi
cáu, bực bội khó chịu và stress cũng có tác động đến hoạt động nhận thức của học
sinh như là khó tập trung chú ý, cảm giác trống rỗng, ý nghĩ rời rạc không liền
mạch, ý tưởng hình ảnh lộn xộn trong đầu. Bên cạnh đó, còn có một số tỉ lệ học
sinh có các biểu hiện ở mức độ nặng như: nhức đầu (9.0%), khó tập trung chú ý
(8.6%), tiêu phí thời gian hoặc trì hoãn làm việc (8.6%), không hài lòng về bản
thân (8.3%), ngủ nhiều (7.9%), thấy uể oải khắp cơ thể (6.9%)…Rõ ràng những
biểu hiện này ảnh hưởng ít nhiều đến cuộc sống học sinh nhất là ảnh hưởng đến
hoạt động học tập của họ.
4. Sau khi nghiên cứu học tập module 12. Tôi đã vận dụng một số phương
pháp cụ thể để đối phó làm giảm stress trong học tập của học sinh như sau:
Việc đầu tiên là học sinh phải biết nhận ra các dấu hiệu của stress: những bất
thường về thể chất, thần kinh và các mối quan hệ xã hội. Ứng phó với stress là khả
năng giữ thăng bằng khi xảy ra những tình huống những sự việc đòi hỏi quá sức.
Một số cách đối phó vời stress:
- Hãy xem xung quanh có điều gì có thể thay đổi để xoay chuyển tình hình khó
khăn.
- Đừng để tâm đến những việc lặt vặt, việc nào thật quan trọng thì làm làm trước,
tạm gạt bỏ những việc không thật sự quan trọng sang một bên.
- Tránh những phản ứng thái quá.
- Không được trốn tránh bằng những trò vô bổ.
- Đặt những mục tiêu cụ thể cho bản thân, cắt bớt khối lượng công việc.
- Thay đổi cách nhìn nhận mọi việc.
- Chữa stress bằng các hoạt động thể chất.
Phương pháp trợ giúp học sinh ứng phó với stress trong học tập:
- Chăm sóc sức khỏe và tránh những nguy hiểm có thể có.
- Can thiệp sớm một cách trực tiếp, chủ động và bình tĩnh.
- Tập trung vào những vấn đề của hiện tại.
- Cung cấp những thông tin chính xác vè những gì đã xảy ra.
- Không nói những điều không có khả năng thực thi.
- Cung cấp và đảm bảo về những trợ giúp tâm lí.


- Tập trung vào những lợi thế, khả năng phục hồi của học sinh.
- Khuyến khích ý chí tự lực.
- Quan tam đến cảm xúc của những người xung quanh.
*Một số biện pháp giúp giảm bớt căng thẳng tâm lí:
- Thể dục, thể thao hay vận động.
- Cười thoải mái, thư giãn: nghe nhạc, đọc sách, xem phim…
- Chế độ ăn uống, nghỉ ngơi hợp lí.
- Ngủ đủ giấc, ngủ sâu, ngủ đúng giờ.
- Sự chia sẻ, hỗ trợ từ người thân, bạn bè.
- Sắp xếp thời gian hợp lí, có kĩ năng lập kế hoạch.
- Rèn luyện tư duy tích cực…
- Để giảm stress cho học sinh, nhà trường nên thường xuyên tổ chức các hoạt động
tập thể, tổ chức thảo luận dân chủ để hiểu rõ mục đích, ý nghĩa và nội dung của các
phong trào thi đua, sau đó sẽ lựa chọn các hoạt đông cụ thể phù hợp với sở thích
hứng thú, năng lực, nhu cầu tâm lí của học sinh.
- Các hoạt động kích thích cho học sinh cơ hội tìm kiếm, phát hiện tri thức, hình
thành những kĩ năng phù hợp, những cảm xúa tích cực, kĩ năng sống cần thiết.
- Nhà trường cần sáng tạo nhiều hình thức tuyên truyền, vận động các phong trào
thi đua, đổi mới, nâng cao chất lượng dạy và học. tham gia các phong trào sẽ giúp
các em hình thành tự tin, giảm stress đáng kể.
CHUYÊN ĐỀ 3: HỒ SƠ DẠY HỌC (Module THPT 16)
Nội dung 1: Những vấn đề chung về hồ sơ dạy học
1. Hồ sơ dạy học là gì?
Hồ sơ dạy học là tập hợp các kế hoạch sổ sách, tài liệu chuyên môn của
môn học được chuẩn bị trước theo sự chỉ đạo của nhà trường và sự phân công của
tổ chuyên môn, giúp giáo viên thực thi dạy học trong quá trình công tác để đạt mục
tiêu chất lượng dayh học đã đề ra
Hồ sơ chuyên môn là tập hợp các văn bản chỉ đạo chuyên môn của các cấp,
những tài liệu chuyên môn về chương trình khung phân phối, các chuẩn kiến thức
kĩ năng, mục tiêu của môn học, các kế hoạch phân công dạy học, sinh hoạt chuyên
môn, dự giờ thăm lớp, đăng kí thi đua, đăng kí học tập năng cao chuyên môn
nghiệp vụ… hồ sơ này do tổ chuyên môn chủ trì xây dựng
Sổ bồi dưỡng chuyên môn cá nhân là những tích lũy ghi chép và tự bồi
dưỡng của giáo viên trong các đợt tập huấn chuyên môn, sinh hoạt chuyên môn, từ
bồi dưỡng về các kĩnh vực:
+ nội dung chương trình, tài liệu SGK
+ Các phương pháp dạy học, kĩ thuật dạy học tích cực bộ môn
+ Các Kĩ năng dạy tích hợp, lồng ghép các nội dung giáo dục
+ Các kĩ năng sử dụng thiết bị dạy học bộ môn
+ Các kĩ năng sử dụng CNTT vào dạy học
+ Tự làm thiết bị dạy học
+ Kinh nghiệm phụ đạo Hs yếu kém


+ Kinh nghiệm bồi dưỡng học sinh giỏi
+ Kế hoạch bồi dưỡng thường xuyên
+ Những kinh nghiệm về giáo dục sư phạm khác
Sổ này do GV ghi chép trong quá trình công tác nhiều năm
+ Sổ dự giờ
+ Sổ điểm cá nhân
+ Sổ mượn thiết bị dạy học
+ Sổ báo giảng
+ Kế hoạch bài học
2. Các bước trong quy trình xây dựng hồ sơ dạy học:
- B1: tổ chuyên môn thảo luận trao đổi về các văn bản của các cấp, xây dựng Kh tổ
chuyên môn
- B2: Hoàn thiện các thông tin chung
- B3: Tìm hiểu và cập nhật sổ bồi dưỡng thường xuyên cá nhân
- B4: Tìm hiểu và cập nhật sổ dự giờ, sổ mượn thiết bị
- B5: Xây dựng kế hoặc bài học dựa vào TKB để xây dựng sổ báo giảng
3. Qui trình kiểm tra theo chuẩn kiến thức kỹ năng được thực hiện qua các
bước sau:

4. Cách sử dụng bảo quản và bổ sung hồ sơ dạy học:
* Sử dụng:


* Bảo quản:
- GV có trách nhiệm cập nhật và bảo quản giáo án, sổ báo giảng, sổ dự giờ, sổ
bồi dưỡng chuyên môn.
- Tổ trưởng chuyên môn bảo quản hồ sơ của tổ chuyên môn.
- GV và viên chức thiết bị dạy học cập nhật và bảo quản sổ thiết bị dạy học.
Tất cả các sổ sách, kế hoạch trong hồ sơ dạy học được giáo viên và nhà trường
cập nhật, bổ sung và bảo quản theo quy định.
5. Các năng lực cần thiết ở giáo viên THPT trong xây dựng và phát triển
hồ sơ dạy học:



CHUYÊN ĐỀ 4: DẠY HỌC VỚI CÔNG NGHỆ THÔNG TIN (Module THPT 19)

1. Những tác động tích cực và hạn chế thường gặp trong việc ứng dụng CNTT
vào quá trình dạy học hiện nay:
a. Tác động tích cực trong việc ứng dụng CNTT vào quá trình dạy học:
- Môi trường đa phương tiện kết hợp những hình ảnh vedeo, camera … với
âm thanh, văn bản, biểu đồ … được trình bày qua máy tính theo kịch bản vạch sẵn
nhằm đạt hiệu quả tối đa qua một quá trình học đa giác quan;
- Kĩ thuật đồ hoạ nâng cao có thể mô phỏng nhiều quá trình, hiện tượng trong tự
nhiên, xã hội trong con người mà không thể hoặc không nên để xảy ra trong điều
kiện nhà trường;


- Công nghệ tri thức nối tiếp trí thông minh của con người, thực hiện những công
việc mang tính trí tuệ cao của các chuyên gia lành nghề trên những lĩnh vực khác
nhau;
- Những ngân hàng dữ liệu khổng lồ và đa dạng được kết nối với nhau và với
người sử dụng qua những mạng máy tính kể cả Internet … có thể được khai thác
để tạo nên những điều kiện cực kì thuận lợi và nhiều khi không thể thiếu để học
sinh học tập trong hoạt động và bằng hoạt động tự giác, tích cực và sáng tạo, được
thực hiện độc lập hoặc trong giao lưu.
Những thí nghiệm, tài liệu được cung cấp bằng nhiều kênh: kênh hình, kênh chữ,
âm thanh sống động làm cho học sinh dễ thấy, dễ tiếp thu và bằng suy luận có lý,
học sinh có thể có những dự đoán về các tính chất, những quy luật mới. Đây là một
công dụng lớn của công nghệ thông tin và truyền thông trong quá trình đổi mới
phương pháp dạy học. Có thể khẳng định rằng, môi trường công nghệ thông tin và
truyền thông chắc chắn sẽ có tác động tích cực tới sự phát triển trí tuệ của học sinh
và điều này làm nảy sinh những lý thuyết học tập mới.
Theo nhận định của một số chuyên gia, thì việc đưa công nghệ thông tin và
truyền thông ứng dụng vào lĩnh vực giáo dục và đào tạo bước đầu đã đạt được
những kết quả khả quan.
b. Những hạn chế trong việc ứng dụng CNTT vào quá trình dạy học:
Bên cạnh những thuận lợi đã đạt được vẫn còn hết sức khiêm tốn. Khó
khăn, vướng mắc và những thách thức vẫn còn ở phía trước bởi những vấn đề nảy
sinh từ thực tiễn. Chẳng hạn:
- Tuy máy tính điện tử mang lại rất nhiều thuận lợi cho việc dạy học nhưng
trong một mức độ nào đó, thì công cụ hiện đại này cũng không thể hỗ trợ giáo viên
hoàn toàn trong các bài giảng của họ. Nó chỉ thực sự hiệu quả đối với một số bài
giảng chứ không phải toàn bộ chương trình do nhiều nguyên nhân, mà cụ thể là,
với những bài học có nội dung ngắn, không nhiều kiến thức mới, thì việc dạy theo
phương pháp truyền thống sẽ thuận lợi hơn cho học sinh, vì giáo viên sẽ ghi tất cả
nội dung bài học đó đủ trên một mặt bảng và như vậy sẽ dễ dàng củng cố bài học
từ đầu đến cuối mà không cần phải lật lại từng “slide” như khi dạy trên máy tính
điện tử. Những mạch kiến thức “ vận dụng” đòi hỏi giáo viên phải kết hợp với
phấn trắng bảng đen và các phương pháp dạy học truyền thống mới rèn luyện được
kĩ năng cho học sinh.
- Bên cạnh đó, kiến thức, kỹ năng về công nghệ thông tin ở một số giáo viên
vẫn còn hạn chế, chưa đủ vượt ngưỡng để đam mê và sáng tạo, thậm chí còn né
tránh. Mặc khác, phương pháp dạy học cũ vẫn còn như một lối mòn khó thay đổi,
sự uy quyền, áp đặt vẫn chưa thể xoá được trong một thời gian tới. Việc dạy học
tương tác giữa người - máy, dạy theo nhóm, dạy phương pháp tư duy sáng tạo cho
học sinh, cũng như dạy học sinh cách biết, cách làm, cách chung sống và cách tự
khẳng định mình vẫn còn mới mẻ đối với giáo viên và đòi hỏi giáo viên phải kết
hợp hài hòa các phương pháp dạy học đồng thời phát huy ưu điểm của phương
pháp dạy học này làm hạn chế những nhược điểm của phương pháp dạy học truyền
thống. Điều đó làm cho công nghệ thông tin, dù đã được đưa vào quá trình dạy
học, vẫn chưa thể phát huy tính trọn vẹn tích cực và tính hiệu quả của nó.


- Việc sử dụng công nghệ thông tin để đổi mới phương pháp dạy học chưa
được nghiên cứu kỹ, dẫn đến việc ứng dụng nó không đúng chỗ, không đúng lúc,
nhiều khi lạm dụng nó.
- Việc đánh giá một tiết dạy có ứng dụng công nghệ thông tin còn lúng túng,
chưa xác định hướng ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học. Chính sách, cơ
chế quản lý còn nhiều bất cập, chưa tạo được sự đồng bộ trong thực hiện. Các
phương tiện, thiết bị phục vụ cho việc đổi mới phương pháp dạy học bằng phương
tiện chiếu projector, … còn thiếu và chưa đồng bộ và chưa hướng dẫn sử dụng nên
chưa triển khai rộng khắp và hiệu quả.
- Việc kết nối và sử dụng Internet chưa được thực hiện triệt để và có chiều
sâu; sử dụng không thường xuyên do thiếu kinh phí, do tốc độ đường truyền. Công
tác đào tạo, Công tác bồi dưỡng, tự bồi dưỡng đội ngũ giáo viên chỉ mới dừng lại ở
việc xoá mù tin học nên giáo viên chưa đủ kiến thức, mất nhiều thời gian và công
sức để sử dụng công nghệ thông tin trong lớp học một cách có hiệu quả
2. Đánh giá tình hình ứng dụng CNTT trong dạy học ở trường THPT Bình
Gia:
Như chúng ta đã biết, hiện nay ứng dụng Công nghệ Thông tin (CNTT) đã
được áp dụng ở hầu hết các lĩnh vực hoạt động của xã hội và mang lại hiệu quả
thiết thực. Trong giáo dục cũng vậy, CNTT đã mang lại triển vọng to lớn trong
việc đổi mới phương pháp, hình thức dạy học và quản lý giáo dục.
Cùng với việc đổi mới chương trình, sách giáo khoa thì việc đổi mới phương
pháp giảng dạy để nâng cao chất lượng giáo dục là hết sức cần thiết. Hiện nay
ngoài các phương pháp dạy học truyền thống, việc ứng dụng CNTT trong dạy học
sẽ góp phần làm cho giờ học trở nên sinh động, hiệu quả, kích thích được tính tích
cực, sáng tạo của học sinh.
Việc triển khai ứng dụng CNTT trong dạy học ở trường THPT Bình Gia.
Những công việc đã triển khai: Trường THPT Bình Gia là một trường nằm
trên địa bàn nông thôn miền núi với đội ngũ giáo viên có mặt bằng kiến thức Tin
học chưa cao, cơ sở vật chất còn nhiều thiếu thốn, trong những năm qua nhà
trường đã từng bước ứng dụng CNTT trong công tác dạy học cụ thể là:
- Việc đầu tiên là triển khai công tác đồng nghiệp giúp đỡ đồng nghiêp, đào
tạo kiến thức Tin học cơ bản cho đội ngũ giáo viên, sau đó từng bước nâng cao
kiến thức Tin học cho giáo viên thông qua các lớp tập huấn về phương pháp thiết
kế bài giảng điện tử, sử dụng các phần mềm dạy học như Sketchpad, Violet, ...
thiết kế bài giảng bằng Powerpoint và cách sử dụng một số phần mềm dạy học cho
đội ngũ giáo viên trong trường.
- Mua sắm thiết bị Tin học như máy tính, máy chiếu Projector, máy quay phim
- chụp ảnh kĩ thuật số, phần mềm xếp thời khóa biểu, phần mềm giáo án Trí Việt ...
- Kết nối mạng Internet (ADSL) Wifi cho giáo viên tra cứu thông tin qua
mạng.
- Phát động các đợt thao giảng bằng bài giảng điện tử với các tư liệu, mô
phỏng, thí nghiệm ảo do giáo viên tự tìm tòi và tự thiết kế.
Những kết quả đã đạt được: Sau hai năm thực hiện, cho đến nay đã có kêt
quả ban đầu như sau:
- Có 98 % giáo viên biết sử dụng máy tính để soạn thảo văn bản.


- Khoảng 50% giáo viên có thể thiết kế bài giảng điện tử và 1/3 trong số đó có
thể sử dụng các phần mềm dạy học của bộ môn mình dạy.
- Thiết kế và tổ chức thực hiện một số bài giảng điện tử ở các môn học như
Hoá học, Địa lý, GDCD, Tiếng Anh, Công nghệ, Ngữ văn, Tin học, Vật lý…
- Xây dựng các thí nghiệm ảo, các tư liệu mô phỏng của một số môn học như
Hoá học, Vật lý, Công nghệ, …
* Ứng dụng CNTT trong dạy học, thực trạng và giải pháp:
1. Thực trạng việc ứng dụng CNTT trong dạy học hiện nay.
- Việc ứng dụng CNTT trong dạy học ở trường THPT Bình Gia hiện nay chủ
yếu chỉ ở hình thức thiết kế các bài giảng điện tử (phần lớn là sử dụng phần mềm
trình chiếu PowerPoint hay sử dụng phần mềm Violet).
- Các bài giảng điện tử thông thường được download từ mạng về chỉnh sửa
hoặc tự làm và chủ yếu là trình chiếu nội dung bài học, chất lượng chưa cao, chưa
phát huy được điểm mạnh của CNTT. Có rất ít những giáo án được tích hợp
Multimedia, các thí nghiệm mô phỏng, các tư liệu cần thiết cho mỗi bài giảng.
- Hiện nay việc ứng dụng CNTT trong dạy học đang mang tính chất thời vụ,
theo phong trào (và thậm chí là đối phó) mà chưa được sử dụng một cách thường
xuyên, liên tục trong quá trình dạy học. Phần lớn giáo viên rất ngại việc ứng CNTT
trong dạy học do thiết kế một bài giảng điện tử, thu thập các tư liệu điện tử mất rất
nhiều thời gian và việc tổ chức một bài giảng có ứng dụng CNTT cũng rất phiền
phức (nhà trường chưa có phòng học máy chiếu)…
2. Một số giải pháp thúc đẩy việc ứng dụng CNTT trong công tác dạy học:
Ứng dụng CNTT trong dạy học hiện nay theo tôi chủ yếu là tạo các tư liệu
điện tử, xây dựng các thí nghiệm ảo, các mô phỏng, thiết kế các bài giảng điện tử,

Để triển khai tốt việc ứng dụng CNTT trong dạy học tôi xin đề xuất một số
giải pháp như sau:
- Trước tiên phải có sự quan tâm, chỉ đạo sát sao của Ban lãnh đạo nhà trường,
và trong trường cần phải có những người tiên phong trong việc ứng dụng CNTT
trong dạy học.
- Cần đầu tư mua sắm các thiết bị Tin học như máy tính, máy chiếu, máy quay
phim - chụp ảnh, … Và tốt nhất phải có các phòng học máy chiếu, phòng truy cập
Internet dành cho giáo viên để học tập, tra cứu thông tin.
- Cần triển khai tốt việc tập huấn, bồi dưỡng kiến thức Tin học cho đội ngũ
giáo viên từ Tin học cơ bản đến cách thiết kế bài giảng điện tử, sử dụng các phần
mềm dạy học.
+ Trước hết là mở các lớp đào tạo kiến thức Tin học cơ bản cho cán bộ, giáo
viên trong trường.
+ Hiện nay trong khi việc thiết kế bài giảng theo công nghệ e-Learning chưa
được sử dụng rộng rãi thì các bài giảng điện tử chủ yếu được thiết kế bằng phần
mềm trình chiếu Powerpoint, phần mềm Violet cho nên cần mở các lớp tập huấn
cách sử dụng các phần mềm nói trên.


- Để có các bài giảng chất lượng cần phải có các tư liệu, các video clip, các thí
nghiệm mô phỏng phù hợp do vậy cần phải hướng dẫn cho giáo viên cách tìm
kiếm tư liệu trên mạng Internet, cách sử dụng các phần mềm dạy học phù hợp với
đặc thù từng môn học chẳng hạn:
+ Đối với môn Toán: Phần mềm hình học Geometer’s Sketchpad, phần
mềm soạn thảo công thức Match Type, …
+ Đối với môn Hoá học:ACD/ChemSketch - phần mềm hỗ trợ vẽ công
thức, phương trình và tính toán cân bằng hóa học, hay Chemlab - Phần mềm thiết
kế thí nghiệm hoá học, CS ChemDraw…
+ Thiết kế thí nghiệm vật lý ảo với phần mềm Crocodile Physics.
+ Đối với việc dạy ngoại ngữ có thể sử dụng các phần mềm trợ giúp việc
dạy phát âm chính xác hoặc trực tiếp truy cập vào trang
Web: www.spokentext.net để tạo các bài đọc hiểu với giọng đọc của người bản
xứ.
+ Đối với các môn học xã hội cần hướng dẫn giáo viên thu thập tư liệu qua mạng
thông qua các website tìm kiếm như: www.google.com.vn, www.yahoo.com,
www.altavista.com, www.msn.com.
- Việc ứng dụng CNTT trong dạy học như thế nào còn phù thuộc vào đặc thù từng
môn học, từng nội dung bài học cụ thể. Vì vậy để triển khai hiệu quả ứng dụng
CNTT trong dạy học và giảm bớt thời gian tìm kiếm, tạo tư liệu, thiết kế bài giảng
cần có sự chỉ đạo một kế hoạch lâu dài và cụ thể đó là:
+ Trước khi bước vào năm học mới BGH cần giao cho các tổ, các nhóm bộ
môn rà soát toàn bộ chương trình để xác định những tiết học nào, những nội dung
nào cần áp dụng ứng dụng CNTT để bài giảng đạt hiệu quả cao nhất. Đồng thời liệt
kê các tư liệu điện tử cần thiết cho từng bài, từng chương của từng môn học.
+ Giao các tổ, nhóm chuyên môn có trách nhiệm thu thập, tìm kiếm, thiết
kế các tư liệu cần thiết phục vụ cho bộ môn của mình. Và đây chính là kho tư liêu
dùng chung cho cả tổ (nhóm) chuyên môn sau khi đã được biên tập, chỉnh sửa.
- Phát động các phong trào thi đua thao giảng bằng bài giảng điện tử, các
phong trào tự thiết kế các thiết bị dạy học điện tử, … có có động viên khen thưởng
kịp thời cho những cá nhân tích cực.
- Và cuối cùng, nếu có điều kiện đưa các bài giảng điện tử, các tư liệu điện tử
lên website để có thể chia sẻ thông tin qua mạng. Tổ chức các diễn đàn trao đổi
kinh nghiệm về ứng dụng CNTT trong dạy học từ đó có thể thúc đẩy và nâng cao
hiệu quả việc ứng dụng CNTT trong dạy học.
Bình Gia ngày 20/05/2014
Người viết thu hoạch

Đinh Xuân Hạnh
Bình Gia, ngày .....tháng.....năm .......


Người thực hiện
(Ký, ghi họ tên)



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×