Tải bản đầy đủ

giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động tư vấn tại công ty cổ phần chứng khoán MBx

Công ty CP chứng khoán MB Học viện Tài chính
MỤC LỤC
Trang bìa ……………………………………………………………………….. i
Lời cam đoan …………………………………………………………………...ii
Mục lục …………………………………………………………………………iii
Danh mục các chữ viết tắt…………………………………………………….vii
Danh mục các bảng…………………………………………………………… viii
Danh mục các hình……………………………………………………………..ix
SV: Phạm Thị Lan Anh CQ47/17.02 Page
2
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Ngày nay có hàng trăm cách đầu tư để tìm lợi nhuận cao nhất từ những số
vốn nhỏ nhất. Phần lớn những cách đầu tư tạo vốn đơn giản và có hiệu quả nhất
đuợc thực hiện thông qua thị truờng chứng khoán.Thị truờng chứng khoán là
một định chế tài chính đặc trưng của cơ chế kinh tế thị truờng. Để có một thị
truờng chứng khoán hoạt động lành mạnh và hiệu quả, đòi hỏi phải có sự
kết hợp của nhiều yếu tố, trong đó các thành viên tham gia thị truờng chiếm
một vai trò quan trọng . Một trong những thành viên đó là các công ty
chứng khoán.
Hiện nay thị trường chứng khoán Việt Nam đang có 105 công ty

chứng khoán hoạt động trong đó Công ty cổ phần chứng khoán MB là 1
trong 10 công ty chứng khoán hàng đầu Việt Nam với mức vốn điều lệ lên
đến 1200 tỷ đồng và được Uỷ ban chứng khoán Nhà nước cho phép thực
hiện các hoạt động: môi giới chứng khoán, tư vấn tài chính và tư vấn đầu
tư chứng khoán, tự doanh chứng khoán , bảo lãnh phát hành chứng khoán,
lưu ký chứng khoán. Trong tất cả các hoạt động trên hoạt động tư vấn là
nghiệp vụ được công ty tập trung phát triển trong những năm gần đây
nhưng doanh thu còn thấp và chưa phát huy được hết tiềm năng.
Cùng với nhận thức trên, trong quá trình thực tập tại công ty cổ phần
chứng khoán MB và dựa trên sự tìm hiểu về hoạt động tư vấn, em đã chọn
đề tài: “Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động tư vấn tại Công ty cổ
phần chứng khoán MB”.
2. Mục đích nghiên cứu
- Hệ thống các vấn đề lý luận về hoạt động tư vấn tài chính và tư vấn đầu tư
chứng khoán của công ty chứng khoán.
SV: Phạm Thị Lan Anh CQ47/17.02 Page
3
- Đánh giá, phân tích thực trạng về hoạt động tư vấn tại Công ty cổ phần
chứng khoán MB.
- Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động tư vấn tại
Công ty cổ phần chứng khoán MB.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu là hoạt động tư vấn của Công ty cổ phần chứng
khoán MB.
- Phạm vi nghiên cứu là kết quả hoạt động kinh doanh của Công ty cổ phần
chứng khoán MB trong 3 năm 2010, 2011, 2012.
4. Nội dung khái quát của luận văn
Phần nội dung chính gồm 3 chương:
- Chương I: Công ty chứng khoán và hiệu quả hoạt động tư vấn tại công ty
chứng khoán.
- Chương II: Thực trạng hoạt động kinh doanh và hiệu quả hoạt động tư vấn
tại Công ty cổ phần chứng khoán MB.
- Chương III: Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động tư vấn tại Công ty cổ
phần chứng khoán MB.
CHƯƠNG I
CÔNG TY CHỨNG KHOÁN VÀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG TƯ
VẤN TẠI CÔNG TY CHỨNG KHOÁN
1.1. Những vấn đề cơ bản về công ty chứng khoán
1.1.1. Khái niệm, mô hình tổ chức của công ty chứng khoán
1.1.1.1. Khái niệm công ty chứng khoán


SV: Phạm Thị Lan Anh CQ47/17.02 Page
4
Căn cứ theo Quy chế tổ chức và hoạt động của công ty chứng khoán
ban hành kèm theo Quyết định 27/2007/QĐ-BTC ngày 24/42007 của Bộ
trưởng Bộ tài chính, công ty chứng khoán được định nghĩa như sau:
Công ty chứng khoán là tổ chức có tư cách pháp nhân hoạt động kinh
doanh chứng khoán, bao gồm một, một số hoặc toàn bộ các hoạt động: môi
giới chứng khoán, tự doanh chứng khoán, bảo lãnh phát hành chứng khoán,
tư vấn đầu tư chứng khoán và tư vấn tài chính…
Công ty chứng khoán là một tổ chức tài chính trung gian, được thành
lập khi có sự chấp thuận của Ủy ban chứng khoán Nhà nước. Để được cấp
giấy phép thành lập và hoạt động, công ty chứng khoán phải đảm bảo yêu
cầu về quyền sử dụng trụ sở làm việc tối thiểu 1 năm, trong đó diện tích làm
sàn giao dịch phục vụ nhà đầu tư tối thiểu 150m
2
; có đầy đủ cơ sở vật chất,
kỹ thuật phục vụ hoạt động kinh doanh bao gồm: sàn giao dịch phục vụ
khách hàng, thiết bị văn phòng, hệ thống máy tính cùng các phần mềm thực
hiện hoạt động giao dịch chứng khoán, trang thông tin điện tử, bảng tin để
công bố thông tin cho khách hàng, hệ thống kho két bảo quản chứng từ giao
dịch đối với công ty chứng khoán có nghiệp vụ môi giới chứng khoán, tự
doanh chứng khoán; đáp ứng mức vốn pháp định theo từng loại hình kinh
doanh và nhân viên công ty phải có chứng chỉ hành nghề.
Đóng vai trò là tổ chức tài chính trung gian, công ty chứng khoán góp
phần thúc đẩy sự pháp triển của nền kinh tế nói chung và của thị trường
chứng khoán nói riêng. Thông qua các công ty chứng khoán, các cổ phiếu
và trái phiếu được mua bán trên thị trường chứng khoán, qua đó một lượng
vốn khổng lồ được đưa vào đầu tư từ việc tập hợp những nguồn vốn nhỏ lẻ
trong công chúng.
1.1.1.2. Mô hình tổ chức của công ty chứng khoán
- Mô hình công ty đa năng
SV: Phạm Thị Lan Anh CQ47/17.02 Page
5
Theo mô hình này, các ngân hàng thương mại hoạt động với tư cách là
chủ thể kinh doanh chứng khoán, bảo hiểm và kinh doanh ngoại tệ. Mô hình
này được chia thành 2 loại:
+ Loại đa năng 1 phần: các ngân hàng muốn kinh doanh chứng khoán
phải lập công ty độc lập hoạt động tách rời.
+ Loại đa năng hoàn toàn: các ngân hàng được kinh doanh chứng
khoán, kinh doanh bảo hiểm bên cạnh kinh doanh tiền tệ.
Ưu điểm của mô hình này là ngân hàng có thể kết hợp nhiều lĩnh vực
kinh doanh, nhờ đó giảm bớt rủi ro cho hoạt động kinh doanh chung và có
khả năng chịu đựng các biến động của thị trường chứng khoán. Mặt khác,
ngân hàng sẽ tận dụng được thế mạnh chuyên môn và vốn để kinh doanh
chứng khoán.
Tuy nhiên, mô hình này cũng bộc lộ 1 số hạn chế như: không phát
triển được thị trường cổ phiếu vì các ngân hàng có xu hướng bảo thủ và
thích hoạt động cho vay hơn là bảo lãnh phát hành cổ phiếu, trái phiếu.
Đồng thời, các ngân hàng cũng dễ gây lũng đoạn thị trường và các biến
động trên thị trường chứng khoán nếu có, sẽ ảnh hưởng mạnh tới hoạt động
kinh doanh tiền tệ của ngân hàng do không tách bạch giữa 2 loại hình kinh
doanh này.
- Mô hình công ty chuyên doanh
Theo mô hình này, hoạt động chuyên doanh chứng khoán sẽ do các
công ty độc lập, chuyên môn hóa trong lĩnh vực chứng khoán đảm nhận,
các ngân hàng không được tham gia kinh doanh chứng khoán.
Mô hình này khắc phục được hạn chế của mô hình đa năng: giảm rủi
ro cho hệ thống ngân hàng, tạo điều kiện cho các công ty chứng khoán kinh
doanh chuyên môn hóa, thúc đẩy sự phát triển của thị trường chứng khoán.
1.1.2. Các hoạt động cơ bản của công ty chứng khoán
1.1.2.1. Hoạt động môi giới chứng khoán
SV: Phạm Thị Lan Anh CQ47/17.02 Page
6
Là hoạt động kinh doanh chứng khoán trong đó công ty chứng khoán
đứng ra làm đại diện cho khách hàng tiến hành giao dịch thông qua cơ chế
giao dịch trên sở giao dịch chứng khoán hoặc thị trường OTC mà chính
khách hàng sẽ phải chịu trách nhiệm đối với kết quả giao dịch đó. Người
môi giới chỉ thực hiện theo lệnh của khách hàng để hưởng phí hoa hồng, họ
không phải chịu rủi ro từ hoạt động giao dịch đó.
Với tư cách là người môi giới, ngoài việc tiến hành giao dịch theo chỉ
thị của khách hàng, công ty chứng khoán thường cung ứng các dịch vụ tiện
ích khác:
+ Quản lý tài khoản tiền gửi và tài khoản chứng khoán cho khách
hàng.
+ Quản lý các lệnh giao dịch cho khách hàng.
+ Vận hành các đầu mối thông tin và tư vấn cho khách hàng về đầu tư
chứng khoán.
1.1.2.2. Hoạt động tự doanh chứng khoán
Là hoạt động mua, bán chứng khoán cho chính mình để hưởng lợi
nhuận từ việc đầu tư chứng khoán mang lại như chênh lệch giá, cổ tức, lãi
trái phiếu và các quyền khác kèm theo việc sở hữu chứng khoán.
Hoạt động tự doanh công ty phải chịu trách nhiệm với quyết định của
mình, tự gánh chịu rủi ro từ quyết định mua bán chứng khoán của mình.
Hoạt động này thường song hành với hoạt động môi giới. Vì vậy khi thực
hiện 2 hoạt động này có thể dẫn đến xung đột về lợi ích giữa công ty chứng
khoán và khách hàng.Để tránh trường hợp này thông thường các thị trường
đều có chính sách ưu tiên thực hiện lệnh của khách hàng trước khi thực hiện
lệnh của công ty chứng khoán.
Đối với 1 số thị trường, hoạt động tự doanh của công ty chứng khoán
được gắn liền với hoạt động tạo lập thị trường. Các công ty chứng khoán
được thực hiện nghiệp vụ tự doanh thông qua việc mua bán trên thị trường
SV: Phạm Thị Lan Anh CQ47/17.02 Page
7
với vai trò định hướng và điều tiết hoạt động của thị trường, góp phần bình
ổn giá cả trên thị trường.
1.1.2.3. Hoạt động bảo lãnh phát hành chứng khoán
Là cam kết giữa tổ chức bảo lãnh phát hành và tổ chức phát hành về
việc sẽ bán hết hoặc bán 1 phần số lượng chứng khoán dự định phát hành.
Nghiệp vụ bảo lãnh phát hành thực hiện bởi đội ngũ chuyên gia giỏi
về chứng khoán, am hiểu thị trường và có năng lực tài chính. Họ thường có
1 mạng lưới bán hàng rộng khắp để đảm bảo cho đợt phát hành thành công.
Vì vậy thông qua tổ chức bảo lãnh phát hành rủi ro của đợt phát hành sẽ
giảm. Cung ứng dịch vụ này cho khách hàng, công ty chứng khoán được
nhận tiền hoa hồng bảo lãnh. Tiền hoa hồng bảo lãnh được xác định theo
thỏa thuận giữa nhà phát hành với nhà bảo lãnh.
1.1.2.4. Hoạt động tư vấn
Tư vấn là đưa ra những lời khuyên, phân tích các tình huống hay thực
hiện 1 số công việc mang tính chất dịch vụ cho khách hàng. Hoạt động tư
vấn tại công ty chứng khoán chia thành 2 mảng tư vấn tài chính và tư vấn
đầu tư chứng khoán.
Tư vấn tài chính gồm các hoạt động tư vấn phát hành chứng khoán, tư
vấn niêm yết chứng khoán, tư vấn mua bán và sáp nhập (M&A), tư vấn cổ
phân hóa doanh nghiệp, tư vấn tái cơ cấu tài chính doanh nghiệp…
Tư vấn đầu tư chứng khoán là hoạt động phân tích, dự báo các dữ liệu
về lĩnh vực chứng khoán, từ đó đưa các lời khuyên cho khách hàng.
1.1.2.5. Hoạt động quản lý danh mục đầu tư
Là xây dựng một danh mục chứng khoán, tài sản đầu tư đáp ứng tôt
nhất nhu cầu của chủ đầu tư và sau đó thực hiện việc điều chỉnh danh mục
này nhằm đạt được mục tiêu đề ra.
Cũng có thể hiểu quản lý danh mục đầu tư là quá trình nghiên cứu, lựa
chọn cách thức kết hợp các loại chứng khoán riêng lẻ với các mức bù rủi ro
SV: Phạm Thị Lan Anh CQ47/17.02 Page
8
khác nhau vào 1 danh mục đầu tư để giảm thiểu rủi ro đầu tư hoặc để tăng
lợi nhuận kỳ vọng cho danh mục đầu tư mà không làm tăng rủi ro tương
ứng.
1.1.2.6. Các hoạt động khác
Ngoài các hoạt động nêu trên công ty chứng khoán còn có thể thực
hiện các hoạt động khác như: lưu ký chứng khoán, tín dụng chứng khoán.
Lưu ký chứng khoán: là việc nhận chứng khoán do khách hàng gửi,
bảo quản chứng khoán cho khách hàng và giúp khách hàng thực hiện các
quyền của mình đối với chứng khoán như quyền bỏ phiếu, quyền nhận lãi,
gốc trái phiếu, quyền nhận cổ phiếu thường, cổ tức bằng cổ phiếu bằng tiền,
quyền mua cổ phiếu phát hành thêm, quyền chuyển đổi trái phiếu thành cổ
phiếu.
Tín dụng chứng khoán gồm các dịch vụ như: giao dịch ký quỹ, cho
vay cầm cố chứng khoán, nghiệp vụ Repo chứng khoán, cho vay ứng trước
tiền bán chứng khoán, dịch vụ cho vay ứng trước tiền cổ tức.
1.1.3. Vai trò của công ty chứng khoán trên thị trường chứng khoán
Khi doanh nghiệp muốn huy động vốn bằng cách phát hành chứng
khoán, doanh nghiệp không thể tự đi bán số lượng chứng khoán mà doanh
nghiệp phát hành. Do không có trình độ chuyên nghiệp trong lĩnh vực này
nên họ cần có một đội ngũ có chuyên môn trong lĩnh vực này thực hiện cho
họ. Tương tự như vậy, các nhà đầu tư không thể tự đến sở giao dịch chứng
khoán để mua bán vì họ không có chuyên môn, không hiểu quy tắc nghề
nghiệp và với quá đông các nhà đầu tư, việc mua bán sẽ trở nên lộn xộn. Do
vậy các doanh nghiệp, nhà đầu tư tìm tới công ty chứng khoán để thực hiện
nhiệm vụ này cho họ. Công ty chứng khoán có vai trò rất quan trọng trên thị
trường chứng khoán.
- Vai trò huy động vốn
SV: Phạm Thị Lan Anh CQ47/17.02 Page
9
Công ty chứng khoán là 1 trong những trung gian tài chính có chức
năng huy động vốn. Hay nói cách khác công ty chứng khoán có vai trò làm
chiếc cầu nối và là kênh dẫn cho vốn chảy từ 1 hay 1 số bộ phận nào đó của
nền kinh tế có vốn nhàn rỗi đến các bộ phận nào đó của nền kinh tế đang
thiếu vốn. Các công ty chứng khoán thường đảm nhận vai trò này qua các
hoạt động bảo lãnh phát hành và môi giới chứng khoán.
- Vai trò hình thành giá cả chứng khoán
Trên thị trường sơ cấp, khi thực hiện hoạt động bảo lãnh phát hành
chứng khoán cho các tổ chức phát hành, công ty chứng khoán thực hiện vai
trò hình thành giá cả chứng khoán thông qua việc xác định và tư vấn cho tổ
chức phát hành mức giá phát hành hợp lý đối với các chứng khoán trong
đợt phát hành. Thông thường mức giá phát hành thường do các công ty
chứng khoán xác định trên cở sở tiếp xúc, tìm hiểu và thỏa thuận với các
nhà đầu tư tiềm năng lớn trong đợt phát hành đó và tư vấn cho tổ chức phát
hành.
Trên thị trường thứ cấp, dù là thị trường đấu lệnh hay thị trường đấu
giá, công ty chứng khoán luôn có vai trò giúp các nhà đầu tư đánh giá đúng
thực tế và chính xác về giá trị các khoản đầu tư của mình.
Công ty chứng khoán còn có chức năng quan trọng là can thiệp trên thị
trường, góp phần điều tiết giá cả chứng khoán. Theo quy định của các nước,
công ty chứng khoán bắt buộc phải dành ra một tỷ lệ nhất định của mình để
mua bán chứng khoán vào khi giá trên thị trường chứng khoán đang giảm
và bán ra khi giá trên thị trường chứng khoán đang cao.
- Vai trò thực thi tính hoán tệ của chứng khoán
SV: Phạm Thị Lan Anh CQ47/17.02 Page
10
Các nhà đầu tư luôn muốn có được khả năng chuyển tiền mặt thành
chứng khoán và ngược lại trong một môi trường đầu tư ổn định. Các công
ty chứng khoán đảm nhận chức năng này, giúp cho nhà đầu tư ít phải chịu
thiệt hại khi đầu tư. Trong hầu hết các nghiệp vụ đầu tư ở Sở giao dịch
chứng khoán và thị trường phi tập trung, một nhà đầu tư có thể hàng ngày
chuyển đổi tiền mặt thành chứng khoán và ngược lại mà không phải chịu
thiệt hại đáng kể đối với giá trị khoản đầu tư của mình (ít nhất cũng không
thiệt hại do cơ chế giao dịch gây nên). Nói cách khác, có thể có một số nhân
tố bên ngoài ảnh hưởng đến giá trị đầu tư, chẳng hạn như tin đồn về một
vấn đề nào đó trong nền kinh tế, nhưng giá trị khoản đầu tư nói chung
không giảm đi do cơ chế giao dịch của thị trường.
- Thực hiện tư vấn đầu tư
Các công ty chứng khoán không chỉ thực hiện mệnh lệnh của khách
hàng mà còn tham gia vào nhiều dịch vụ tư vấn khác nhau thông qua việc
nghiên cứu thị trường rồi cung cấp các thông tin đó cho các công ty và các
cá nhân đầu tư. Dịch vụ tư vấn có thể gồm:
+ Thu nhập thông tin phục vụ cho mục đích của khách hàng
+ Cung cấp thông tin về các khả năng đầu tư khác nhau cũng như triển
vọng ngán và dài hạn của các khoản đầu tư đó trong tương lai
+ Cung cấp thông tin về chính sách tài chính tiền tệ của Chính phủ có
liên quan đến các khoản đầu tư mà khách hàng đang cân nhắc.
1.2. Hoạt động tư vấn của công ty chứng khoán
1.2.1. Hoạt động tư vấn đầu tư chứng khoán
SV: Phạm Thị Lan Anh CQ47/17.02 Page 10
11
1.2.1.1. Khái niệm
Tư vấn đầu tư chứng khoán là các hoạt động tư vấn liên quan đến
chứng khoán hoặc công bố và phát hành các báo cáo phân tích, đưa ra lời
khuyên có liên quan đến chứng khoán hoặc thực hiện 1 số công việc có tính
chất dịch vụ cho khách hàng.
Theo luật chứng khoán của Việt Nam ban hành ngày 29/6/2006 thì tư
vấn đầu tư chứng khoán là việc công ty chứng khoán cung cấp cho nhà đầu
tư kết quả phân tích, công bố báo cáo phân tích và khuyến nghị liên quan
đến chứng khoán.
Nhà tư vấn phải luôn là người thận trọng khi đưa ra những lời bình
luận, những báo cáo phân tích của mình về giá trị các loại chứng khoán, vì
những phát ngôn của các chuyên viên tư vấn có tác động rất lớn đến tâm lý
của các nhà đầu tư và thường dễ có thể trở thành lời tiên đoán, định hướng
cho toàn bộ thị trường. Bởi vì các nhà đầu tư tin rằng các nhà tư vấn là
những chuyên gia trong lĩnh vực này, họ có nhiều thông tin và kiến thức
hơn những người khác và họ có thể đánh giá tình hình chính xác hơn. Điều
đó có thể mang lại lợi nhuận cho người được tư vấn nhưng cũng có thể gây
thiệt hại cho họ và làm ảnh hưởng đến thị trường chứng khoán.
1.2.1.2. Phân loại tư vấn đầu tư
- Theo hình thức tư vấn
+ Tư vấn trực tiếp: khách hàng gặp gỡ trực tiếp nhà tư vấn.
+ Tư vấn gián tiếp thông qua các ấn phẩm, phương tiện truyền thông.
- Theo mức độ ủy quyền của tư vấn
+ Tư vấn gợi ý: nhà đầu tư chỉ nêu lên ý kiến của mình, gợi ý cho
khách hàng và quyền quyết định ở phía khách hàng.
+ Tư vấn ủy quyền: nhà tư vấn được ủy quyền và quyết định hộ khách
hàng.
SV: Phạm Thị Lan Anh CQ47/17.02 Page 11
12
- Theo đối tượng tư vấn
+ Tư vấn cho tổ chức phát hành ở cả việc phân tích tình hình tài chính,
đánh giá giá trị doanh nghiệp, giúp cơ cấu lại vốn…
+ Tư vấn đầu tư: tư vấn cho nhà đầu tư về quyết định đầu tư chứng
khoán.
1.2.2. Hoạt động tư vấn tài chính doanh nghiệp
1.2.2.1. Khái niệm tư vấn tài chính doanh nghiệp
Trên thị trường chứng khoán luôn xuất hiện hai chủ thể, một chủ thể là
các công ty cần huy động vốn phát triển kinh doanh, đồng thời cũng luôn
xuất hiện một chủ thể khác là các nhà đầu tư có thừa vốn muốn đầu tư dài
hạn hoặc mua bán ngắn hạn tìm kiếm chênh lệch giá. Tuy nhiên 2 chủ thể
này không phải lúc nào cũng có đầy đủ kiến thức về chứng khoán, các công
ty cần phát hành cổ phiếu để huy động vốn nhưng lại không biết các thủ tục
xin phép phát hành, cũng như một nhà đầu tư có dư tiền mặt muốn đầu tư
vào chứng khoán nhưng lại không biết cách chọn lựa những công ty tốt
cũng như những thời điểm để mua chúng. Chính vì điều này, một đòi hỏi
cấp thiết của thị trường chứng khoán là cần có những công ty chứng khoán
làm nhiệm vụ tư vấn, giúp đỡ về chuyên môn cho các chủ thể tham gia thị
trường.
Có thể hiểu “tư vấn tài chính doanh nghiệp thực chất là 1 dịch vụ tư
vấn của công ty chứng khoán, theo đó các công ty chứng khoán cung cấp
cho khách hàng các loại hình tư vấn sau: tư vấn cổ phần hóa, tư vấn phát
hành chứng khoán, tư vấn niêm yết chứng khoán, tư vấn tái cơ cấu tài chính
doanh nghiệp, tư vấn mua bán và sáp nhập (M&A)”.
1.2.2.2. Nội dung của hoạt động tư vấn tài chính doanh nghiệp
Gồm các nghiệp vụ chính sau:
- Tư vấn cổ phần hóa: Tư vấn cổ phần hóa là việc chuyển công ty với các loại
hình sở hữu khác nhau thành công ty cổ phần, như chuyển từ công ty trách
SV: Phạm Thị Lan Anh CQ47/17.02 Page 12
13
nhiệm hữu hạn sang công ty cổ phần, chuyển từ doanh nghiệp Nhà nước
sang công ty cổ phần, chuyển từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
sang công ty cổ phần...
Nội dung:
+ Tư vấn xác định thời điểm và hình thức cổ phần hóa.
+ Tư vấn xử lý tài chính và định giá doanh nghiệp.
+ Tư vấn xác định phương thức bán cổ phần và làm đại lý phân phối.
+ Tư vấn hoàn thành các thủ tực và hồ sơ cổ phần hóa.
+ Tư vấn xây dựng cơ cấu vốn doanh nghiệp.
+ Tư vấn xây dựng cơ chế quản trị công ty.
- Tư vấn phát hành chứng khoán: Đây là việc các công ty chứng khoán thực
hiện các công việc hỗ trợ cho việc phát hành chứng khoán của tổ chức phát
hành. Việc tư vấn phát hành diễn ra khi công ty muốn huy động vốn. Thông
thường các công ty tư vấn cũng đóng vai trò là nhà bảo lãnh phát hành cho
đợt phát hành đó. Lời tư vấn của công ty chứng khoán sẽ phụ thuộc vào tính
hình thực tế của doanh nghiệp bảo đảm cho đợt phát hành thành công. Căn
cứ vào cơ cấu vốn tối ưu của tổ chức phát hành để quyết định tăng vốn nợ
hay tăng vốn chủ, hay nói cách khác sẽ phát hành cổ phiếu hay trái phiếu.
- Tư vấn niêm yết chứng khoán
Đối với hoạt động này, công ty tư vấn giúp các công ty cổ phần có đủ
những yêu cầu theo quy định lập hồ sơ xin phép Ủy ban chứng khoán Nhà
nước niêm yết chứng khoán tại Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội hoặc Sở
giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh. Đồng thời khi chứng khoán
niêm yết phải được đăng ký tại Trung tâm Giao dịch chứng khoán, Trung
tâm lưu ký chứng khoán. Công ty chứng khoán sẽ đăng ký giúp công ty cổ
phần về chứng khoán và người sở hữu chứng khoán cũng như đăng ký
chuyển quyền sở hữu chứng khoán.
- Tư vấn tái cơ cấu tài chính doanh nghiệp
SV: Phạm Thị Lan Anh CQ47/17.02 Page 13
14
Công ty chứng khoán sẽ giúp doanh nghiệp lựa chọn cấu trúc tài chính
tối ưu nhằm tạo nên chi phí vốn thấp nhất và đem lại giá trị thặng dư lớn
nhất cho doanh nghiệp. Các nhà tư vấn chứng khoán luôn được đánh giá là
các chuyên gia trong việc phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp. Theo
đó, nhân viên tư vấn sẽ xây dựng nên 1 phương án tài chính cho doanh
nghiệp trong hiện tại và tương lai. Hoạt động này rất cần thiết, bởi kết cấu
nguồn vốn có hợp lý hay không sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả kinh
doanh của doanh nghiệp. Các doanh nghiệp rất quan tâm đến hoạt động này
của công ty chứng khoán đặc biệt là các công ty mới thành lập, chuẩn bị
bước vào quá trình sản xuất kinh doanh.
- Tư vấn mua bán sáp nhập (M&A)
Sáp nhập là việc 1 công ty (gọi là công ty đi mua hay công ty thâu
tóm) giành quyền kiểm soát toàn bộ 1 công ty khác (công ty bị mua hay
công ty bị thâu tóm). Kết thúc quá trình sáp nhập, công ty mua giữ nguyên
tên và loại hình kinh doanh, trong khi đó công ty bị mua sẽ chấm dứt hoạt
động của mình và toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ, lợi ích hợp pháp của
công ty bị mua được chuyển giao cho công ty mua. Công ty chứng khoán sẽ
giúp các doanh nghiệp từ cơ sở pháp lý đến quá trình thực hiện hoạt động
này. Hoạt động này không có sự tư vấn, doanh nghiệp không nắm rõ luật,
không có bước đi cụ thể, dẫn đến tình trạng doanh nghiệp sẽ bị động và
doanh nghiệp mới hình thành hoạt động sẽ không hiệu quả.
Ngoài các nghiệp vụ nêu trên còn có các nghiệp vụ khác như: tư vấn
bán đấu giá cổ phần ra bên ngoài doanh nghiệp, tư vấn chuyển đổi loại hình
doanh nghiệp…
1.2.2.3. Quy trình hoạt động tư vấn
Mỗi công ty chứng khoán khi thực hiện hợp đồng tư vấn cho khách
hàng đều có quy trình riêng. Chẳng hạn khi thực hiện tư vấn, có những
SV: Phạm Thị Lan Anh CQ47/17.02 Page 14
15
bước sẽ được công ty chứng khoán này thực hiện trước nhưng lại được
công ty khác thực hiện sau. Bên cạnh đó ứng với mỗi loại hoạt động tư vấn
là 1 quy trình tư vấn riêng ví dụ như quy trình tư vấn cổ phần hóa doanh
nghiệp không thể giống quy trình mua bán sáp nhập (M&A).
Các công ty sẽ tự chuẩn hóa quy trình cho từng loại hình tư vấn để vừa
phù hợp với khả năng của công ty mình vừa giúp cho khách hàng thuận tiện
trong quá trình được tư vấn.
Tuy nhiên quy trình chung của 1 hoạt động tư vấn có thể gồm 3 bước:
Bước 1: Đánh giá doanh nghiệp
Tiến hành phân tích tình hình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
như khả năng tăng trưởng trong tương lai , đánh giá vị thế của doanh nghiệp
trong tương quan so sánh với các doanh nghiệp khác cùng ngành, đánh giá
khả năng sử dụng vốn và xác định rủi ro đối với các hoạt động của doanh
nghiệp.
Bước 2: Thẩm định dự án đầu tư
Các nội dung cần làm rõ: căn cứ pháp luật của dự án đầu tư; quy mô
đầu tư của dự án; mục đích, cơ sở lý luận và thực tiễn, kế hoạch triển khai,
đối tác tham gia dự án; kế hoạch giải ngân dự án huy động được từ đợt pháp
hành cho dự án; thông tin về các nguồn vốn khác tài trợ cho dự án; hiệu quả
sử dụng vốn của dự án đầu tư.
Bước 3: Kết thúc tư vấn
1.3. Hiệu quả hoạt động tư vấn tại công ty chứng khoán
1.3.1. Khái niệm hiệu quả hoạt động tư vấn
Thực chất khái niệm về hiệu quả là phản ánh mặt chất lượng của các
hoạt động kinh doanh, phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực để đạt được
mục tiêu cuối cùng của mọi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, đó
chính là mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận.
Xét trên góc độ kinh tế hiệu quả được hiểu là mối tương quan so sánh
giữa kết quả đạt được theo mục tiêu đã được xác định với chi phí bỏ ra để
SV: Phạm Thị Lan Anh CQ47/17.02 Page 15
16
đạt được kết quả đó. Hay nói cách khác hiệu quả kinh tế phản ánh chất
lượng hoạt động kinh tế và được xác định bởi kết quả đạt được và chi phí
bỏ ra để đạt kết quả đó.
Từ khái niệm hiệu quả kinh tế trên ta có thể đưa ra khái niệm của hiệu
quả hoạt động tư vấn của công ty chứng khoán là mối tương quan so sánh
giữa các nguồn lực của công ty chứng khoán (nguồn vốn kinh doanh, nguồn
nhân lực, cơ sở vật chất…) của công ty chứng khoán với chất lượng của
hoạt động tư vấn mà công ty cung cấp cho khách hàng. Hiệu quả hoạt động
tư vấn được sử dụng làm tiêu chuẩn để đánh giá xem công ty chứng khoán
phân bổ nguồn lực có hợp lý không. Khi nói đến hiệu quả hoạt động tư vấn,
chúng ta thường xem xét xem các chuyên viên tư vấn của công ty chứng
khoán có thực hiện tốt công việc tư vấn cho khách hàng không, khách hàng
có hài lòng với lời tư vấn đó không và điều quan trọng hơn cả là hoạt động
này phải đảm bảo lợi ích cho cả chủ thể tư vấn và chủ thể được tư vấn.
Để đánh giá được toàn diện về hiệu quả của hoạt động tư vấn tại công
ty chứng khoán ta cần phải xem xét thêm các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả
hoạt động tư vấn.
1.3.2. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả hoạt động tư vấn
1.3.2.1. Doanh thu hoạt động tư vấn
Doanh thu hoạt động tư vấn của công ty chứng khoán là toàn bộ số
tiền mà công ty chứng khoán thu được khi thực hiện hợp đồng tư vấn. Hay
nói cách khác doanh thu hoạt động tư vấn chính là khoản phí mà công ty
chứng khoán phải thu của khách hàng khi cung cấp dịch vụ trong 1 thời kỳ
nhất định.
Doanh thu của hoạt động tư vấn được xác định bằng tổng thu nhập của
công ty chứng khoán thu được từ hoạt động tư vấn của mình thông thường
là các khoản phí tư vấn. Việc tăng hay giảm của doanh thu hoạt động tư vấn
SV: Phạm Thị Lan Anh CQ47/17.02 Page 16
17
phụ thuộc vào số lượng hợp đồng tư vấn. Một công ty chứng khoán có mức
doanh thu tư vấn cao và tăng đều qua các năm thì hoạt động tư vấn của
công ty đó tương đối hiệu quả.
1.3.2.2. Thị phần hoạt động tư vấn của công ty trên thị trường
Thị phần hoạt động tư vấn của công ty trên thị trường có thể hiểu là tỷ
lệ % được tính dựa trên doanh thu hoạt động tư vấn của công ty (hoặc số
lường hợp đồng tư vấn của công ty) trên tổng doanh thu về hoạt động tư
vấn của toàn thị trường (hoặc tổng số lượng hợp đồng tư vấn toàn thị
trường). Đây cũng là 1 trong những chỉ tiêu quan trọng để đánh giá hiệu
quả hoạt động tư vấn. Thị phần càng cao cho thấy hoạt động tư vấn của
công ty đang phát triển tốt, hoạt động có hiệu quả, công ty đang tạo dựng
được lòng tin với khách hàng.
1.3.2.3. Chi phí của hoạt động tư vấn
Đây có thể coi là một chỉ tiêu quan trọng để đánh giá hiệu quả hoạt
động tư vấn. Nó cho biết khả năng sử dụng các nguồn lực của công ty có
hợp lý hay không. Chi phí của hoạt động này càng thấp trong khi doanh thu
tăng lên là biểu hiện của việc công ty đã thực hiện có hiệu quả hoạt động tư
vấn và ngược lại.
1.3.2.4. Lợi nhuận hoạt động tư vấn
Lợi nhuận hoạt động tư vấn được hiểu là phần chênh lệch giữa tổng số
tiền thu được từ các hợp đồng tư vấn với chi phí mà công ty chứng khoán
phải bỏ ra khi thực hiện hoạt động tư vấn.
Lợi nhuận hoạt động tư vấn = Doanh thu hoạt động tư vấn – Các chi
phí để tạo ra doanh thu đó.
Lợi nhuận hoạt động tư vấn tăng lên khi doanh thu hoạt động tư vấn
tăng lên hoặc chi phí giảm đi hoặc đồng thời tăng doanh thu và giảm chi
phí. Tuy nhiên do tư vấn là hoạt động sử dụng kiến thức và trình độ của đội
ngũ chuyên viên tư vấn để thực hiện tư vấn nên chi phí cho hoạt động tư
SV: Phạm Thị Lan Anh CQ47/17.02 Page 17
18
vấn thường khó xác định được. Vì vậy, các công ty chứng khoán thường sử
dụng chỉ tiêu doanh thu để phản ánh hiệu quả của hoạt động tư vấn hơn là
chỉ thiêu lợi nhuận, hoặc nếu sử dụng thì phải kết hợp với các chỉ tiêu khác
để việc đánh giá hiệu quả mới chính xác và khách quan.
1.3.2.5. Tỷ trọng doanh thu hoạt động tư vấn trên tổng doanh thu
Chỉ tiêu này được xác định bằng tỷ lệ giữa doanh thu từ hoạt động tư
vấn trên tổng doanh thu hoạt động kinh doanh của công ty. Tỷ trọng doanh
thu hoạt động tư vấn trong tổng doanh thu cho biết quy mô đóng góp của
doanh thu hoạt động tư vấn vào tổng doanh thu của công ty chứng khoán.
Khi doanh thu từ hoạt động tư vấn tăng trong khi tổng doanh thu không
thay đổi thì giá trị chỉ tiêu này cũng tăng, phản ánh hiệu quả hoạt động tư
vấn được nâng cao. Ngược lại khi doanh thu hoạt động tư vấn giảm tổng
doanh thu không đổi thì chỉ tiêu này giảm, hoạt động tư vấn được xem là
kém hiệu quả.
Tỷ trọng doanh thu hoạt động tư vấn trong tổng doanh thu (%)
Doanh thu hoạt động tư vấn
= x 100% (1.1)
Doanh thu thuần tư hoạt động kinh doanh
1.3.2.6. Tỷ trọng lợi nhuận hoạt động tư vấn trên tổng lợi nhuận
Cũng như tỷ trọng doanh thu hoạt động tư vấn trong tổng doanh thu, tỷ
trọng lợi nhuận hoạt động tư vấn trong tổng lợi nhuận cũng là chỉ tiêu để
đánh giá hiệu quả hoạt động này. Một công ty chứng khoán có tỷ trọng lợi
nhuận hoạt động tư vấn tăng đều qua các năm chứng tỏ hiệu quả hoạt động
tư vấn của công ty đang ngày một nâng cao và ngược lại.
Tỷ trọng lợi nhuân hoạt động tư vấn trong tổng lợi nhuận (%)

Lợi nhuận hoạt động tư vấn
= x 100% (1.2)
Lợi nhuận trước thuế của công ty cùng thời kỳ
SV: Phạm Thị Lan Anh CQ47/17.02 Page 18
19
Ngoài các chỉ tiêu nêu trên hiệu quả hoạt động tư vấn của thể đánh giá
thong qua chỉ tiêu tốc độ tăng trưởng của doanh thu, tốc độ tăng trưởng lợi
nhuận của hoạt động tư vấn.
1.3.3. Các nhân tố ảnh hưởng tới hiệu quả hoạt động tư vấn của công ty
chứng khoán
1.3.3.1. Nhân tố chủ quan
- Chất lượng nguồn nhân lực
Trong mọi hoạt động con người luôn đóng vai trò, vị trí then chốt, có
tính chất quyết định đến kết quả cuối cùng của các loại hoạt động. Trong thị
trường chứng khoán, nhân sự là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến chất
lượng và tạo ra sự khác biệt giữa các công ty chứng khoán.
Cũng như các hoạt động khác hiệu quả hoạt động tư vấn của công ty
chứng khoán cũng chịu ảnh hưởng của nhân tố này. Vì đây là một lĩnh vực
cần phải đầu tư nhiều “chất xám” để phân tích các thông tin, các nhân tố tác
động, các chỉ tiêu tài chính. Một công ty chứng khoán muốn hoạt động tốt
trong lĩnh vực này thì cần phải sở hữu một đội ngũ nhân viên có chuyên
môn cao, có kinh nghiệm, có kiến thức, có lòng nhiệt tình với công việc…
- Nguồn vốn hoạt động
Yếu tố vốn luôn là điều kiện được đưa ra xem xét khi thành lập công
ty chứng khoán và thực hiện các hoạt động kinh doanh của công ty trên thị
trường. Bởi vì các công ty chứng khoán là trung gian cung cấp các dịch vụ
tài chính, để tạo niềm tin cho khách hàng và phát triển các hoạt động 1 cách
toàn diện thì công ty chứng khoán phải có tiềm lực tài chính mạnh. Điều đó
sẽ giúp cho công ty chứng khoán đối mặt với nhiều khó khăn từ nền kinh tế
và từ những khách hàng của mình, nâng cao hiệu quả các hoạt động của
công ty nói chung và hoạt động tư vấn nói riêng.
Hoạt động tư vấn là hoạt động kinh doanh chất xam nên yêu cầu về
vốn không lớn như các hoạt động khác. Hiện nay theo quy định trong Luật
SV: Phạm Thị Lan Anh CQ47/17.02 Page 19
20
chứng khoán Việt Nam để thực hiện hoạt động tư vấn thì công ty phải có
vốn pháp định là 10 tỷ đồng.
- Chiến lược kinh doanh và định hướng phát triển của công ty
Bất kỳ doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực ngành nghề nào khi
thành lập cũng đều lập ra chiến lược kinh doanh cho riêng mình, để phù hợp
với khả năng của doanh nghiệp, phù hợp với phát triển của thị trường. Các
công ty chứng khoán cũng không phải ngoại lệ. Hầu hết các công ty chứng
khoán khi mới thành lập thường tập trung phát triển hoạt động môi giới vì
đây là hoạt động mang lại doanh thu cao và hoạt động này cũng tạo ra mạng
lưới khách hàng cho công ty. Tuy nhiên hiện này với những như cầu đòi hỏi
của thị trường các công ty chứng khoán đã bắt đầu khai thác phát triển hoạt
động tư vấn và tự doanh. Bởi vì các hoạt động của công ty chứng khoán có
mối liên hệ mật thiết với nhau do đó khi 1 hoạt động nào đó ví dụ như hoạt
động tư vấn của công ty hoạt động có hiệu quả sẽ thúc đẩy các hoạt động
khác phát triển.
- Cơ sở vật chất kỹ thuật, hệ thống thông tin
Ngày nay ở các nước có thị trường chứng khoán phát triển thì đa số
các hoạt động đều được thực hiện thong qua hệ thống máy móc hiện đại.
Các công ty chứng khoán muốn có hiệu quả hoạt động tốt cũng cần phải
ứng dụng các công nghệ hiện đại. Hoạt động tư vấn phụ thuộc nhiều vào
khối lượng thông tin mà công ty chứng khoán thu thập được bởi vì trên cơ
sở các thông tin mà họ có thì họ mới tiến hành nghiên cứu, phân tích được.
Vì vậy nhân viên tư vấn cần có các phương tiện, máy móc hiện đại hỗ trợ
cho họ trong quá trình làm việc. Có thể nói điều kiện về cơ sở vật chất kỹ
thuật có ảnh hưởng rất lớn tới các hoạt động của công ty chứng khoán nói
chung và hiệu quả hoạt động tư vấn nói riêng.
1.3.3.2. Nhân tố khách quan
SV: Phạm Thị Lan Anh CQ47/17.02 Page 20
21
- Môi trường pháp luật
Thị trường chứng khoán có tác động trực tiếp đối với nền kinh tế. Một
thị trường chứng khoán tăng trưởng cả về quy mô và chất lượng thể hiện sự
phát triển ổn định của nền kinh tế. Tuy nhiên, việc tác động tích cực hay
tiêu cực của thị trường chứng khoán tới nền kinh tế còn tùy thuộc vào sự
quản lý của Nhà nước. Nhà nước quản thị trường thông qua hệ thống pháp
luật nhằm bào đảm sự phát triển lành mạnh của thị trường chứng khoán.
Hoạt động tư vấn cũng như bất cứ hoạt động nào khác của công ty
chứng khoán cũng đều chịu sự chi phối, quản lý, giám sát, điều chỉnh của
các quy định phát luật. Vì đặc thù của hoạt động tư vấn chứa đựng nhiều
yếu tố nhạy cảm về lợi ích của khách hàng và của công ty chứng khoán nên
dễ xảy ra xung đột, tranh chấp, khiếu nại do đó Nhà nước cần phải có
những quy định pháp lý chặt chẽ để hạn chế những vấn đề này, yêu cầu các
bên có liên quan phải thực hiện đúng những quy định đã đề ra. Sự hoàn
thiện về khung pháp lý sẽ tạo điều kiện cho các hoạt động kinh doanh của
công ty chứng khoán diễn ra trôi chảy hơn từ đó nâng cao được hiệu quả
của các hoạt động trong đó có hoạt động tư vấn.
- Cơ chế chính sách
Bên cạnh sự điều chỉnh của hệ thống pháp luật, các hoạt động kinh của
công ty chứng khoán còn chịu sự chi phối của hàng loạt các cơ chế, chính
sách của nhà nước, của ngành. Đặc biệt là cơ chế chính sách tài chính (thuế,
phí, lệ phí, trợ cấp…) sẽ tác động trực tiếp đến hiệu quả của các hoạt động
kinh doanh. Nhà nước ban hành cơ chế, chính sách tạo điều kiện thuận lợi
và hỗ trợ cho hoạt động kinh doanh góp phần quan trọng nâng cao hiệu quả
các hoạt động của công ty.
- Sự phát triển của thị trường chứng khoán
SV: Phạm Thị Lan Anh CQ47/17.02 Page 21
22
Thị trường chứng khoán là một kênh huy động vốn hiệu quả cho nền
kinh tế. Thị trường chứng khoán hoạt động hiệu quả hay không sẽ ảnh
hưởng rất lớn đến kết quả thu hút vốn của các doanh nghiệp khi tham gia
vào thị trường. Do đó, nó sẽ ảnh hưởng đến hoạt động tư vấn của các công
ty chứng khoán đặc biệt là các hoạt động tư vấn niêm yết, tư vấn phát hành
chứng khoán.
- Yếu tố khách hàng
Doanh nghiệp và nhà đầu tư cá nhân là những khách hàng sử dụng trực
tiếp dịch vụ tư vấn nên họ có tác động đến hiệu quả hoạt động tư vấn.
Chính họ là người tạo ra doanh thu cho công ty chứng khoán. Khi thị
trường chứng khoán phát triển ổn định các doanh nghiệp cũng như các nhà
đầu tư cá nhân sẽ có xu hướng muốn đầu tư vào khi đó họ sẽ cần đến những
lời tư vấn của các chuyên gia tư vấn của công ty chứng khoán lúc này hoạt
động tư vấn của công ty sẽ phát triển và ngược lại khi thị trường chứng
khoán bất ổn các doanh nghiệp và các nhà đầu tư cá nhân ít quan tâm tới
phương thức huy động vốn này thì họ sẽ rời bỏ thị tường hoạt động tư vấn
cũng như các hoạt động khác của công ty chứng khoán sẽ khó có cơ hội
phát triển, hiệu quả hoạt động sẽ thấp đi.
SV: Phạm Thị Lan Anh CQ47/17.02 Page 22
23
CHƯƠNG II
THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH VÀ HIỆU QUẢ HOẠT
ĐỘNG TƯ VẤN TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN CHỨNG KHOÁN MB
.1. Khái quát về cồng ty cổ phần chứng khoán MB
2.1.1. Sự hình thành và phát triển của công ty cổ phần chứng khoán
MB
Được thành lập từ tháng 5 năm 2000 bởi Ngân hàng TMCP Quân đội
(MB), công ty chứng khoán Thăng Long tức công ty cổ phần chứng khoán
MB hiện nay là một trong 5 công ty chứng khoán đầu tiên tại Việt Nam.
Ngày 28/12/2007 Chủ tịch Ủy ban chứng khoán Nhà nước đã ký
Quyết định số 98/UBCK-GPĐCCTCK chấp thuận cho công ty chứng khoán
SV: Phạm Thị Lan Anh CQ47/17.02 Page 23
24
Thăng Long chuyển đổi hình thức sở hữu từ công ty trách nhiệm hữu hạn
sang công ty cổ phần. Tiếp đó đến tháng 5/2012 tên công ty đã được đổi
thành công ty cổ phần chứng khoán MB (MBS). Sau 12 năm không ngừng
phát triển, MBS đã trở thành một trong những công ty chứng khoán hàng
đầu Việt Nam. Trong hai năm liên tiếp 2009 và 2010, MBS đã vươn lên dẫn
đầu thị phần môi giới tại cả hai sở giao dịch: Sở GDCK Hà Nội (HNX) và
Sở GDCK TP. HCM (HOSE).
Với thế mạnh là công ty thành viên của Tập đoàn MB, MBS liên tục
vươn lên đạt các mốc phát triển mới cả về quy mô và nghiệp vụ. Vốn điều
lệ của MBS đã tăng dần qua các năm từ 9 tỷ VNĐ lên 1.200 tỷ đồng. Cụ
thể:
BẢNG 2.1: T ÌNH HÌNH VỐN ĐIỀU LỆ CỦA CÔNG TY
Năm Mức vốn điều lệ
2000 9 tỷ đồng
2003 Tăng vốn điều lệ lên 43 tỷ đồng
2006 Tăng vốn điều lệ lên 120 tỷ đồng
2007 Tăng vốn điều lệ lên 300 tỷ đồng
2008 Tăng vốn điều lệ lên 420 tỷ đồng
2009 Tăng vốn điều lệ lên 800 tỷ đồng
2010 Tăng vốn điều lệ lên 1200 tỷ đồng
Nguồn: mbs.com.vn
Hiện nay, MBS đã triển khai đầy đủ các nghiệp vụ của một công ty
chứng khoán bao gồm tư vấn đầu tư, môi giới chứng khoán, lưu ký chứng
khoán, tư vấn tài chính và bảo lãnh phát hành chứng khoán. Mạng lưới chi
nhánh và các phòng giao dịch của MBS đã được mở rộng và hoạt động có
SV: Phạm Thị Lan Anh CQ47/17.02 Page 24
25
hiệu quả tại nhiều thành phố trọng điểm. MBS đã thu hút và phát triển được
một đội ngũ nhân sự năng động trong đó có hàng chục chuyên gia phân tích
và hàng trăm chuyên viên quan hệ khách hàng cá nhân và tổ chức được đào
tạo bài bản, có tư cách đạo đức tốt, không ngừng phấn đấu để cung cấp dịch
vụ và các giải pháp kinh doanh cho khách hàng với sự cẩn trọng, chuyên
nghiệp và trách nhiệm cao nhất.
Các thông tin khác:
+ Slogan của công ty: Making Private Business Solution – Giải pháp
kinh doanh chuyên biệt.
+ Logo:
+ Địa chỉ hội sở chính: Tầng 7, tòa nhà MB số 3 Liễu Giai, Ba Đình,
Hà Nội.
+ Địa chỉ sở giao dịch: Tầng 3, tòa nhà MB số 3 Liễu Giai, Ba Đình,
Hà Nội.
+ Điện thoại: (84-4) 37262600 Fax: (84-4) 3726201
+ Email: congbothongtin@mbs.com.vn
+ Website: www.mbs.com.vn
2.1.2. Cơ cấu tổ chức và chức năng các phòng ban
- Cơ cấu tổ chức
SV: Phạm Thị Lan Anh CQ47/17.02 Page 25

Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×