Tải bản đầy đủ

QUY CHẾ PHÁP lý của VIỆC góp vón THÀNH lập DOANH NGHIỆP BẰNG QUYỀN sở hữu TRÍ TUỆ

NHẬN
XÉT CẦN THƠ
TRƯỜNG ĐẠI
HỌC
KHOA LUẬT

Bộ MÔN LUẬT KINH DOANH - THƯƠNG MẠI

csBQlío

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP cử NHÂN LUẬT
KHÓA 33 (2007 - 2011)

ĐỀ TÀI

QUY CHẾ PHÁP LÝ CỦA VIỆC GÓP VÓN THÀNH
LẬP DOANH NGHIỆP BẰNG QUYỀN

Giảng viên hướng dẫn:

Sinh viên thưc hiên:

Nguyễn Thị Thùy Nhu
MSSV: 5075289
Lớp: LK0732A4 - K33

Cần Thơ, Tháng 04/2011


LỜI CẢM ƠN
Em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến Cô Dư Ngọc Bích đã tận tình hướng
dẫn và tạo mọi điều kiện giúp đỡ em trong quá trình thực hiện đề tài.
Em xin chân thành cảm ơn quý thầy cô Khoa Luật, đặc biệt là thầy cô Bộ
môn Luật Kinh doanh - Thương mại đã tận tình giảng dạy và giúp đỡ em trong
suốt quá trình học tập và nghiên cứu.
Em xin gửi lời cảm ơn đến gia đình và bạn bè đã giúp đỡ, động viên, tạo
điều kiện về tinh thần lẫn vật chất đế em hoàn thành Luận văn này.
Xin chân thành cảm ơn!


MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐÀU.......................................................................................................................1

1.

Lí do chọn đề tài..................................................................................................... 1

2. Mục đích nghiên cứu............................................................................................... 2

3. Phạm vi nghiên cứu................................................................................................. 2

4. Phương pháp nghiên cứu........................................................................................ 3

5. Cấu trúc luận văn.................................................................................................... 3

CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ.......................4

1.1 Giói thiệu chung về quyền sở hữu trí tuệ............................................................... 4
1.1.1.................................................................................................................................. K
hái niệm chung về sở hữu trí tuệ và quyền sở hữu trí tuệ...............................................4
1.1.2.................................................................................................................................. V


ai trò của quyền sở hữu trí tuệ...........................................................................................4

1.2 Ý nghĩa của việc bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ....................................................... 6

1.3 Các đối tưọng của quyền sở hữu trí tuệ theo pháp Luật Việt Nam.....................8

1.4 Thuộc tính và đặc điểm của quyền sở hữu trí tuệ................................................. 9
1.4.1 Thuộc tính của quyển sở hữu trí tuệ....................................................................9
1.4.2.................................................................................................................................. Đ
ặc điểm của quyển sở hữu trí tuệ.....................................................................................12

1.5 Tính đặc thù của quyền sở hữu trí tuệ trong việc góp vấn thành lập doanh
nghiệp.


Chương 3 THựC TRẠNG CỦA VIỆC GÓP VỐN THÀNH LẶP DOANH NGHIỆP
BẰNG QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ................................................................................47

3.1 Thực trạng của việc góp vốn thành lập doanh nghiệp bằng quyền sở hữu trí
tuệ.47


Lời mở đầu

LỜI MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Trí tuệ con người là nguồn gốc của mọi sự sáng tạo, bằng tư duy sáng tạo
của mình con người đã sản sinh ra biết bao sản phẩm nhằm thỏa mãn nhu cầu vật
chất và tinh thần của đời sống xã hội. Qua các giai đoạn lịch sử phát triển của
nhân loại cùng với các tài sản hữu hình thông thường khác tài sản trí tuệ trực tiếp
tham gia hoạt động sản xuất - kinh doanh, các lĩnh vực khác của đời sống kinh
tế xã hội quyết định tới sự phát triển thịnh vượng của mỗi quốc gia cũng như
toàn nhân loại. Trong xu thế toàn cầu hóa hiện nay, sở hữu trí tuệ là một công cụ
đắc lực đối với việc phát triển kinh tế xã hội của các quốc gia. Thực tiễn cho
thấy, nhiều công ty và doanh nghiệp trên thế giới đã rất thành công và trở nên
nổi tiếng nhờ khai thác hiệu quả các tài sản trí tuệ. Đối với các doanh nghiệp
nước ta quyền sở hữu trí tuệ đóng vai trò quan họng đối với tiến trình hội nhập
kinh tế quốc tế hiện nay, đối với các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế thì quyền
sở hữu trí tuệ là một tài sản có giá trị to lớn đóng vai trò then chốt quyết định sự
thành công của doanh nghiệp trên thương trường. Việc bảo hộ quyền sở hữu trí
tuệ góp phần thúc đẩy sáng tạo nâng cao chất lượng sản phẩm, dịch vụ, khuy ếch
trương hình ảnh và đem lại lợi thế cạnh hanh của doanh nghiệp.
Khi nền kinh tế phát triển đến một trình độ nhất định thì vấn đề bảo hộ
quyền sở hữu trí tuệ đối với đối tượng sở hữu trí tuệ một là cơ sở để phát triển tri
thức nhân loại được đặt ra như một tất yếu nhằm tạo ra một môi trường kinh
doanh lành mạnh, cạnh tranh công bằng, bình đẳng đồng thời bảo vệ quyền lợi
họp pháp của các chủ sở hữu. Trong thời gian gàn đây, quyền sở hữu trí tuệ và
thực thi bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ trở thành vấn đề mang tính thời sự thu hút
sự quan tâm của nhiều cá nhân, tổ chức, các cơ quan quản lý Nhà nước và đặc
biệt là các doanh nghiệp. Hiện nay, càng có nhiều cá nhân và tổ chức quan tâm
tìm hiểu về pháp luật sở hữu trí tuệ nhất là các đối tượng được bảo hộ theo Luật
sở hữu trí tuệ năm 2005 sửa đổi bổ sung năm 2009 (sau đây gọi là Luật SHTT
năm 2009) vì giá trị của tài sản sở hữu trí tuệ mang lại lợi ích về nhiều phương
diện. Chính vì lẽ đó, quyền sở hữu trí tuệ ngày càng được các doanh nghiệp
trong và ngoài nước quan tâm một cách sâu sắc và mong muốn sở hữu. Vì thế,
khi các quyền tài sản hữu hình khác được phép góp vốn thành lập doanh nghiệp
thì quyền sở hữu trí tuệ cũng có những chế định quy định về vấn đề này. Mặc dù

GVHD: Ts. Dư Ngọc Bích

Trang 1

SVTH: Nguyễn Thị Thày Nhu


Lời mở đầu

là loại tài sản vô hình nhưng quyền sở hữu trí tuệ có vai trò vô cùng quan trọng
đối với doanh nghiệp mà các quyền tài sản khác không có được. Luật doanh
nghiệp năm 2005 ra đời đánh dấu bước ngoặc cho vấn đề góp vốn thành lập
doanh nghiệp bằng quyền sở hữu trí tuệ, song vấn đề này chưa được thực thi
rộng rãi vì chưa được hướng dẫn cụ thể và nhiều điểm chưa nhất quán với các
văn bản pháp luật khác nên việc thực hiện góp vốn thành lập doanh nghiệp bằng
quyền sở hữu trí tuệ chưa thực hiện một cách đồng bộ và còn nhiều lúng túng.
Sự ra đời của Nghị định 102/2011/NĐ-CP ngày 01/10/2010 của chính phủ như
một làn gió mới đầu tiên quy định cụ thể hơn về việc góp vốn bằng quyền sở
hữu trí tuệ. Theo đó, tổ chức, cá nhân được quyền sử dụng các tài sản liên quan
đến quyền sở hữu trí tuệ để góp vốn. Quyền sở hữu trí tuệ được sử dụng để góp
vốn bao gồm quyền tác giả, quyền liên quan đến quyền tác giả, quyền sở hữu
công nghiệp, quyền đối với giống cây trồng và các quyền sở hữu trí tuệ khác
theo quy định của pháp luật sở hữu trí tuệ.
Đe tìm hiểu các quy định của Việt Nam về trình tự góp vốn thành lập
doanh nghiệp bằng quyền sở hữu trí tuệ, khắc phục những hạn chế hướng tới
hoàn thiện các quy định về việc góp vốn bằng quyền sở hữu trí tuệ người viết
chọn đề tài: “quy chế pháp lý của việc góp vốn thành lập doanh nghiệp bằng
quyền sở hữu trí tuệ” làm đề tài luận văn của mình.
2. Mục đích nghiên cứu
Người viết nghiên cứu đề tài này với mục đích nhằm nâng cao hiểu biết
pháp luật về việc góp vốn thành lập doanh nghiệp bằng quyền sở hữu trí tuệ, bên
cạnh đó nhằm để hệ thống và tích lũy thêm cho bản thân những kiến thức trong
quá trình học tập. Trên cơ sở đó người viết đưa ra những đánh giá chung về việc
góp vốn thành lập doanh nghiệp bằng quyền sở hữu trí tuệ. Đồng thời đề tài cũng
làm rõ những mặt được, mặt hạn chế, bất cập trong thực tiễn và đưa ra những
giải pháp hoàn thiện những quy định của pháp luật về vấn đề này.
3. Phạm vi nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu, do thời gian và trình độ nghiên cứu có hạn
người viết chỉ xoay quanh những vấn đề về việc góp vốn thành lập doanh nghiệp
bằng quyền sở hữu trí tuệ trong khuôn khổ những quy định cơ bản của pháp luật
Việt Nam và các điều ước quốc tế có liên quan để hoàn thành đề tài “góp vốn
thành lập doanh nghiệp bằng quyền sở hữu trí tuệ”.

GVHD: Ts. Dư Ngọc Bích

Trang 2

SVTH: Nguyễn Thị Thày Nhu


Lời mở đầu
4. Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu, người viết sử dụng các phương pháp cụ thể
sau: Phân tích, tổng hợp, so sánh, hệt kê và phương pháp lịch sử để thực hiện
việc nghiên cứu đề tài.
5. Cấu trúc luận văn.
Luận văn được trình bày bao gồm những phần sau:
- Mục lục.
- Lời nói đàu.
- Chương 1: Khái quát chung về quyền sở hữu trí tuệ.
- Chương 2: Cơ sở pháp lý của việc góp vốn thành lập doanh nghiệp bằng
quyền sở hữu trí tuệ.
- Chương 3: Thực trạng của việc góp vốn thành lập doanh nghiệp bằng
quyền sở hữu trí tuệ.
- Kết luận.

GVHD: Ts. Dư Ngọc Bích

Trang 3

SVTH: Nguyễn Thị Thày Nhu


Chương 1: Khái quát chung vê quyên sở hữu trí tuệ
CHƯƠNG 1
KHÁI QUÁT CHUNG VÈ QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ
1.1 Giói thiệu chung về quyền sở hữu trí tuệ
1.1.1

Khái niệm chung về sở hữu trí tuệ và quyền sở hữu trí tuệ

Sở hữu trí tuệ được hiểu là sở hữu các tài sản trí tuệ - những kết quả từ
hoạt động tư duy, sáng tạo của con người. Đối tượng của loại sở hữu này là các
tài sản phi vật chất nhưng có giá trị kinh tế tinh thần to lớn góp phần quan trọng
trong quá trình hình thành nền văn minh khoa học, công nghệ của nhân loại.
Tài sản trí tuệ có khả năng chia sẻ mang tính xã hội cao. Có nghĩa là mỗi
thành quả được tạo ra từ hoạt động trí tuệ của con người sẽ đem đến cho toàn xã
hội, toàn nhân loại những giá trị mới về tinh thần, về tri thức. Đồng thời, nó cũng
được thụ hưởng bởi tất cả mọi người, không giống như những tài sản thông
thường khác, thuộc tính vô hình của loại tài sản này khiến cho việc sử dụng, khai
thác sản phẩm trí tuệ từ người này không làm hao giảm về mặt vật chất. Vì vậy,
tài sản trí tuệ sẽ đem lại lợi về tinh thần hoặc những lợi ích về kinh tế cho mọi
người và toàn xã hội. Điều này khiến cho các hoạt động sáng tạo cần được trân
trọng và khuyến khích.
Tuy nhiên, cũng xuất phát từ tính vô hình của sở hữu trí tuệ nên nó không
bị chiếm hữu về mặc thực tế và có khả năng lan truyền rất nhanh cũng như rất
khó kiểm soát. Mặc khác, khi đã được công bố nó cũng dễ dàng bị sao chép, sử
dụng và khai thác một cách rộng rãi ở bất kì nơi nào bởi bất kỳ ai mà có thể
không cần xét đến ý kiến cũng như lợi ích của những người tạo ra chúng.
Như vậy, theo nghĩa rộng thì quyền sở hữu trí tuệ được hiểu một cách
khái quát và đơn giản nhất là quyền của cá nhân, pháp nhân đối với các sản
phẩm trí tuệ do con người sáng tạo. Còn theo nghĩa hẹp, đó là độc quyền được
công nhận cho một người, một nhóm người hoặc một tổ chức, cho phép họ sử
dụng hay khai thác các khía cạnh thương mại của một sản phẩm sáng tạo.
1.1.2
Vai trò của quyền sở hữu trí tuệ
Qua lịch sử phát triển của các quốc gia, đặc biệt là những quốc gia có nền
công nghiệp phát triển thì sở hữu trí tuệ được đánh giá là một loại tài sản chiếm
vị trí quan trọng nhất đối với sự phát triển của một đất nước, điển hình là Nhật
Bản một quốc gia có nền phát triển mạnh mẽ và vô cùng hiện đại, trong khi tài

GVHD: Ts. Dư Ngọc Bích

Trang 4

SVTH: Nguyễn Thị Thày Nhu


Chương 1: Khái quát chung vê quyên sở hữu trí tuệ

nguyên thiên nhiên không nhiều, thiên nhiên thì vô cùng khắc nghiệt. Qua đó
cho thấy một đất nước hoàn toàn có thể phát triển mạnh mẽ không nhất thiết phải
có nguồn lực về vật chất dồi dào, mà vấn đề là nhận thức được giá trị thật sự của
tài sản trí tuệ và việc phát triển các tài sản trí tuệ đó.
Được biết đến với một loại quyền đặc biệt, được đánh giá là một loại tài
sản tiềm năng mang lại nhưng giá trị vô cùng to lớn đối với sự phát triển của cả
một nền kinh tế, một đất nước hay cả một dân tộc. Đe tạo nên những giá tộ mà
không có bất cứ một tài sản nào có thể thay thế được thì giá trị quyền sở hữu trí
tuệ phải có những ưu thế nổi trội nhất định trong tất cả các lĩnh vực mà nó được
áp dụng vào. Quyền sở hữu trí tuệ đóng vai trò hết sức quan trọng và then chốt
đối với sự phát triển kinh tế của một doanh nghiệp, một vùng, một quốc gia cụ
thể là:
- Doanh nghiệp sở hữu một tài sản trí tuệ sẽ đem lại cho doanh nghiệp đó
lợi nhuận kinh tế và nhiều cơ hội canh tranh trên thị trường. Tài sản trí tuệ là một
loại tài sản vô hình, không thể xác định bằng các đặc điểm vật chất nhưng lại có
giá trị lớn và có khả năng sinh lợi về kinh tế rất cao. Giá trị quyền sở hữu trí tuệ
là thước đo hiệu quả kinh doanh, sức cạnh tranh và khả năng phát triển của
doanh nghiệp trước mắt và trong tương lai, đồng thời nó sẽ tạo cho doanh nghiệp
đó có những bước tiến nhảy vọt trong lĩnh vực công nghệ mà các đối thủ cạnh
tranh không ngờ được.
- Nhu cầu tiêu dùng ngày càng đa dạng điều này đòi hỏi các nhà sản xuất
nhanh chóng đưa ra thị trường những sản phẩm mới về kiểu dáng, mẫu mã cũng
như sự hoàn thiện về chất lượng, tính năng, tác dụng. Vì vậy nó kích thích cho
sự cạnh tranh trên thị trường ngày càng mạng mẽ, kích thích sự sáng tạo, tìm tòi
của các cá nhân, tổ chức tạo nên sự bùng nổ của nền kinh tế công nghệ giúp cho
xã hội phát triển toàn diện.
- Khi doanh nghiệp sở hữu một tài sản trí tuệ nếu nó là một bí mật kinh
doanh, bí mật công nghệ mà công dụng và hiệu quả của chính nó chỉ có doanh
nghiệp đó nắm bắt được. Vì vậy, doanh nghiệp đó sẽ sử dụng các bí mật công
nghệ, bí mật kinh doanh để sản xuất ra những sản phẩm mang giá trị kinh tế cao
và tung những sản phẩm đó ra thị trường đáp ứng nhu cầu của đông đảo người
tiêu dùng, điều này làm cho các doanh nghiệp khác không đủ sức cạnh tranh trên
thị trường.

GVHD: Ts. Dư Ngọc Bích

Trang 5

SVTH: Nguyễn Thị Thày Nhu


1

Điều 164 Luật dân sự năm 2005.

Chương 1: Khái quát chung vê quyên sở hữu trí tuệ
- Trong quá trình hội nhập, các doanh nghiệp luôn luôn mong muốn tận
dụng những kinh nghiệm tiến bộ, nguồn vốn, công nghệ, kỷ thuật, bí quyết kinh
doanh.. .để đáp ứng được những nhu cầu nêu trên thì giá trị quyền sở hữu trí tuệ
có thể đáp ứng cho doanh nghiệp. Doanh nghiệp dựa trên những bí quyết, công
nghệ, giá trị... của quyền sở hữu trí tuệ để chuẩn bị về năng lực, vật chất cần
thiết để chủ động hội nhập nền kinh khu vực và thế giới về tàm vóc kinh doanh
cũng như khả năng cạnh tranh kinh tế của doanh nghiệp đó.
1.2 Ý nghĩa của việc bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ.
Xuất phát từ tầm quan họng mà quyền sở hữu trí tuệ mang lại và có
những đóng góp thiết thực cho nhân loại, hầu hết các nước trên thế giới trong đó
có Việt Nam đã ban hành các văn bản pháp Luật nhằm bảo hộ các quyền và lợi
ích hcrp pháp của các chủ thể sáng tạo hay các chủ sở hữu của các quyền sở hữu
trí tuệ. Bên cạnh việc khuyến khích những nổ lực và cống hiến của mọi cá nhân,
tổ chức vào hoạt động nghiên cứu khoa học, cải tiến kỷ thuật tạo ra các sản
phẩm vật chất và tinh thần cho xã hội. Những chính sách, chế định của pháp
Luật về quyền sở hữu trí tuệ của nước ta để bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ phát
triển kinh tế xã hội đồng thời tránh những thiệt hại cho những người sáng tạo,
những chủ sở hữu. Bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ được đặt ra với những lí do sau:
- Bảo hộ các quyển nhân thân và quyển tài sản của tác giả: Luật sở hữu
trí tuệ là một bộ phận trong Bộ luật dân sự, quyền sở hữu trí tuệ cũng là quyền
dân sự. Trong khi đó, quyền dân sự là bao gồm nhân thân và quyền tài sản. Theo
đó, chủ sở hữu sẽ có quyền chiếm hữu, sử dụng và định đoạt 1. Khi có tranh chấp
xảy ra đối với các chủ thể về quyền sở hữu thì khi đó quyền nhân thân sẽ có
nghĩa vụ phải chứng minh là quyền sở hữu trí tuệ đó ai là chủ sở hữu thật sự để
chống lại sự gian dối và xâm phạm. Quyền nhân thân gắn liền với tên tuổi của
tác giả đã tạo ra sản phẩm trí tuệ, cho nên việc bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ sẽ
bảo vệ danh dự, công sức của tác giả. Trong khi đó, quyền tài sản sẽ mang lại
cho các chủ sở hữu các lợi ích về mặt kinh tế.
- Tạo điều kiện để cho công chúng tiếp cận với các sảm phẩm trí tuệ: sở
hữu trí tuệ là một lĩnh vực còn mới mẻ trong nền pháp luật Việt Nam nên sự hiểu
biết của người dân về sở hữu trí tuệ còn hạn chế. Khi một người sáng tạo ra một
sản phẩm trí tuệ nhưng bản thân họ không biết giá trị của sản phẩm đó như thế

GVIID: Ts. Dư Ngọc Bích

Trang 6

SVTH: Nguyễn Thị Thày Nhu


Chương 1: Khái quát chung vê quyên sở hữu trí tuệ
nào cho nên việc bảo hộ sở hữu trí tuệ sẽ giúp cho người dân hiểu biết thêm về
sản phẩm trí tuệ, đồng thời tạo diều kiện cho những người khác tiếp cận với các
sản phẩm trí tuệ và thụ hưởng những giá trị mà nó mang lại. Khi một sản phẩm
sở hữu trí tuệ được tạo ra thì bản thân nó phải có một giá trị hữu ích cụ thể nào
đó để phục vụ cho nhu cầu của cá nhân, tổ chức, xã hội chính vì thế quyền sở
hữu trí tuệ sẽ được mang ra phục vụ cho con người. Là sản phẩm dễ bị đánh cắp,
sao chép, nên nó cần được bảo hộ để tránh những tổn thất cho chủ sở hữu.
- Khuyến khích sự sáng tạo: khi một cá nhân, tổ chức tạo ra một sản phẩm
nào đó và sản phẩm đó dễ dàng bị người khác xâm phạm, trục lợi trên thành quả
lao động của mình, thì chính cá nhân, tổ chức đó không còn mong muốn tìm tòi
sáng tạo. Bên cạnh đó, khi một chủ thể bỏ ra rất nhiều thời gian, công sức, tiền
bạc để tìm tòi sáng tạo ra sản phẩm trí tuệ phục vụ cho toàn xã hội nên các chủ
thể này cần được công nhận và bảo hộ những thành quả đã đạt được để tránh bị
đánh cắp, sao chép và sử dụng trái phép, từ đó được mọi người biết đến với
những công dụng vô cùng hữu ích của sản phẩm trí tuệ đó, điều này làm cho họ
ham muốn tìm tòi, sáng tạo. Khi sản phẩm trí tuệ được công bố không những nó
mang lại cho người sở hữu những lợi ích vật chất mà còn mang lại những lợi ích
về tinh thần cho chủ sở hữu. Với mỗi sản phẩm trí tuệ được được pháp luật bảo
hộ thì chủ sở hữu sản phẩm trí tuệ đó sẽ nhận một khoản tiền thù lao do những
người nhận chuyển nhượng các quyền sở hữu trí tuệ đó và những người sử dụng
các sản phẩm được tạo ra từ quyền sở hữu trí tuệ chi trả. Việc bảo hộ này nhằm
giảm rủi ro trong các giao dịch về quyền sở hữu trí tuệ, nhưng đồng thời cũng
tạo nguồn thu không nhỏ cho Nhà nước.
- Phổ biển, áp dụng các kết quả trí tuệ vào cuộc sổng: khi sản phẩm trí tuệ
được bảo hộ thì các chủ sở hữu an tâm hơn và sẽ không ngần ngại áp dụng kết
quả trí tuệ đó vào cuộc sống vì các chủ sở hữu không còn lo sợ sản phẩm trí tuệ
của mình bị xâm hại, đánh cắp, sao chép... vì khi có tranh chấp xảy ra các lợi
ích về vật chất và tinh thân của chủ sở đối với sản phẩm trí tuệ đã được bảo vệ
bằng các công cụ của pháp luật. Khi đó các sản phẩm của các chủ sở hữu có thể
đuợc chính họ đem ra ứng dụng vào cuộc sống như chuyển giao công nghệ, thực
hiện đầu tư kinh doanh hoặc góp vốn thành lập doanh nghiệp... từ đó tạo ra
nhiều sản phẩm mới ứng dụng vào cuộc sống một cách rộng rãi hơn mà không
còn tâm lý lo sợ quyền sở hữu trí tuệ bị cạnh tranh không lành mạnh hoặc bị xâm
phạm.

GVIID: Ts. Dư Ngọc Bích

Trang 7

SVTH: Nguyễn Thị Thày Nhu


Chương 1: Khái quát chung vê quyên sở hữu trí tuệ
- Khuyến khích trao đổi công bằng: khi quyền sở hữu trí tuệ được bảo hộ,
thì sẽ tránh được tình trạng sử dụng các tài sản vô hình này một cách trái phép
khi chưa có sự cho phép của chủ sở hữu. Đồng thời giúp cho sự trao đổi trên thị
trường được công bằng hơn bao giờ hết, bởi lẽ một người đã bỏ công sức, tâm
huyết, tiền của để tạo nên sản phẩm sở hữu trí tuệ. Vì vậy, chủ thể nào có nhu
càu muốn sử dụng các sản phẩm trí tuệ đó để khai thác kiếm lợi nhuận kinh tế
phải chấp nhận bỏ ra một khoản thù lao nhất định hoặc thông qua hình thức trả
một tỷ lệ phầrn trăm trên thu nhập từ việc khai thác trên tài sản trí tuệ cho những
người đã đầu tư, khai thác ra các sản phẩm trí tuệ đó (tác giả hoặc chủ sở hữu)
bằng hình thức nhận chuyển nhượng. Đây là một việc làm tích cực tránh việc sao
chép, đánh cắp, sử dụng thành quả lao động trí óc của người khác.
1.3 Các đối tượng của quyền sở hữu trí tuệ theo pháp Luật Việt Nam
Đối tượng của quyền sở hữu trí tuệ rất phong phú và đa dạng bao gồm:
Quyền tác giả các tác phẩm văn học và nghệ thuật, sáng chế, giải pháp hữu ích,
bí mật kinh doanh, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu hàng hoá, nhãn hiệu dịch
vụ, chỉ dẫn địa lý, tên gọi xuất xứ hàng hoá, tên thương mại, giống cây trồng
mới, thiết kế bố trí mạch tích họp bán dẫn, quyền chống cạnh tranh không lành
mạnh liên quan đến sở hữu công nghiệp... Vì vậy, các sản phẩm trí tuệ được con
người sáng tạo ra cũng vô cùng phong phú. Tuy nhiên, để dễ dàng trong việc
quản lý nên đối tượng quyền sở hữu trí tuệ được phân thành các nhóm lớn như
sau:
-

Quyền tác giả và quyền hên quan đến quyền tác giả.

-

Quyền sở hữu công nghiệp.

-

Quyền đối với giống cây trồng.
& Quyển tác giả và quyền liên quan đến quyển tác giả

Quyền tác giả là quyền của tổ chức, cá nhân đối với tác phẩm do mình sáng
tạo ra hoặc sở hữu. Quyền tác giả được ghi nhận cho các tác phẩm văn học, nghệ
thuật, khoa học như sách, bài giảng, tác phẩm âm nhạc, tác phẩm sân khấu, tác
phẩm điện ảnh, tác phẩm tạo hình và mỹ thuật ứng dụng, tác phẩm nhiếp ảnh, tác
phẩm kiến trúc, phần mềm máy tính. Quyền tác giả tự động phát sinh từ thời
điểm tác phẩm được định hình dưới một hình thức vật chất nhất định, bất kể tác
phẩm đã công bố hay chưa công bố, đã đăng ký hay chưa đăng ký.

GVIID: Ts. Dư Ngọc Bích

Trang 8

SVTH: Nguyễn Thị Thày Nhu


Chương 1: Khái quát chung vê quyên sở hữu trí tuệ
Quyền liên quan là quyền của tổ chức, cá nhân đối với cuộc biểu diễn, bản ghi
âm, ghi hình, chương trình phát sóng, tín hiệu vệ tinh mang chương trình được
mã hóa.
# Quyển sở hữu công nghiệp
Quyền sở hữu công nghiệp là quyền của tổ chức cá nhân đối với sáng chế,
kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích họp bán dẫn, nhãn hiệu, tên
thương mại, chỉ dẫn địa lý, bí mật kinh doanh do mình sáng tạo hoặc sở hữu và
quyền chống cạnh tranh không lành mạnh. Quyền sở hữu công nghiệp đối với
sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí, nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý được
xác lập trên cơ sở quyết định cấp vãn bằng bảo hộ của cơ quan nhà nước có thẩm
quyền theo thủ tục đăng ký quy định tại Luật này hoặc công nhận đăng ký quốc
tế theo quy định của điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam
là thành viên. Đối với nhãn hiệu nổi tiếng, quyền sở hữu được xác lập trên cơ sở
sử dụng, không phụ thuộc vào thủ tục đăng ký, tên thương mại được xác lập trên
cơ sở sử dụng họp pháp tên thương mại đó. Quyền sở hữu công nghiệp đối với
bí mật kinh doanh được xác lập trên cơ sở có được một cách họp pháp bí mật
kinh doanh và thực hiện việc bảo mật bí mật kinh doanh đó; quyền chống cạnh
tranh không lành mạnh được xác lập trên cơ sở hoạt động cạnh tranh trong kinh
doanh.
# Quyền đối với giống cây trồng.
Quyền đối với giống cây trồng là quyền của tổ chức, cá nhân đối với giống
cây trồng mới do mình chọn tạo hoặc phát hiện và phát triển giống cây trồng
hoặc đàu tư cho công tác chọn tạo hoặc phát hiện và phát triển giống cây trồng
hoặc được chuyển giao quyền đối với giống cây trồng. Quyền đối với giống cây
trồng được xác lập trên cơ sở quyết định cấp Bằng bảo hộ giống cây trồng của cơ
quan nhà nước có thẩm quyền theo thủ tục đăng ký quy định tại Luật Sở hữu trí
tuệ.
1.4 Thuộc tính và đặc điểm của quyền sở hữu trí tuệ
1.4.1

Thuộc tính của quyền sở hữu trí tuệ

Tài sản sở hữu trí tuệ mang tính chất là hoạt động sáng tạo của con người và
ngày càng khẳng định vai trò của mình trong các lĩnh vực sản xuất kinh doanh,
những thuộc tính cơ bản thể hiện rõ hơn về giá trị của loại tài sản vô hình này:

GVHD: Ts. Dư Ngọc Bích

Trang 9

SVTH: Nguyễn Thị Thày Nhu


Chương 1: Khái quát chung vê quyên sở hữu trí tuệ
- Thuộc tính vô hình của tài sản sở hữu trí tuệ: quyền sở hữu trí tuệ là loại
quyền tài sản vô hình. Ví dụ một người yêu cầu dược sĩ bán thuốc những viên
thuốc đó sẽ thuộc về quyền sở hữu của người đó. Tuy nhiên chất kháng sinh
trong viên thuốc được cấp văn bằng bảo hộ độc quyền cho một công ty dược
phẩm, thì không ai có quyền tạo ra viên thuốc khác có chất kháng sinh đã được
cấp văn bằng bảo hộ độc quyền cho công ty dược phẩm đó, nếu không có sự cho
phép của chính công ty được cấp vãn bằng bảo hộ. Vì vậy văn bằng bảo hộ hoàn
toàn độc lập với quyền sở hữu đối với một vật hữu hình được tạo ra từ các quyền
sở hữu trí tuệ. Chính vì thế, cá nhân, tổ chức được cấp văn bằng bảo hộ độc
quyền đối với một tài sản vô hình cụ thề là quyền sở hữu trí tuệ, sau đó chính từ
tài sản vô hình trên cá nhân, tổ chức đó sản xuất ra những sản phẩm hữu hình
phục vụ cho các nhu cầu khác nhau của xã hội, nếu ai có nhu cầu sử dụng các tài
sản hữu hình đó thì phải bỏ ra một khoản chi phí trả cho chính những cá nhân, tổ
chức đã tạo nên sản phẩm đó cũng đồng thời đó là những bù đắp về mặt vật chất
cho nhưng người có công tìm tòi, sáng tạo ra tài sản trí tuệ. Điều này cũng cho ta
thấy rằng một người nắm trong tay những sản phẩm được tạo ra từ quyền sở hữu
trí tuệ không đồng nghĩa là người đó là chủ sở hữu của quyền sở hữu trí tuệ đó,
chủ sở hữu thật sự là những người được Nhà nước cấp văn bằng bảo hộ và được
các công cụ pháp luật bảo vệ khi có tranh chấp xảy ra.
- Thuộc tính “công” của tài sản sở hữu trí tuệ: thuộc tính này từ lập luận mà
ra, nếu coi các sản phẩm trí tuệ thuộc quyền sở hữu tuyệt đối của chủ thể sáng
tạo giống như quyền của chủ sở hữu đối với các tài sản hữu hình thông thường
khác, thì sẽ xảy ra tình trạng người khác có thể không biết và lại một lần nữa sẽ
đầu tư nhầm để tạo ra nó. Sẽ không ai có thể sử dụng những ý tưởng đó để thúc
đẩy tri thức phát triển. Hơn thế, cơ chế này còn làm tăng các chi phí xã hội và
trên hết là ngăn cản sự tiến bộ khoa học kỹ thuật, hạn chế phúc lợi xã hội cho các
sản phẩm trí tuệ, các phát minh, sáng chế, và các giải pháp hữu ích... Không
được ứng dụng hoặc chỉ được ứng dụng một cách hạn chế trong đời sống xã hội.
Vì vậy, tài sản sở hữu trí tuệ sẽ được bảo hộ trong một thời gian nhất định sau
khi hết thời gian bảo hộ này chúng sẽ đi vào công chúng phục vụ cho xã hội. Tài
sản sở hữu trí tuệ không thuộc quyền sở hữu tuyệt đối của chủ thể sáng tạo ra
chúng mà chủ thể đó có thể sở hữu một thời gian cụ thể theo luật định, trong thời
gian đó chủ sở hữu có toàn quyền định đoạt đối với tài sản sở hữu trí tuệ đó như

GVIID: Ts. Dư Ngọc Bích

Trang 10

SVTH: Nguyễn Thị Thày Nhu


Chương 1: Khái quát chung vê quyên sở hữu trí tuệ
chuyển nhượng hay góp vốn. Nhưng khi hết thời gian bảo hộ theo luật định thì
sản phẩm sở hữu trí tuệ đó là sở hữu toàn dân.
- Thuộc tính phái sinh của tài sản sở hữu trí tuệ: đối với tài nguyên thiên
nhiên và các tài sản thông thường khác, việc sử dụng sẽ kéo theo sự cạn kiệt và
có lúc tài sản hữu hình hết giá trị sử dụng. Khác với thuộc tính này của tài sản
hữu hình, tài sản trí tuệ mang tính phái sinh. Điều này có nghĩa, từ việc sử dụng
một ý tưởng có thể tạo ra nhiều ý tưởng mới về cùng một vấn đề trong cùng một
lĩnh vực. Như vậy, tài sản trí tuệ là nguyên liệu đầu vào và cũng là sản phẩm
đầu ra của một quy trình sáng tạo. Từ sản phẩm trí tuệ chúng ta có thể tạo ra
nhiều tác phẩm mới hơn dựa trên sản phẩm trí tuệ ban đầu. Một tài sản sở hữu trí
tuệ khi được khai thác, đầu tư một cách đúng đắn thì loại tài sản vô hình này sẽ
không bị can kiệt giống như những tài sản thông thường khác mà trái lại còn tạo
ra thêm nhiều ý tưởng, nhiều tài sản vô hình và hữu hình trong cùng một vấn đề
cùng một lĩnh vực hoặc trong nhiều lĩnh vực khác nhau. Tải sản trí tuệ được coi
là nền tảng, là yếu tố cần thiết đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc tao ra
những sản phẩm trí tuệ phái sinh và những sản phẩm hữu hình.
- Thuộc tính tương đổi đổi với các quyển của người nắm giữ tài sản sở hữu
trí tuệ: đối với các tài sản hữu hình, nhằm bảo đảm cho chủ sở hữu khai thác và
sử dụng một cách hiệu quả nhất, việc thiết lập cơ chế bảo hộ tuyệt đối với các
quyền của chủ sở hữu là cần thiết. Khác với thuộc tính này, cơ chế bảo hộ đối
với người nắm giữ các tài sản trí tuệ không mang tính tuyệt đối. Ngoài lí do
được phân tích trên, thuộc tính này còn xuất phát từ việc sử dụng tài sản theo ý
đồ của người sáng tạo không bị ảnh hưởng cũng như không bị giảm sút nếu tài
sản trí tuệ đồng thời được sử dụng bởi nhiều chủ thể khác. Hơn thế, mỗi người
sử dụng có thể hưởng thụ những lợi ích khác nhau phù họp với ý đồ riêng của họ
mà nhờ đó phúc lợi xã hội sẽ tăng. Tài sản sở hữu trí tuệ không được bảo hộ một
cách tuyệt đối giống như các tài sản thông thường khác, bởi lẽ khi một tài sản sở
hữu trí tuệ không bị hao mòn theo thời gian khi sử dụng, có thể cùng một tài sản
sở hữu trí tuệ có thể được khai thác bởi nhiều chủ thể, tùy theo mục đích của
mình mà các chủ thể đó có cách sử dụng khác nhau, việc sử dụng và khai thác
của người này sẽ không làm ảnh hưởng đến việc sử dụng và khai thác của người
khác. Đó là một ưu thế của tài sản sở hữu trí tuệ, bởi cùng một tài sản có thể sử
dụng cho nhiều mục đích khác nhau và những cách thức khác nhau để tạo ra
những sản phẩm với những công dụng không giống nhau phục vụ cho nhiều nhu

GVIID: Ts. Dư Ngọc Bích

Trang 11

SVTH: Nguyễn Thị Thày Nhu


Chương 1: Khái quát chung vê quyên sở hữu trí tuệ

cầu, bên cạnh nó cũng có những hạn chế là cùng một tài sản trí tuệ được sử dụng
bởi nhiều người mà người đó không phải là chủ sở hữu của tài sản đó và cũng
không được sự cho phép của chủ sở hữu thật sự, do không ảnh hưởng về chất và
không bị hao mòn về mặt thời gian nên tính cạnh tranh của tài sản sở hữu trí tuệ
không còn cao nữa, giá trị kinh tế bị giảm súc vì bất cứ ai cũng có thể sử dụng
nó mà không cần hỏi ý kiến của chủ sở hữu.
1.4.2
Đặc điểm của quyền sở hữu trí tuệ
Cũng giống như những loại tài sản thông thường khác một người là chủ
sở hữu một quyền sở hữu trí tuệ thì họ có những quyền giống như những quyền
sở hữu đối với một tài sản hữu hình, quyền sở hữu bao gồm quyền sử dụng,
quyền chiếm hữu và quyền định đoạt đối với một tài sản. Nhưng bên cạnh các
quyền lợi đối vật và các quyền lợi đối nhân còn có một quyền lợi thứ ba gọi là
các quyền lợi tinh thần, quyền được bảo vệ danh dự, quyền đối với bí mật đời
tư...Neu như chủ sở hữu một tài sản sở hữu trí tuệ bị xâm phạm về quyền của
chủ sở hữu được pháp luật bảo vệ, không những được bảo vệ trên phương diện
vật chất mà được bảo vệ trên phương diện phi vật chất.
Các quyền sở hữu trí tuệ vừa mang tính chất tài sản và phi tài sản, tác giả
một tác phẩm văn chương nghệ thuật hay chủ sở hữu một bằng sáng chế có
quyền chuyển nhượng tác phẩm, hay bằng sáng chế của mình để hưởng một
khoản thù lao, đồng thời được quyền bảo vệ tác phẩm, sáng chế của mình chống
lại mọi sự sao chép và cạnh tranh quá đáng. Sự khác biệt đáng chú ý nhất giữa
tài sản trí tuệ và các tài sản khác là thuộc tính vô hình của nó, tức là tài sản trí
tuệ không thể được xác định bằng các đặc điểm vật chất mà tài sản sở hữu cần
được thể hiện theo một cách thức nào đó bằng một hình thức cụ thể để có thể
nhận biết được. Các vật được dùng để thể hiện các tài sản trí tuệ sẽ không quyết
định đến giá tộ của tài sản trí tuệ đó mà phải do buôn bán trên thị trường và quan
hệ cung cầu trên thị trường quyết định giá trị của tài sản sở hữu trí tuệ.
Sở hữu trí tuệ là một là sản phẩm sáng tạo mang thuộc tính vô hình, tồn tại
dưới thông tin có khả năng lan truyền và có thể được nhiều người cùng chiếm
hữu, có khả năng tăng trưởng giá trị, dễ bị sao chép. Quyền sở hữu trí tuệ được
trao cho chủ sở hữu về ý tưởng phát minh và những biểu hiện mang tính tài sản.
Cá nhân, tố chức sở hữu sản phẩm sở hữu trí tuệ nên đăng ký bảo hộ để được
bảo vệ tránh việc bị sao chép, đánh cắp và cạnh tranh không lành mạnh.

GVHD: Ts. Dư Ngọc Bích

Trang 12

SVTH: Nguyễn Thị Thày Nhu


Chương 1: Khái quát chung vê quyên sở hữu trí tuệ
1.5 Tính đặc thù của quyền sở hữu trí tuệ trong YỈệc góp Yổn thành lập
doanh nghiệp
Quyền sở hữu trí tuệ là một loại tài sản mang lại giá trị kinh tế cao nên
pháp luật các nước đều bảo hộ, vì vậy một cá nhân hay pháp nhân muốn góp vốn
thành lập doanh nghiệp bằng quyền sở hữu trí tuệ thì trước tiên sản phẩm trí tuệ
đó phải được bảo hộ tức là phải được cơ quan nhà nước có thẩm quyền công
nhận và được cơ quan có thẩm quyền đứng ra bảo vệ chủ sở hữu khi sản phẩm
trí tuệ đó bị xâm phạm hay bị các hành vi cạnh tranh không lành mạnh. Một sản
phẩm trí tuệ được phép góp vốn thành lập doanh nghiệp thì sản phẩm đó phải
hữu ích và có thể phát triển để tìm kiếm lợi nhuận cho doanh nghiệp đó đồng
thời phải được các thành viên góp vốn khác nhất trí tán thành và không trái với
những quy định của pháp luật. Tuy nhiên, một sản phẩm sở hữu trí tuệ khi được
bảo hộ không phải là vĩnh viễn mà nó có một thời hạn nhất định.
Như vậy, ban đầu khi thực hiện việc góp vốn tài sản sở hữu trí tuệ dưới
dạng là tài sản vô hình, giá trị của nó được xác định thông qua nhu cầu trên thị
trường, khi đó tài sản sở hữu trí tuệ sẽ được khai thác, ứng dụng trong các lĩnh
vực khác nhau, tùy theo từng nhu cầu, mục đích kinh doanh của doanh nghiệp để
tạo ra các sản phẩm hữu hình hoặc từ các sản phẩm sở hữu trí tuệ đó, các doanh
nghiệp lại tiếp tục nghiên cứu phát triển thêm những ý tưởng mới có giá trị kinh
tế cao hơn. Vì vậy, đặc thù của tài sản sở hữu trí tuệ là ngay từ ban đầu nó đã
không thể nhìn thấy được, chạm vào được, tài sản sở hữu trí tuệ hiện hữu thông
qua bằng hình thức được công nhận dưới dạng ý tưởng. Đặc biệt, khó có thể xác
định chính xác giá trị mà tài sản trí tuệ mang lại cho doanh nghiệp vì nó còn phụ
thuộc vào cách thức khai thác, sử dụng của doanh nghiệp đó.
1.6 Giá trị của quyền sở hữu trí tuệ so vói các quyền tài sản khác
Ngày nay, càng có nhiều doanh thừa nhận rằng quyền sở hữu trí tuệ là
một tài sản và công cụ của một doanh nghiệp có thể đóng góp đáng kể cho thành
công của doanh nghiệp. Tài sản của doanh nghiệp có thể được chia thành 2 loại:
- Tài sản hữu hình bao gồm: nhà xưởng, máy móc, tài sản tài chính và cơ
sở hạ tầng. Tài sản là của cải vật chất dùng vào mục đích sản xuất hoặc tiêu
dùng, tài sản được sử dụng triệt để để tạo ra lợi nhuận tối đa. Tài sản vô hình:
được tính từ nguồn nhân lực, bí quyết kỹ thuật đến các ý tưởng, thương hiệu,
kiểu dáng và các kết quả vô hình khác có được từ năng lực đổi mới và sáng tạo

GVHD: Ts. Dư Ngọc Bích

Trang 13

SVTH: Nguyễn Thị Thày Nhu


2

Sở hữu trí tuệ - Một tài sản của doanh nghiệp, http://phapluatviet.coiĩi/dich-vu-tu-van/s-hu-tri-tu/nhanhiu/134-s-hutri-tu-mt-tai-sn-ca-doanh-nghip.html. đăng ngày 19/8/2009,
Chương 1: Khái quát chung vê quyên sở hữu trí tuệ 24/03/2011].
[truy cập ngày

của con người. Tài sản trí tuệ là một loại tài sản vô hình, không thể xác định
bằng các đặc điểm vật chất của chính nó nhưng lại có giá trị lớn và có khả năng
sinh ra lợi nhuận. Tài sản trí tuệ là thước đo hiệu quả kinh doanh, sức cạnh tranh
và khả năng phát triển của doanh nghiệp trước mắt và trong tương lai, theo thời
gian sử dụng tài sản trí tuệ tăng giá trị lên nhiều làn nếu được khai thác và đầu tư
phát triển họp lý.
Theo truyền thống, tài sản hữu hình là tài sản chính của công ty và có ý
nghĩa quyết định khả năng cạnh tranh của công ty trên thị trường. Trong những
năm gần đây, tình hình đã thay đổi đáng kể, do thành quả của cuộc cách mạng
công nghệ thông tin và sự tăng trưởng của nền công nghiệp dich vụ, các doanh
nghiệp đang nhận ra rằng tài sản vô hình trở nên có giá trị hơn so với tài sản hữu
hình của mình.2 Hầu hết các ứng dụng công nghệ cao phụ vụ cho sản xuất kinh
doanh và các nhu cầu của con người đều là các tài sản sở hữu trí tuệ. Khi doanh
nghiệp có được các tài sản trí tuệ ngoài công dụng tự khai thác, ứng dụng sản
xuất mà còn được quyền chuyển giao công nghệ cho các doanh nghiệp khác sau
một thời gian sử dụng, trong khi đó các tài sản hữu hình sau một thời gian sử
dụng sẽ bị hao mòn và giá trị giảm sút rất nhiều, trong khi đó tài sản sở hữu trí
tuệ giá trị ngày càng được tăng cao khi doanh nghiệp đó kinh doanh phát triển.
Mỗi loại tài sản hữu hình hay vô hình đều đem lại cho chủ sở hữu của nó
một giá trị nhất định, các tài sản khác nhau sẽ có những cách thức khai thác và
sử dụng không giống nhau, điều này còn phụ thuộc vào nhu cầu của chủ sử dụng
và mục đích kinh doanh của các doanh nghiệp. Những giá trị mà tài sản sở hữu
trí tuệ mang lại vô cùng to lớn lao, khi doanh nghiệp khai thác và ứng dụng sản
phẩm sở hữu trí tuệ vào sản xuất, tạo ra sản phẩm đáp ứng nhu cầu cho xã hôi để
mang lại những giá trị thặng dư cho doanh nghiệp. Neu đầu tư họp lí tài sản sở
hữu trí tuệ không những giúp doanh nghiệp phát triển một cách mạnh mẽ ở một
vùng, một đất nước mà nó còn giúp cho doanh nghiệp phát triển vượt ra khỏi
biên giới một quốc gia, điều này được minh chứng cụ thể là những tập đoàn
thương mại, những công ty xuyên quốc gia đã rất thành công và phát triển vượt
bật nhờ nắm trong tay những bí mật thương mại, đã giúp cho doanh nghiệp tạo
ra những sản phẩm mang tính canh tranh cao, những sản phẩm đặc thù mà các

GVHD: Ts. Dư Ngọc Bích

Trang 14

SVTH: Nguyễn Thị Thày Nhu


Chương 1: Khái quát chung vê quyên sở hữu trí tuệ

doanh nghiệp khác không có được. Có những cái tên thương mại mà mỗi khi
nhắc đến tất cả mọi người đều biết đến chất lượng và quy mô doanh nghiệp đó
sở hữu. Sức ảnh hưởng của các tài sản vô hình vô cùng mạnh mẽ, nó chi phối
nhiều lĩnh vực, nhiều vấn đề trong một doanh nghiệp. Hiện nay, tất cả các khâu
trong dây chuyền sản xuất đến các khâu dịch vụ trong một doanh nghiệp hầu hết
đều ứng dụng các sản phẩm trí tuệ. Chỉ nói đơn giản một điều là việc thanh toán
tiền ở các siêu thị, tất cả đều áp dụng công nghệ, giúp cho việc thanh toán trở
nên nhanh hơn, chuẩn xác hơn giúp cho doanh nghiệp tiết kiệm tiền của, thời
gian, nhân lực và đồng thời cũng làm hài lòng khách hàng.

GVHD: Ts. Dư Ngọc Bích

Trang 15

SVTH: Nguyễn Thị Thày Nhu


4

Nguyễn Thị Vân Anh, Thực tiễn giải
nghiệp và một sổ đề
doanh nghiệp”, TạpChương 2: Cơ sở pháp lý
sở hữu trí tuệ
3.

quyết

tranh

chấp

phát

sinh

trong

quá

trình

thực

của việc góp vốn thành lập doanh nghiệp bằng quyền

hiện pháp luật doanh
xuất nhằm hoàn thiện Luật
chí Luật học số 9/2010, tr

CHƯƠNG 2

Cơ SỞ PHÁP LÝ CỦA VIỆC GÓP VÓN THÀNH LẬP DOANH NGHIỆP
BẰNG QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ

2.1 Khái niệm và nguồn luật điều chỉnh của YỈệc góp Yổn thành lập doanh
nghiệp bằng quyền sở hữu trí tuệ

Trong các hình thức tổ chức kinh doanh thì các loại hình doanh nghiệp
(trừ công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên, doanh nghiệp tư nhân) được
hình thành trên cơ sở sự liên kết góp vốn của hai hay nhiều thành viên. Thủ tục
góp vốn được thực hiện trên cơ sở định giá tài sản góp vốn và chuyển quyền sở
hữu góp vốn. Nguyên tắc cơ bản của việc góp vốn thành lập doanh nghiệp là:
nhất trí, không được rút vốn trực tiếp và thực hiện đầy đủ thủ tục theo quy định
của Luật doanh nghiệp.4
Điều 4 khoản 4 Luật doanh nghiệp năm 2005 sửa đổi bổ sung năm 2009
(gọi tắt là Luật doanh nghiệp năm 2005) quy định “Góp vốn là việc đưa tài sản
vào công ty để trở thành chủ sở hữu hoặc các chủ sở hữu chung của công ty. Tài
sản góp vốn có thể là tiền Việt Nam, ngoại tệ tự do chuyển đổi, vàng, giá trị
quyển sử dụng đất, giá trị quyển sở hữu trí tuệ, công nghệ, bí quyết kỹ thuật, các
tài sản khác ghi trong Điều lệ công ty do thành viên góp để tạo thành vổn của
công ty”. Như vậy không chỉ có tài sản hữu hình được pháp luật cho phép góp
vốn mà tài sản vô hình cũng được thực hiện việc góp vốn. Bởi tất cả mọi người
ai cũng đều công nhận giá trị thiết thực mà tài sản sở hữu trí tuệ mang lại, các
doanh nghiệp muốn thành công trcn thị trường không chỉ sử dụng các tài sản hữu
hình trong sản xuất kinh doanh mà phải biết kết hẹyp giữa tài sản vô hình và hữu
hình. Các loại tài sản được phép góp vốn thành lập doanh nghiệp phải được pháp
luật Việt Nam cho phép, bên cạnh các tài sản theo quy định của pháp luật thì góp
vốn thành lập doanh nghiệp còn cho phép các loại quyền tài sản, trong đó có
quyền sở hữu trí tuệ. Pháp luật Việt Nam cho phép cá nhân, tổ chức là chủ sở
hữu của sản phẩm trí tuệ có quyền góp vốn để thành lập công ty.
Trong những năm gần đây quyền sở hữu trí tuệ còn được tất cả mọi người
quan tâm với việc nó được phép góp vốn, vấn đề này còn rất mới mẽ song tính

GVHD: Ts. Dư Ngọc Bích

Trang 16

SVTH: Nguyễn Thị Thày Nhu


Chương 2: Cơ sở pháp lý của việc góp vốn thành lập doanh nghiệp bằng quyền
sở hữu trí tuệ

khả thi của nó rất cao, vì vốn dĩ khi một quyền sở hữu trí tuệ luôn đóng vai trò
vô cùng quan trọng trong vấn đề phát triển của một doanh ngiệp cũng như nền
kinh tế của một quốc gia. Một người có công tìm tòi, sáng tạo ra những sản
phảm trí tuệ, pháp luật cho họ cái quyền đối với sản phẩm mình tạo ra. Tuy
nhiên nếu một sản phẩm trí tuệ chỉ được tạo ra và dừng lại ở việc mỗi người giữ
riêng cho mình thì xã hội sẽ không phát triển, kinh tế ù lì, nhân loại sẽ không có
những phát minh vĩ đại đưa con người có những bước nhảy vượt bật. Chính vì lẽ
đó muốn đưa sản phẩm trí tuệ ra phục vụ xã hội thì cần phải có vốn. Nhưng bản
chất của sản phẩm trí tuệ là tài sản vô hình hay là tài sản tìm năng nên nó cần
được khai thác. Xuất phát từ nhu cầu thực tế, một bên có vốn muốn góp vốn một
bên muốn đưa sản phẩm trí tuệ ra đế kinh doanh đế cùng tìm kiếm lợi nhuận. Do
nhu càu đó ngày càng cao và sự vận hành phát triển của nền kinh tế nước ta đã
đến lúc cho phép việc góp vốn bằng quyền sở hữu trí tuệ.
2.1.1
Khái niệm
Vấn đề góp vốn bằng quyền sở hữu trí tuệ, nó không phải thực hiện góp
vốn bằng tiền mặt, một loại tài sản hữu hình có thể nhìn thấy được, chạm vào
được mà hình thức góp vốn này là góp vốn dưới hình thức một loại quyền của
một sản phẩm trí tuệ được thể hiện dưới một dạng vật chất, hay một hình thức
nào đó được mọi người công nhận. Bản chất của quan hệ góp vốn là sự “hùn
vốn” giữa các thành viên với nhau và nó dẫn đến sự chi phối, chia sẽ lợi ích giữa
những người cùng góp vốn, và sự chia sẻ này còn phụ thuộc vào số vốn mà
thành viên đó đóng góp.
Luật doanh nghiệp 2005 ghi nhận và cho phép góp vốn bằng quyền sở
hữu trí tuệ, mặc dù không có một khái niệm nào cụ thể để quy định về vấn đề
này nhưng theo những quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành thì góp vốn
thành lập doanh nghiệp bằng quyền sở hữu trí tuệ có thể được hiểu một cách cơ
bản: cá nhân, tổ chức là chủ sở hữu của tác phẩm sở hữu trí tuệ đưa sản phẩm trí
tuệ mà mình làm chủ sở hữu góp vốn để trở thành chủ sở hữu hoặc đồng sở hữu
chung của doanh nghiệp. Bởi đây là một tài sản vô hình giá trị của nó là những
ý tưởng mang tính khả thi, tiềm năng cần được khai thác. Chính vì vậy, cho nên
không phải tài sản sở hữu trí tuệ nào cũng được phép góp vốn, việc chấp nhận
cho góp vốn bằng quyền sở hữu trí tuệ còn phụ thuộc vào giá trị mà nó mang lại.
Tài sản góp vốn thành lập doanh nghiệp phải được các thành viên, cổ đông cùng

GVHD: Ts. Dư Ngọc Bích

Trang 17

SVTH: Nguyễn Thị Thày Nhu


5

Điều 30, khoản 2 Luật doanh nghiệp năm 2005.

Chương 2: Cơ sở pháp lý của việc góp vốn thành lập doanh nghiệp bằng quyền
sở hữu trí tuệ

sáng lập đồng ý và định giá theo nguyên tắc nhất trí 5. Theo quy định của pháp
luật hiện hành, các thành viên sáng lập doanh nghiệp chấp nhận loại tài sản này
thì quan hệ góp vốn hoàn toàn hợp pháp, bởi về bản chất trường hợp này đã thực
hiện góp vốn bằng một loại tài sản có giá trị, được pháp luật cho phép và được
các thành viên sáng lập chấp nhận. Là tài sản vô hình nhưng nó được thể hiện ở
dạng vật chất mà mọi người có thể chấp nhận và được định giá để xác định giá
trị mà tiền tệ là thước đo, nhưng đặc biệt ở chỗ là ngay từ đầu khi thực hiện việc
góp vốn nó không phải là tiền mặt. về hình thức có thể xem quyền sở hữu trí tuệ
thuộc loại quyền về dân sự, nó vừa mang tính chất nhân thân vừa mang tích chất
tài sản. Tuy nhiên, quyền nhân thân trong trường hợp này không thể dùng để góp
vốn, một chủ thể nào đó sáng tạo ra một tài sản sở hữu trí tuệ, sau khi đã chuyển
nhượng sản phẩm cho người khác, lúc này chủ thể đó chỉ còn quyền đứng tên
trên tác phẩm đó, không thể góp vốn khi tài sản đó không phải là của mình, và
không thể góp vốn vì mình chỉ có quyền đứng tên trên tác phẩm. Trong trường
hợp này chủ thể đó chỉ còn lại quyền nhân thân một loại quyền mang giá trị về
tinh thần, vấn đề góp vốn thành lập doanh nghiệp mục đích là làm sao tập hợp
được những tài sản, những giá trị có thể giúp doanh nghiệp phát triển và đáp ứng
được những quy định của pháp luật. Các thành viên sáng lập buộc phải cân nhắc
về tính thanh khoản của tài sản góp vốn để tiếp nhận hay từ chối quan hệ góp
vốn. Bởi khi tiếp nhận một nguồn vốn góp sau đó phải chia sẻ lợi nhuận, nhưng
phần vốn góp đó chẳng có giá trị về mặt kinh tế, không mang lại giá trị thặng dư
cho doanh nghiệp thì đương nhiên sẽ không có việc chấp nhận phần vốn góp đó.
2.1.2
Hệ thống các vãn bản luật điều chỉnh của việc góp vốn
Một hệ thống pháp luật hoàn thiện, thông thoáng và định hướng đúng đắn
sẽ giúp cho nền kinh tế phát triển mau lẹ, phù hợp với tiến trình hội nhập kinh tế
thế giới. Vì lẽ đó, pháp luật nước ta luôn đổi mới và hoàn thiện để tạo hành lang
pháp lý an toàn cho các nhà doanh nghiệp trong và ngoài nước. Việc điều chỉnh
pháp luật đối với các quan hệ về Luật doanh nghiệp nói chung và quan hệ về
việc góp vốn thành lập doanh nghiệp bằng quyền sở hữu trí tuệ nói riêng được
xác định trong hệ thống pháp luật Việt Nam và những điều ước quốc tế mà Việt
Nam đã tham gia ký kết hoặc gia nhập. Các văn bản pháp luật Việt Nam trong
thời gian qua về việc góp vốn thành lập doanh nghiêp có thể chia thành nhiều

GVHD: Ts. Dư Ngọc Bích

Trang 18

SVTH: Nguyễn Thị Thày Nhu


Chương 2: Cơ sở pháp lý của việc góp vốn thành lập doanh nghiệp bằng quyền
sở hữu trí tuệ

nhóm, nhóm về pháp luật quốc gia và nhóm về các điều ước quốc tế mà Việt
Nam đã tham gia ký kết hoặc gia nhập. Bên cạnh đó các tập quán quốc tế trong
giao thương buôn bán lâu đời của thương mại quốc tế cũng được nhà nước ta
công nhận để điều chỉnh về việc góp vốn thành lập doanh nghiệp nói chung cũng
như vấn đề về việc góp vốn bằng quyền sở hữu trí tuệ.
2.1.2.1
Pháp luật quốc gia.
Có thể nói nhà nước ta ngày càng có quan điểm thông thoáng, cởi mở tạo
điều kiện hết sức thuận lợi cho các chủ thể tiến hành thành lập doanh nghiệp, tôn
trọng triệt để quyền tự do kinh doanh trong khuôn khổ pháp luật. Điều này được
thể hiện ở nhiều chế định pháp luật về tổ chức, hoạt động các loại hình doanh
nghiệp, trong đó chế định về góp vốn thành lập doanh nghiệp là chế định cơ bản,
thể hiện rõ tư tưởng này. Thủ tục góp vốn thành lập doanh nghiệp của Việt Nam
được ghi nhận trong nhiều văn bản luật, song vấn đề góp vốn thành lập doanh
nghiệp bằng quyền sở hữu trí tuệ chỉ được ghi nhận cụ thể ở Luật doanh nghiệp
năm 2005, Nghị định chính phủ số 102/2010/NĐ - CP ngày 01/10/2010 hướng
dẫn chi tiết Luật doanh nghiệp năm 2005. vấn đề góp vốn thành lập doanh
nghiệp bằng quyền sở hữu trí tuệ không được quy định nhiều trong các văn bản
pháp luật, quyền sở hữu trí tuệ là tài sản vô hình nhưng nó cũng là một loại tài
sản mang giá trị kinh tế cao và được pháp Luật cho phép góp vốn cho nên cần có
nhiều quy định hơn nữa. Thủ tục quy định việc góp vốn thành lập doanh nghiệp
bằng quyền sở hữu trí tuệ có thể kể đến các văn bản chủ yếu nói nhiều về thủ tục
góp vốn đối với các tài sản nói chung được ghi nhận trong các bản luật như: Luật
sở hữu trí tuệ sửa đổi bổ sung năm 2009, Luật doanh nghiệp năm 2005, Nghị
định chính phủ số 102/ 2010/NĐ-CP ngày 01/10/2010 hướng dẫn chi tiết một số
điều của Luật doanh nghiệp, Nghị định chính phủ số 43/2010/NĐ-CP ngày
15/04/2010 về đãng ký kinh doanh, thông tư của Bộ kế hoạch đầu tư số
14/2010/TT-BKH ngày 04/6/2010 hướng dẫn một số nội dung về hồ sơ, trình tự,
thủ tục đăng ký doanh nghiệp theo quy định của Nghị định 43/2010/NĐ-CP,
Nghị định chính phủ số 103/2006/NĐ-CP ngày 22/09/2006 quy định chi tiết và
hướng dẫn thi hành các quy định của Luật sở hữu trí tuệ về việc xác lập chủ thể,
nội dung, giới hạn quyền sở hữu công nghiệp, chuyển giao quyền sở hữu công
nghiệp, đại diện sở hữu công nghiệp và các biện pháp thúc đẩy hoạt động sở hữu
công nghiệp và một số văn bản pháp luật chuyên ngành khác.

GVHD: Ts. Dư Ngọc Bích

Trang 19

SVTH: Nguyễn Thị Thày Nhu


6

Khoản 4 Điều 3 Luật doanh nghiệp năm 1999.

Chương 2: Cơ sở pháp lý của việc góp vốn thành lập doanh nghiệp bằng quyền
sở hữu trí tuệ

Nhìn lại vấn đề góp vốn để thành lập doanh nghiệp theo Luật doanh
nghiệp tư nhân năm 1990 và Luật công ty năm 1990 có thể thấy các văn bản
pháp luật hiện nay quy định về thủ tục góp vốn để thành lập doanh nghiệp có
những bước tiến nhảy vọt. Cụ thể, trong những năm đàu đổi mới, khi pháp luật
nước ta bắt đầu thừa nhận kinh tế tư nhân tồn tại song song bình đẳng với kinh tế
quốc doanh và kinh tế tập thể, việc góp vốn để thành lập doanh nghiệp vô cùng
chặc chẽ. Các tài sản góp vốn để thành lập doanh nghiệp cũng còn hạn chế vấn
đề góp vốn để thành lập doanh nghiệp bằng quyền sở hữu trí tuệ không được đề
cập đến. Vì vậy nên pháp luật chưa có những chế định để quy định về vấn đề
góp vốn bằng quyền sở hữu trí tuệ. Trong giai đoạn này, nước ta vừa chuyển
sang nền kinh tế thị trường, thành phần kinh tế tư nhân mới được tự do hoạt
động và cạnh tranh bình đẳng với nhau cũng như các thành phần kinh tế khác,
hơn nữa kinh nghiệm quản lý thành phần kinh tế này của hệ thống cơ quan Nhà
nước chưa nhiều và chưa thật sâu sát. Lúc này, chúng ta chưa thấy được tầm
quan trọng của giá trị quyền sở hữu trí tuệ, chưa nhận thức được lợi ích mà nó
mang lại cho một doanh nghiệp như hiện nay.
Đen Luật doanh nghiệp năm 1999 tư duy về quản lý nhà nước thông qua
thủ tục góp vốn thành lập doanh nghiệp có sự thay đổi căn bản đã tạo điều kiện
cho các nhà kinh doanh làm những gì mà pháp luật không cấm. Trước đây, pháp
luật cho phép góp vốn bằng các quyền tài sản hữu hình cụ thể nhưng đến khi
Luật doanh nghiệp 1999 ra đời, pháp luật quy định thêm một chế định đó là cho
phép góp vốn bằng các tài sản vô hình có tiềm năng phát triển kinh tế và tìm
kiếm lợi nhuận. Luật doanh nghiệp 1999 ra đời đánh dấu bước ngoặc cho doanh
nghiệp những quy định mới và góp phần tạo ra những điều kiện thuận lợi hơn
cho các chủ thể kinh doanh chủ động trong việc tìm kiếm đối tác kinh doanh. Có
thể nói văn bản pháp luật này đã tạo bước ngoặc quan trọng để các nhà kinh
doanh Việt Nam thực sự có điều kiện để thực thi quyền tự do kinh doanh và tạo
điều kiện cho nền kinh tế phát triển dựa trên nền tảng của tri thức. Luật doanh
nghiệp năm 1999 quy định các tài sản được phép góp vốn bao gồm: “Tài sản để
góp vốn có thể là tiền Việt Nam, ngoại tệ tự do chuyển đổi, vàng, giá trị quyền
sử dụng đất, giá trị quyền sở hữu trí tuệ, công nghệ, bí quyết kỹ thuật, các tài sản
khác ghi trong Điều lệ công ty do thành viên góp để tạo thành vốn của công ty”6

GVHD: Ts. Dư Ngọc Bích

Trang 20 SVTH: Nguyễn Thị Thày Nhu


Chương 2: Cơ sở pháp lý của việc góp vốn thành lập doanh nghiệp bằng quyền
sở hữu trí tuệ

Luật doanh nghiệp năm 1999 cũng đã ghi nhận hình thức góp vốn bằng quyền sở
hữu trí tuệ. Tuy nhiên, chế định góp vốn bằng quyền sở hữu trí tuệ được quy
định nhưng không có văn bản nào hướng dẫn cụ thể và rõ ràng, cho nên các chủ
thể kinh doanh cũng như chủ thể góp vốn vẫn còn rất mơ hồ về vấn đề này. Pháp
luật chỉ quy định như thế nhưng không nêu rõ giá trị quyền sở hữu trí tuệ như thế
nào được phép góp vốn và những loại quyền sở hữu trí tuệ nào được góp vốn, và
góp như thế nào, ai được quyền góp vốn bằng quyền sở hữu trí tuệ.
Mặc dù có những bước tiến căn bản so với thủ tục góp vốn thành lập
doanh nghiệp trước đây nhưng đứng trước yêu cầu phát triển của xã hội và các
yêu cầu cải cách hành chính là giảm bớt các thủ tục phiền hà và tạo điều kiện
thuận lợi cho các chủ thể thực hiện quyền kinh doanh, Luật doanh nghiệp năm
2005, Luật sở hữu trí tuệ năm 2005, Nghị Định 102/2010/NĐ-CP, Nghị định
43/2010/NĐ-CP, Thông tư số 14/2010/TT-BKH đã quy định cụ thể hơn nữa về
vấn đề góp vốn bằng quyền sở hữu trí tuệ. Sự ra đời của Luật sở hữu trí tuệ năm
2005 đã góp phần cho quyền sở hữu trí tuệ được bảo hộ, làm cho người sáng tạo
an tâm hơn khi công bố tác phẩm và giá trị quyền sở hữu trí tuệ sẽ được tăng lên.
Bên cạnh đó, Nghị định 102/201/NĐ-CP ngày 01/10/2010 quy định cụ thể hơn
là các loại quyền sở hữu trí tuệ nào được phép góp vốn và chỉ có chủ sở hữu
những loại quyền đó mới được góp vốn đã tạo ra một hành lang pháp lý mới về
việc góp vốn bằng quyền sở hữu trí tuệ.
2.1.2.2
Điều ước quốc tế
Đứng trước thách thức về thời kì hội nhập kinh tế thế giới, và khi Việt
Nam đã trở thành thành viên của WTO, để bắt nhịp kịp với tiến trình phát triển
của nền kinh tế thế giới, Việt Nam phải không ngừng hoàn thiện trên nhiều lĩnh
vực, đặc biệt pháp luật là một lĩnh vực vô cùng quan trọng đối với sự phát triển
thịnh vượng và lâu bền của nhiều quốc gia không chỉ riêng Việt Nam. Chính vì
lẽ đó chúng ta đã không ngừng phát huy những mặt tốt và tự hoàn thiện những
mặt chưa tốt. Chúng ta luôn tạo mối quan hệ hữu nghị hẹyp tác với tất cả những
nước trên thế giới. Không ngừng hoàn thiện pháp luật trong nước để thu hút đầu
tư nước ngoài, bên cạnh đó cũng gia nhập nhiều điều ước quốc tế song phương
và đa phương trên nhiều lĩnh vực trong đó có vấn đề về quyền sở hữu trí tuệ.

GVHD: Ts. Dư Ngọc Bích

Trang 21

SVTH: Nguyễn Thị Thày Nhu


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×