Tải bản đầy đủ (.pdf) (97 trang)

Hoạt động trợ giúp pháp lý của luật sư ở việt nam hiện nay

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.21 MB, 97 trang )


1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT




TRẦN THỊ VIỆT HÀ





HOẠT ĐỘNG TRỢ GIÚP PHÁP LÝ CỦA LUẬT SƯ
Ở VIỆT NAM HIỆN NAY





LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC







HÀ NỘI - 2015





2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT



TRẦN THỊ VIỆT HÀ




HOẠT ĐỘNG TRỢ GIÚP PHÁP LÝ CỦA LUẬT SƯ
Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

Chuyên ngành : Lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật
Mã số : 60 38 01


LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC



Người hướng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Văn Tuân





HÀ NỘI - 2015


3




Lời cam đoan


Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên
cứu khoa học của riêng tôi. Các số liệu, ví dụ và
trích dẫn trong luận văn đảm bảo độ tin cậy, chính
xác và trung thực. Những kết luận khoa học của
luận văn ch-a từng đ-ợc ai công bố trong bất kỳ
công trình nào khác.

Tác giả luận văn


Trần Thị Việt Hà









4
MỤC LỤC



Trang

Trang phụ bìa


Lời cam đoan


Mục lục


MỞ ĐẦU
1

Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG TRỢ GIÚP
PHÁP LÝ CỦA LUẬT SƯ
7
1.1.
Khái niệm trợ giúp pháp lý
7
1.2.
Khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa hoạt động trợ giúp pháp lý của
luật sư
12

1.2.1.
Khái niệm luật sư
12
1.2.2.
khái niệm hoạt động trợ giúp pháp lý của luật sư
15
1.2.3.
Đặc điểm hoạt động trợ giúp pháp lý của luật sư ở Việt Nam
20
1.2.4.
Ý nghĩa hoạt động trợ giúp pháp lý của luật sư
25
1.3.
Mô hình trợ giúp pháp lý của luật sư ở một số nước trên thế giới
27
1.4.1.
Tập thể luật sư của Ấn Độ
29
1.4.2.
Quỹ đoàn luật sư thành phố tại thành phố New York
30
1.4.3.
Trung tâm hỗ trợ pháp lý Nhật Bản
30
1.4.4.
Một số đặc điểm chung về luật sư thực hiện trợ giúp pháp lý
trên thế giới
31

Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ HOẠT ĐỘNG TRỢ

GIÚP PHÁP LÝ CỦA LUẬT SƯ Ở VIỆT NAM
33
2.1.
Thực trạng pháp luật về hoạt động trợ giúp pháp lý của luật
sư từ sau Cách mạng tháng Tám 1945 đến nay
33
2.1.1.
Thực trạng pháp luật về hoạt động trợ giúp pháp lý của luật
sư từ sau cách mạng tháng tám 1945 đến năm 1987
33
2.1.2.
Thực trạng pháp luật về hoạt động trợ giúp pháp lý của luật
sư từ năm 1987 đến năm 2006
36

5
2.1.3.
Thực trạng pháp luật về hoạt động trợ giúp pháp lý của luật
sư từ năm 2006 đến nay
41
2.2.
Thực trạng hoạt động trợ giúp pháp lý của luật sư
43
2.2.1.
Số lượng luật sư tham gia trợ giúp pháp lý
43
2.2.2.
Hoạt động tư vấn pháp luật của luật sư
46
2.2.3.

Hoạt động tham gia tố tụng của luật sư
49
2.2.4.
Hoạt động đại diện ngoài tố tụng của luật sư
51
2.2.5.
Các hình thức trợ giúp pháp lý khác
52
2.3.
Đánh giá chung về thực trạng hoạt động trợ giúp pháp lý của
luật sư
53
2.3.1.
Những ưu điểm về hoạt động trợ giúp pháp lý của luật sư
53
2.3.2.
Những bất cập, hạn chế về hoạt động trợ giúp pháp lý của luật sư
55
2.3.3.
Nguyên nhân
57

Chương 3: CÁC YÊU CẦU VÀ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO VAI
TRÒ CỦA LUẬT SƯ TRONG HOẠT ĐỘNG TRỢ GIÚP
PHÁP LÝ Ở VIỆT NAM
60
3.1.
Các yêu cầu về bảo đảm và tăng cường hoạt động trợ giúp
pháp lý của luật sư ở Việt Nam
60

3.1.1.
Bảo đảm và tăng cường hoạt động trợ giúp pháp lý của luật
sư phải dựa trên quan điểm xây dựng Nhà nước Pháp quyền
Việt Nam xã hội chủ nghĩa
60
3.1.2.
Bảo đảm và tăng cường hoạt động trợ giúp pháp lý của luật
sư phải quán triệt quan điểm của Đảng về cải cách tư pháp
62
3.1.3.
Bảo đảm và tăng cường hoạt động trợ giúp pháp lý của luật
sư ở Việt Nam phải gắn liền với quan điểm, chủ trương của
Đảng và Nhà nước về phát triển trợ giúp pháp lý
63
3.1.4.
Bảo đảm và tăng cường hoạt động trợ giúp pháp lý của luật
sư ở Việt Nam gắn liền với chủ trương của Đảng và Nhà
nước về xã hội hóa hoạt động trợ giúp pháp lý
64

6
3.1.5.
Bảo đảm, tăng cường hoạt động trợ giúp pháp lý của luật sư ở
Việt Nam phải tương thích với hoạt động trợ giúp pháp lý của
các luật sư trong khu vực và trên thế giới
68
3.2.
Những giải pháp nâng cao vai trò của luật sư trong hoạt động
trợ giúp pháp lý ở Việt Nam
69

3.2.1.
Hoàn thiện chính sách, pháp luật về trợ giúp pháp lý
69
3.2.2.
Tăng cường công tác thông tin, truyền thông về trợ giúp pháp
lý nói chung và quyền được trợ giúp pháp lý của người dân
nói riêng
71
3.2.3.
Kiện toàn, nâng cao năng lực đội ngũ luật sư tham gia trợ
giúp pháp lý
72
3.2.4.
Xây dựng nghĩa vụ thực hiện trợ giúp pháp lý của luật sư
73
3.2.5.
Hoàn thiện chế độ chính sách đối với luật sư thực hiện trợ
giúp pháp lý
82
3.2.6.
Tăng cường hợp tác quốc tế về trợ giúp pháp lý
83
3.2.7.
Tăng cường quản lý nhà nước đối với hoạt động trợ giúp
pháp lý của luật sư
84

KẾT LUẬN
86


DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
88


7
MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài
Thực hiện chủ trương của Đảng về việc "cần phải mở rộng loại hình
tư vấn pháp luật phổ thông, đáp ứng nhu cầu rộng rãi, đa dạng của các tầng
lớp nhân dân nghiên cứu lập hệ thống dịch vụ tư vấn pháp luật không lấy
tiền để hướng dẫn nhân dân sống và làm việc theo pháp luật", ngày
06/9/1997, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 734/TTg về việc
thành lập tổ chức trợ giúp pháp lý cho người nghèo và đối tượng chính sách.
Đây là văn bản pháp lý đầu tiên và có hiệu lực cao nhất về lĩnh vực trợ giúp
pháp lý, tạo cơ sở pháp lý cho việc hình thành và phát triển hệ thống trợ giúp
pháp lý ở nước ta.
Công tác trợ giúp pháp lý sau 17 năm hình thành và phát triển đã đạt
được những kết quả quan trọng: 63 Trung tâm, 199 Chi nhánh với 1.244 biên
chế trong đó có 483 là Trợ giúp viên pháp lý (trung bình mỗi Trung tâm có 08
Trợ giúp viên pháp lý) và 8.980 cộng tác viên trong đó có 1.055 luật sư chiếm
11,7%. Từ khi mạng lưới tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý được thành lập
đến nay, tổng số vụ việc trợ giúp pháp lý đã được thực hiện là là 1.825.178 vụ
việc trợ giúp được cho 1.891.425 đối tượng, trung bình mỗi năm đã có trên
100 nghìn vụ việc được thực hiện, để đáp ứng được nhu cầu này thì số lượng
Trợ giúp viên pháp lý hiện nay của các Trung tâm là không đủ đặc biệt là số
lượng vụ việc tham gia tố tụng và đại diện ngoài tố tụng của người được trợ
giúp pháp lý ngày càng tăng. Không chỉ dừng lại ở việc tranh tụng tại Tòa án
đối với các vụ án hình sự, hoạt động tham gia tố tụng của tổ chức trợ giúp
pháp lý còn được hiểu là việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho các

đương sự trong vụ án dân sự, lao động đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp
theo tinh thần Nghị quyết số 49-NQ/TW: "Nghiên cứu thực hiện và phát triển
các loại hình dịch vụ từ phía nhà nước để tạo điều kiện cho các đương sự chủ

8
động thu thập chứng cứ chứng minh, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của
mình" [19]. Việc có mặt của Trợ giúp viên pháp lý hay luật sư là cộng tác
viên của tổ chức trợ giúp pháp lý tại phiên tòa, trong quá trình tố tụng là điều
vô cùng cần thiết nhằm góp phần đem lại những phán quyết phù hợp với pháp
luật cho mỗi người dân đặc biệt là những nhóm người yếu thế trong xã hội.
Đồng thời, luật sư tham gia hoạt động trợ giúp pháp lý đã thể hiện được chức
năng xã hội nghề nghiệp của luật sư trong việc góp phần bảo vệ công lý, các
quyền tự do, dân chủ của nhân dân, quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ
quan, tổ chức, phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt
Nam xã hội chủ nghĩa, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh.
Bên cạnh những kết quả đã đạt được, từ thực tiễn hoạt động trợ giúp
pháp lý của luật sư cũng bộc lộ những khó khăn, hạn chế, yếu kém làm ảnh
hưởng đến hiệu quả của hoạt động này. Vì vậy, cần nghiên cứu một cách đầy
đủ các yếu tố tác động hoạt động trợ giúp pháp lý của luật sư như: số lượng
luật sư nói chung và số lượng luật sư tham gia trợ giúp pháp lý tại một số địa
phương còn thấp, chất lượng luật sư chưa cao, kinh phí bảo đảm cho hoạt
động này còn nhiều thiếu thốn và hạn chế chưa tương xứng với nhiệm vụ
Xuất phát từ tình hình thực tế hiện nay, việc nghiên cứu đề tài: "Hoạt động
trợ giúp pháp lý của luật sư ở Việt Nam hiện nay" là yêu cầu khách quan,
cần thiết cả về phương diện lý luận và thực tiễn nhằm nâng cao hiệu quả của
luật sư trong hoạt động trợ giúp pháp, góp phần xây dựng nhà nước pháp
quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân.
2. Tình hình nghiên cứu
Trợ giúp pháp lý là nhiệm vụ quan trọng hệ thống chính trị trong đó
ngành Tư pháp giữ vai trò trung tâm. Việc ban hành chính sách trợ giúp pháp

lý và triển khai chính sách này trên thực tế đã thể hiện sự quan tâm sâu sắc
của Đảng và Nhà nước đối với người nghèo và đối tượng chính sách trên
phương diện pháp luật, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, đánh dấu bước phát

9
triển vượt bậc của công cuộc xóa đói giảm nghèo ở Việt Nam - xóa đói giảm
nghèo về cả vật chất và tinh thần, tạo điều kiện cho người chịu thiệt thòi trong
xã hội được bình đẳng tiếp cận với pháp luật, công bằng trước pháp luật.
Đến nay, đã có một số đề tài nghiên cứu tiến sĩ, thạc sĩ, đề tài cấp Bộ
và các bài báo, tạp chí, chuyên đề nghiên cứu làm sáng tỏ các vấn đề lý luận
và thực tiễn liên quan đến lĩnh vực trợ giúp pháp lý, cụ thể như sau:
Luận án tiến sĩ Luật học "Điều chỉnh pháp luật về trợ giúp pháp lý ở
Việt Nam trong điều kiện đổi mới" của Tạ Thị Minh Lý. Luận án đã tập trung
nghiên cứu cơ sở lý luận, pháp lý của điều chỉnh pháp luật và điều chỉnh pháp
luật về trợ giúp pháp lý; thực trạng điều chỉnh pháp luật về trợ giúp pháp lý và
phương hướng hoàn thiện việc điều chỉnh pháp luật về trợ giúp pháp lý trong
điều kiện đổi mới.
Luận văn thạc sĩ Luật học: "Hoàn thiện pháp luật về người thực hiện
trợ giúp pháp lý ở Việt Nam" của Vũ Hồng Tuyến. Luận văn tập trung nghiên
cứu cơ sở lý luận, pháp lý và thực tiễn về người thực hiện trợ giúp pháp lý, từ
đó có các giải pháp xây dựng và hoàn thiện pháp luật về người thực hiện trợ
giúp pháp lý.
Luận văn thạc sĩ Luật học "Bảo đảm quyền được trợ giúp pháp lý" của
Phan Thị Thu Hà. Luận văn tập trung nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn về
quyền được trợ giúp pháp lý và các giải pháp nhằm bảo đảm quyền được trợ
giúp pháp lý của người dân.
Luận văn thạc sĩ Luật học "Phát triển trợ giúp pháp lý ở cơ sở" của
Đặng Thị Loan. Luận văn tập trung nghiên cứu cơ sở lý luận, thực tiễn về các
mô hình trợ giúp pháp lý ở cơ sở và đưa ra các giải pháp để phát triển mô
hình trợ giúp pháp lý ở cơ sở.

Luận văn thạc sĩ Luật học "Chất lượng hoạt động trợ giúp pháp lý ở
Việt Nam" của Phạm Quang Đại. Luận văn đã nghiên cứu lý luận và thực tiễn
vấn đề chất lượng hoạt động trợ giúp pháp lý cũng như làm rõ thực trạng chất

10
lượng trợ giúp pháp lý hiện nay và quan điểm, giải pháp nâng cao chất lượng
trợ giúp pháp lý.
Luận văn thạc sĩ Luật học "Pháp luật về Quỹ Trợ giúp pháp lý Việt
Nam" của Nguyễn Thị Mận. Luận văn nghiên cứu lý luận, pháp lý về trợ giúp
pháp lý và tổ chức, hoạt động của Quỹ Trợ giúp pháp lý Việt Nam từ đó làm
rõ vị trí, vai trò và ý nghĩa của Quỹ, đưa ra các quan điểm, giải pháp nhằm
nâng cao hoạt động của Quỹ.
Các công trình trên đã nghiên cứu các mặt, khía cạnh khác nhau của
hoạt động trợ giúp pháp lý. Tuy nhiên, đến nay vấn đề đánh giá vị trí, vai trò
của luật sư trong hoạt động trợ giúp pháp lý vẫn chưa có công trình nào
nghiên cứu chuyên sâu, toàn diện và tổng thể về lý luận và thực tiễn. Vì vậy,
với đề tài "Hoạt động trợ giúp pháp lý của Luật sư ở Việt Nam hiện nay",
tác giả luận văn sẽ đi sâu phân tích làm sáng tỏ các vấn đề có liên quan cả về
mặt lý luận và thực tiễn, góp phần tìm ra giải pháp, định hướng phát triển hoạt
động trợ giúp pháp lý của luật sư.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Luận văn tập trung làm rõ những vấn đề lý luận, pháp lý và thực tiễn
về vị trí, vai trò của luật sư trong hoạt động trợ giúp pháp lý, trên cơ sở đó
đánh giá chính xác nhất về giá trị của luật sư trong hoạt động trợ giúp pháp lý
để từ đó đưa ra định hướng nhằm nâng cao hiệu quả của luật sư trong hoạt
động trợ giúp pháp lý trong thời gian tới.
Luận văn có nhiệm vụ nghiên cứu các nội dung sau đây:
- Các khái niệm, đặc điểm hoạt động trợ giúp pháp lý, hoạt động trợ
giúp pháp lý của luật sư.
- Phân tích đánh giá thực trạng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

của luật sư ở Việt Nam trong thời gian qua, phát hiện những hạn chế, khó
khăn, vướng mắc, bất cập và nguyên nhân để có giải pháp hoàn thiện.

11
- Nghiên cứu quan điểm đổi mới, hoàn thiện hoạt động trợ giú pháp lý
của luật sư ở Việt Nam. Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt
động trợ giúp pháp lý của luật sư trong thời gian tới.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Trợ giúp pháp lý là một lĩnh vực tương đối rộng, bao gồm nhiều khái
niệm, đối tượng, phương thức, phạm vi, mô hình tổ chức, quản lý nhà nước
về trợ giúp pháp lý, do đó cần nhiều công trình nghiên cứ với quy mô và thời
gian thích hợp. Về phần đề tài chủ yếu tập trung nghiên cứu về hoạt động trợ
giúp pháp lý do luật sư thực hiện với những vấn đề liên quan đến tiêu chuẩn,
điều kiện để luật sư có thể tham gia thực hiện trợ giúp pháp, cũng như các
quyền, nghĩa vụ, quy tắc đạo đức nghề nghiệp của luật sư khi thực hiện trợ
giúp pháp lý. Phạm vi nghiên cứu được giới hạn ở cơ sở lý luận và thực tiễn,
thực trạng, phương hướng hoàn thiện pháp luật về trợ giúp pháp lý và pháp
luật về luật sư để bảo đảm cho vai trò của luật sư trong hoạt động trợ giúp
pháp lý đạt kết quả tốt nhất.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
- Đề tài được nghiên cứu trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin
và tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật, những quan điểm của
Đảng về hoạt động tư pháp nói chung và hoạt động trợ giúp pháp lý nói riêng.
Các văn kiện của Đảng, Hiến pháp, Luật Trợ giúp pháp lý, Luật Luật sư và
các văn bản hướng dẫn thi hành.
- Trong quá trình nghiên cứu, luận văn sử dụng phương pháp luận của
triết học Mác - Lênin là phép duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, đồng thời
sử dụng các phương pháp hệ thống, phân tích, tổng hợp, so sánh, thống kê.
Đồng thời, tác giả còn sử dụng phương pháp khai thác và sử dụng các tư liệu
thực tiễn, kết quả khảo sát để hoàn chỉnh luận văn.

6. Đóng góp mới của luận văn
Luận văn sẽ nghiên cứu một cách toàn diện, có hệ thống về vai trò của
luật sư trong hoạt động trợ giúp pháp lý. Trên cơ sở đó đưa ra một số giải

12
pháp, khuyến nghị nhằm nâng cao hiệu quả của luật sư trong hoạt động trợ
giúp pháp lý ở Việt Nam trong thời gian tới.
7. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
- Kết quả nghiên cứu của luận văn có ý nghĩa thiết thực cả về phương
diện lý luận cũng như thực tiễn về vấn đề hoạt động trợ giúp pháp lý của luật
sư ở Việt Nam hiện nay. Luận văn đã nghiên cứu toàn diện, có hệ thống về cơ
sở lý luận, pháp lý về trợ giúp pháp lý nói chung và hoạt động trợ giúp pháp
lý của luật sư nói riêng; đánh giá đúng những kết quả đã đạt được của luật sư
trong hoạt động trợ giúp pháp lý, cũng như phát hiện những khó khăn, hạn
chế, tồn tại làm ảnh hưởng đến hoạt động này của luật sư; từ đó đưa ra những
định hướng, giải pháp nhằm nâng cao hoạt động này.
- Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể được dùng làm tài liệu tham
khảo cho việc xây dựng chính sách liên quan đến hoạt động trợ giúp pháp lý
của luật sư trong thời gian tới. Đồng thời, luận văn có thể được sử dụng làm
tài liệu tham khảo trong công tác đào tạo và nghiên cứu.
8. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội
dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề chung về hoạt động trợ giúp pháp lý của
luật sư.
Chương 2: Thực trạng pháp luật và hoạt động trợ giúp pháp lý của luật
sư ở Việt Nam từ năm 1945 đến nay.
Chương 3: Các yêu cầu và giải pháp nhằm nâng cao vai trò của luật sư
trong hoạt động trợ giúp pháp lý ở Việt Nam.



13
Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG
VỀ HOẠT ĐỘNG TRỢ GIÚP PHÁP LÝ CỦA LUẬT SƯ

1.1. KHÁI NIỆM TRỢ GIÚP PHÁP LÝ
Thuật ngữ "trợ giúp pháp lý" có nguồn gốc từ tiếng Anh là "legal aid"
được sử dụng phổ biến trên thế giới từ giữa thế kỷ 20. Theo đó "legal aid"
được dịch ra tiếng Việt với nhiều tên gọi và thuật ngữ khác nhau. Theo Từ
điển Anh - Việt của tác giả Lê Khả Kế, Nhà xuất bản Khoa học xã hội, 1997
thì "legal aid" có nghĩa là "trợ cấp pháp lý". Trong Từ điển pháp luật Anh -
Việt, Nhà xuất bản Thế giới do Nguyễn Thành Minh chủ biên, 1998 thì "legal
aid" trong cụm từ "legal aid schem" (kế hoạch bảo trợ tư pháp) có nghĩa là
"bảo trợ tư pháp". Trong một số tài liệu khác còn dịch là "hỗ trợ pháp luật",
"hỗ trợ pháp lý" hoặc "hỗ trợ tư pháp". Từ điển Anh - Việt, Viện Ngôn ngữ
học, Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn quốc gia (Nhà xuất bản Thành
phố Hồ Chí Minh, 1999) không đưa ra thuật ngữ chung bằng tiếng Việt về
cụm từ "legal aid" mà diễn giải nghĩa của thuật ngữ này bằng tiếng Việt là "lấy
tiền từ công quỹ để trả chi phí cho việc cố vấn hoặc làm đại diện pháp lý".
Thuật ngữ "trợ giúp pháp lý" là một cụm từ ghép "trợ giúp" và "pháp lý".
Theo Từ điển tiếng Việt, thì "trợ giúp" được hiểu là "giúp đỡ" [44, tr. 767],
pháp lý tức là "nguyên lý về pháp luật" [44, tr. 1045]. Theo Từ điển Từ và
Ngữ Việt Nam, thì "trợ giúp" là góp sức hoặc góp tiền cho một người hoặc
vào một việc chung, giúp làm hộ mà không lấy tiền công, còn "pháp lý" là
"nguyên lý của pháp luật" [24, tr. 1431]. Theo Đại Từ điển tiếng Việt, thì "trợ
giúp" được hiểu là "sự giúp đỡ, bảo trợ, hỗ trợ, giúp cho ai việc gì, đem lại
cho ai cái gì, lúc khó khăn, đang lúc cần đến", thuật ngữ "pháp lý" được hiểu
là lý lẽ, lẽ phải theo pháp luật, nói một cách khái quát pháp lý là lý luận; theo
Từ điển Luật học, Nxb Từ điển Bách khoa - Nxb Tư pháp, 2006, thì pháp lý


14
là những khía cạnh, phương diện khác nhau của đời sống pháp luật của một
quốc gia, "pháp lý" chỉ những lý lẽ, lẽ phải theo pháp luật, giá trị pháp lý bắt
buộc từ một sự việc, hiện tượng xã hội, những nguyên lý, phạm trù, khái niệm
lý luận về pháp luật [45, tr. 606]. Do vậy, dù là "giúp đỡ", "bảo trợ" hay "hỗ
trợ" cũng có thể được hiểu là "trợ giúp". Ở đây trợ giúp được hiểu là sự giúp
đỡ cho ai đó đang gặp khó khăn, nhằm làm giảm bớt khó khăn về một vấn đề
mà họ đang cần và cái họ đang cần ở đây là pháp lý.
Như vậy, có nhiều cách gọi khác nhau có cùng nghĩa với thuật ngữ
"trợ giúp pháp lý" nhưng thuật ngữ "trợ giúp pháp lý" có nghĩa chung nhất, rõ
nhất nêu bật được sự giúp đỡ, hỗ trợ đối với những trường hợp có khó khăn
về mặt pháp lý.
Ở Việt Nam, thuật ngữ "trợ giúp pháp lý" được sử dụng trong các tài
liệu nghiên cứu từ năm 1995, bắt đầu từ Đề án nghiên cứu về hoạt động trợ
giúp pháp lý ở Việt Nam của Bộ Tư pháp. Đến năm 1996, thuật ngữ "trợ giúp
pháp lý" được sử dụng trong Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ "Mô hình tổ
chức và hoạt động trợ giúp pháp lý, phương hướng thực hiện trong điều kiện
hiện nay" của Viện Nghiên cứu khoa học pháp lý, Bộ Tư pháp. Năm 1997,
thuật ngữ này được sử dụng trong Quyết định số 734/TTg ngày 06/9/1997 của
Thủ tướng Chính phủ về việc thành lập tổ chức trợ giúp pháp lý cho người
nghèo và đối tượng chính sách. Tiếp đó, các văn bản pháp luật hướng dẫn
thực hiện Quyết định 734/TTg và một số văn bản pháp luật thuộc lĩnh vực
khác cũng đề cập đến thuật ngữ "trợ giúp pháp lý" như Pháp lệnh Luật sư năm
2001, Quy tắc đạo đức nghề nghiệp luật sư ban hành kèm theo Quyết định số
356b/2002/QĐ-BTP ngày 05/8/2002 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp… Ngoài ra,
trong nhiều văn bản, chính sách khác của Nhà nước đã nhắc đến thuật ngữ
"Trợ giúp pháp lý". Đặc biệt, tại Điều 3, Luật Trợ giúp pháp lý được Quốc hội
thông qua ngày 29/6/2006, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2007 đã đưa ra
khái niệm về trợ giúp pháp lý như sau:


15
Trợ giúp pháp lý là việc cung cấp dịch vụ pháp lý miễn phí
cho người được trợ giúp pháp lý theo quy định của Luật này, giúp
người được trợ giúp pháp lý bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của
mình, nâng cao hiểu biết pháp luật, ý thức tôn trọng và chấp hành
pháp luật; góp phần vào việc phổ biến, giáo dục pháp luật, bảo vệ
công lý, bảo đảm công bằng xã hội, phòng ngừa, hạn chế tranh chấp
và vi phạm pháp luật [35].
Đồng thời, qua tham khảo một số khái niệm về trợ giúp pháp lý của
một số nước trên thế giới, có thể thấy đa số các nhà quản lý cũng như các nhà
xây dựng pháp luật đều đưa ra khái niệm về trợ giúp pháp lý trên cơ sở lý luận
về dân chủ, nhân quyền và bảo đảm quyền con người, họ cho rằng trợ giúp
pháp lý chính là một biện pháp bảo đảm tư pháp dành cho nhóm người yếu
thế trong xã hội không có điều kiện tiếp cận và sử dụng pháp luật, nhằm bảo
vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình theo quy định của pháp luật. Tuy về
ngữ nghĩa, nội dung và cách biểu đạt của mỗi quốc gia khác nhau nhưng trên
cơ bản khái niệm về trợ giúp pháp lý đều hàm chứa tính chất chung của trợ
giúp pháp lý là hoạt động mang tính kinh tế, xã hội và nhân đạo.
Với những phân tích về nội hàm thuật ngữ "trợ giúp pháp lý" nêu trên,
trợ giúp pháp lý có một số thuộc tính như sau:
- Trợ giúp pháp lý là một loại hình dịch vụ pháp lý đặc thù. Trợ giúp
pháp lý mang những đặc điểm chung của một loại hình dịch vụ pháp lý (về
chủ thể thực hiện, do những người có trình độ am hiểu pháp luật thực hiện; về
mục đích, đối tượng: đáp ứng nhu cầu cần giúp đỡ về pháp luật của một bộ
phận người dân; về nội dung dịch vụ cung cấp: pháp luật; về quy trình thực
hiện: trên cơ sở các quy định của pháp luật). Tuy nhiên, trợ giúp pháp lý có
tính đặc thù, đó là: chủ thể thực hiện bao gồm Nhà nước và xã hội, trong đó
Nhà nước giữ vai trò nòng cốt tổ chức thực hiện; về mục đích, đối tượng: giúp
đỡ về pháp luật cho những người có hoàn cảnh đặc biệt không đủ khả năng để


16
sử dụng các dịch vụ pháp lý thông thường như: người nghèo, người có công
với cách mạng, người khuyết tật, trẻ em, người già cô đơn không nơi nương
tựa…; về nội dung dịch vụ cung cấp: giúp đỡ về pháp luật thông qua các hình
thức như tư vấn pháp luật, tham gia tố tụng, đại diện ngoài tố tụng, giúp đỡ
thực hiện các công việc liên quan đến thủ tục hành chính, giải quyết khiếu
nại…; về quy trình thực hiện: trên cơ sở các nguyên tắc và quy định của pháp
luật, nhằm bảo đảm chất lượng và mục đích của nó là giúp đỡ, hỗ trợ mà
không phải là cung cấp dịch vụ có tính chất ngang giá; miễn hoặc giảm phí).
Tính chất đặc thù của trợ giúp pháp lý thể hiện rõ nét nhất đó là trợ giúp pháp
lý không phải là dịch vụ pháp lý có tính chất ngang giá, thỏa thuận giữa chủ
thể cung cấp và đối tượng cung cấp mà nó có mục đích giúp đỡ, hỗ trợ cho
những người có hoàn cảnh đặc biệt (không có khả năng tiếp cận với dịch vụ
pháp lý có thu phí) tiếp cận và sử dụng pháp luật để nâng cao nhận thức pháp
luật, tự bảo vệ hoặc được bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp nhằm bảo đảm
công bằng trong tiếp cận pháp luật giữa nhóm người này với những người
khác có điều kiện kinh tế trong xã hội. Vì vậy, so với dịch vụ pháp lý chung,
trợ giúp pháp lý có đối tượng, phạm vi, lĩnh vực pháp luật trợ giúp, tổ chức,
người thực hiện hẹp hơn.
Ở Việt Nam, cách tiếp cận của Luật Trợ giúp pháp lý về khái niệm trợ
giúp pháp lý cũng phù hợp với tính chất của hoạt động này trong lịch sử hình
thành và phát triển trợ giúp pháp lý trên thế giới. Đó là giúp đỡ cho những đối
tượng yếu thế trong xã hội (chủ yếu về kinh tế) tiếp cận với dịch vụ pháp lý
để nâng cao nhận thức pháp luật và bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp. Đồi
thời, cũng thể hiện rõ đặc thù của trợ giúp pháp lý ở Việt Nam. Hoạt động trợ
giúp pháp lý mở rộng và vươn tới không chỉ người nghèo mà còn đối với
người có công với cách mạng, người dân tộc thiểu số thường trú ở vùng có
điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, người già cô đơn, người tàn tật,
trẻ em không nơi nương tựa, người được trợ giúp pháp lý theo các Điều ước


17
quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Những vụ việc về tố tụng (hình sự, dân
sự, lao động, đất đai…) liên quan đến quyền và lợi ích hợp pháp và thiết thực
của người nghèo và đối tượng chính sách nhưng họ không có luật sư đại diện,
bào chữa để bảo vệ hoặc trong những vụ việc do cơ quan, cán bộ nhà nước
giải quyết chưa thỏa đáng, có vi phạm pháp luật làm ảnh hưởng trực tiếp đến
quyền, lợi ích của người dân đã được trợ giúp pháp lý thông qua nhiều hình
thức. Ngoài ra, trợ giúp pháp lý ở Việt Nam còn có điểm đặc thù khác là kiến
nghị thi hành pháp luật (gồm: kiến nghị giải quyết vụ việc trợ giúp pháp lý,
kiến nghị công vụ và kiến nghị sửa đổi, bổ sung, ban hành mới văn bản pháp
luật). Đối tượng thụ hưởng dịch vụ pháp lý miễn phí không phải trả bất kỳ
một khoản lệ phí nào, kể cả lệ phí giấy tờ khi yêu cầu trợ giúp và thuê luật sư.
Các chi phí sẽ do ngân sách Nhàn ước bảo đảm hoặc được huy động trong
cộng đồng, sự hỗ trợ của các tổ chức nước ngoài và quốc tế thông qua các Dự
án hoặc Quỹ Trợ giúp pháp lý Việt Nam. Trợ giúp pháp lý miễn phí đã trở
thành nguyên tắc hoạt động trợ giúp pháp lý được quy định trong Luật Trợ
giúp pháp lý.
Trợ giúp pháp lý còn là một dịch vụ pháp lý chứa đựng tính nhân văn
sâu sắc, bởi mục tiêu hướng tới, đối tượng phục vụ là những người có hoàn
cảnh đặc biệt cần phải được Nhà nước và xã hội quan tâm giúp đỡ, hỗ trợ. Sự
hỗ trợ này sẽ làm giảm bớt những khó khăn của nhóm đối tượng yếu thế, góp
phần tạo sự công bằng trong xã hội.
Trợ giúp pháp lý thể hiện tính chính trị - xã hội: Trợ giúp pháp lý
được xác định là trách nhiệm của Nhà nước, Nhà nước giữ vai trò nòng cốt,
thuộc chức năng xã hội của Nhà nước nhằm góp phần khắc phục sự bất bình
đẳng trong tiếp cận với pháp luật và xóa nghèo về pháp luật. Thông qua đó,
góp phần thiết lập sự ổn định về chính trị, bảo vệ chế độ chính trị và các quan
hệ xã hội theo ý chí của Nhà nước, làm tăng niềm tin của người dân và chế
độ. Trợ giúp pháp lý là một trong những phương thức có hiệu quả để Nhà


18
nước giải quyết các mối quan hệ xã hội đang có sự bất ổn, giữ đoàn kết cộng
đồng, bảo đảm ổn định trật tự và an toàn xã hội.
Trợ giúp pháp lý mang tính pháp lý rõ nét bởi chính phương thức hoạt
động và mục đích hướng tới của nó. Trợ giúp pháp lý là sự giúp đỡ, hỗ trợ về
các vấn đề có liên quan đến pháp luật như tư vấn pháp luật, đại diện, bào chữa
bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho các đối tượng được Trợ giúp pháp lý
theo quy định, góp phần tổ chức thực hiện pháp luật, đưa pháp luật vào cuộc
sống tạo cơ hội tiếp cận pháp luật thuận lợi cho các đối tượng này. Trợ giúp
pháp lý ở một số nước nhấn mạnh đến tính pháp lý như Hàn Quốc: Trợ giúp
pháp lý là việc một luật sư hoặc một cán bộ pháp lý nhà nước cung cấp dịch
vụ tư vấn pháp luật, đại diện hoặc các dịch vụ trợ giúp khác có liên quan đến
pháp luật. Ở Anh, xứ Wales, Trợ giúp pháp lý được hiểu là giúp đỡ cho
những người không có khả năng thanh toán cho các chi trả cho việc tư vấn, hỗ
trợ và đại diện pháp lý; ở Đức, trợ giúp pháp lý là việc giúp đỡ một phần hoặc
toàn bộ tài chính cho những người không có khả năng thanh toán cho các chi
phí về tư vấn pháp luật, đại diện hoặc bào chữa trước Tòa án.
1.2. KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM, Ý NGHĨA HOẠT ĐỘNG TRỢ GIÚP PHÁP
LÝ CỦA LUẬT SƯ
1.2.1. Khái niệm luật sư
Lịch sử phát triển của xã hội loài người đã chứng minh rằng, khi xã
hội được phân chia thành giai cấp thì xuất hiện đấu tranh giai cấp nhằm bảo
vệ quyền cơ bản của con người. Cách đây hơn nửa thế kỷ, khi viết bản tuyên
ngôn độc lập, khai sinh ra nhà nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhìn thấy trong
Tuyên ngôn độc lập của Hợp chủng quốc Hoa kỳ (1776) và Tuyên ngôn nhân
quyền và dân quyền của cách mạng tư sản Pháp (1789) những giá trị bền
vững: "Tất cả mọi người sinh ra đều có quyền bình đẳng, tạo hóa cho họ
những quyền không ai có thể xâm phạm được, trong những quyền ấy có
quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc".


19
Xuất phát từ nguyên lý, ở đâu có sự buộc tội, hoặc sự khởi kiện trước
cơ quan tư pháp thì ở đó có sự gỡ tội, sự chống lại việc khởi kiện; khi có bên
bảo vệ quyền lợi cho bị can, bị cáo thì cũng phải có bên bảo vệ cho người bị
hại; khi có bên nguyên đơn khởi kiện về vấn đề dân sự, hành chính thì bao giờ
cũng có bên bị đơn dân sự, hoặc những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan
đến vụ án. Mặt khác, trong thực tế hoạt động tố tụng hình sự, bên buộc tội
(Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án và những người tiến hành tố tụng) là
chuyên gia buộc tội dày dạn kinh nghiệm thực tiễn với khả năng hùng biện,
am hiểu tường tận pháp luật, là người đại diện cho quyền lực của nhà nước có
đủ khả năng pháp lý. Ngược lại, bị can, bị cáo, và những người tham gia tố
tụng có quyền lợi pháp lý khác luôn ở địa vị bất lợi, là người có trình độ văn
hóa thấp, vị trí xã hội thấp kém, không hiểu hoặc hiểu biết pháp luật hạn chế,
kinh nghiệm tham gia tố tụng chưa có, tâm trạng bất ổn định, lo lắng, bị sức
ép về mặt tâm lý, không quen nói trước đám đông v.v Chính vì thế, cần thiết
phải có một tổ chức, mà pháp luật quy định là tổ chức hành nghề Luật sư bảo
vệ quyền lợi của bị can, bị cáo; bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các đương
sự là nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi liên quan đến vụ án. Bằng hoạt
động của mình, tổ chức luật sư góp phần tích cực bảo vệ pháp chế xã hội chủ
nghĩa; bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân và các tổ chức; góp
phần vào việc giải quyết các vụ án được khách quan, đúng pháp luật; góp
phần thực hiện quyền bình đẳng của mọi công dân trước pháp luật, thực hiện
dân chủ xã hội chủ nghĩa; giáo dục công dân tuân theo Hiến pháp, pháp luật,
tôn trọng những quy tắc của cuộc sống xã hội chủ nghĩa.
Hiện nay theo quy định của pháp luật thì luật sư là một chức danh tư
pháp độc lập, chỉ những người có đủ điều kiện hành nghề chuyên nghiệp theo
quy định của pháp luật nhằm thực hiện việc tư vấn pháp luật, đại diện theo ủy
quyền, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho cá nhân, tổ chức và nhà nước
trước tòa án và thực hiện các dịch vụ pháp lý khác. Tại Điều 2 Luật Luật sư


20
năm 2006 quy định "Luật sư là người có đủ tiêu chuẩn, điều kiện hành nghề
theo quy định của Luật Luật sư, thực hiện dịch vụ pháp lý theo yêu cầu của cá
nhân, cơ quan, tổ chức" [34]. Tiêu chuẩn luật sư được quy định tại Điều 10
Luật Luật sư như sau "Công dân Việt Nam trung thành với Tổ quốc, tuân thủ
Hiến pháp và pháp luật, có phẩm chất đạo đức tốt, có bằng cử nhân Luật, đã
được đào tạo nghề luật sư, đã qua thời gian tập sự hành nghề luật sư, có sức
khỏe bảo đảm hành nghề luật sư thì có thể trở thành Luật sư" [34]. Ngoài ra,
người có đủ tiêu chuẩn theo quy định tại Điều 10 của Luật Luật sư muốn hành
nghề luật sư phải có Chứng chỉ hành nghề luật và gia nhập một Đoàn luật sư.
Nghề luật sư không giống như những nghề bình thường khác vì ngoài những
yêu cầu về kiến thức và trình độ chuyên môn thì việc hành nghề luật sư còn
phải tuân theo quy chế đạo đức nghề nghiệp. Điều này tạo nên nét đặc thù riêng
của nghề luật sư và nét đặc thù này tác động sâu sắc đến kỹ năng hành nghề.
Vì vậy, xét về bản chất thì luật sư có những tính chất cơ bản như sau:
Thứ nhất, tính chất trợ giúp: nói đến trợ giúp là nói đến sự giúp đỡ,
bênh vực không vụ lợi của luật sư cho những người ở vào vị trí thấp kém.
Những người được trợ giúp thường là người bị ức hiếp, bị đối xử bất công trái
pháp luật trong xã hội hay những người nghèo, người già cô đơn, người chưa
thành niên mà không có sự đùm bọc của gia đình. Do đó, tính chất này thể
hiện hoạt động của nghề luật sư không chỉ là bổn phận mà còn là thước đo
lòng nhân ái và đạo đức của luật sư.
Thứ hai, tính chất hướng dẫn: Thông thường, luật sư thực hiện việc
hướng dẫn cho khách hàng hiểu đúng tinh thần và nội dung của pháp luật, để
từ đó họ biết cách tháo gỡ những vướng mắc sao cho phù hợp với pháp lý và
đạo đức, cũng như để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ.
Thứ ba, tính chất phản biện: Là những biện pháp nhằm phản bác lại lý
lẽ, ý kiến quan điểm của người khác mà mình cho là không phù hợp với pháp
lý và đạo lý. Luật sư lấy pháp luật và đạo đức xã hội làm chuẩn mực để xem


21
xét mọi khía cạnh của sự việc nhằm xác định rõ phải trái, đúng sai… từ đó đề
xuất những biện pháp phù hợp bảo vệ lẽ phải, loại bỏ sai trái, bảo vệ công lý.
1.2.2. khái niệm hoạt động trợ giúp pháp lý của luật sư
Thuật ngữ "dịch vụ" ra đời cùng với sự xuất hiện của kinh tế hàng
hóa, dịch vụ là "con đẻ" của nền kinh tế sản xuất hàng hóa. Khi kinh tế hàng
hóa phát triển mạnh, đòi hỏi phải có một sự lưu thông trôi chảy, liên tục để
thỏa mãn nhu cầu ngày càng cao của con người thì dịch vụ càng phát triển.
Theo đó, dịch vụ là những hoạt động lao động mang tính xã hội, tạo ra các
sản phẩm hàng hóa không tồn tại dưới hình thái vật thể, không dẫn đến việc
chuyển quyền sở hữu nhằm thỏa mãn kịp thời, thuận lợi và hiệu quả các nhu
cầu của sản xuất và đời sống sinh hoạt của con người. Như vậy, có thể hiểu
rằng, những hoạt động mang tính tự phục vụ thì không phải là dịch vụ. Để
được gọi là một hoạt động dịch vụ thì sản phẩm của nó cần có sự trao đổi, có
nghĩa là sản phẩm của hoạt động dịch vụ là sự phục vụ và sự phục vụ đó phải
là hàng hóa.
Với định nghĩa nêu trên, dịch vụ pháp lý được hiểu là sự trao đổi các
sản phẩm mang tính pháp lý (hàng hóa) giữa chủ thể cung cấp và đối tượng
phục vụ nhằm thỏa mãn nhu cầu giúp đỡ pháp lý của các đối tượng phục vụ.
Sản phẩm mang tính pháp lý cũng có đặc thù, nó không phải là sản phẩm vật
chất nên việc trao đổi cũng không dẫn đến việc chuyển quyền sở hữu mà nó là
những công việc, việc làm nhằm thỏa mãn nhu cầu được nâng cao nhận thức
pháp luật, được bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đối tượng được phục vụ.
Ở Việt Nam, thuật ngữ "dịch vụ pháp lý" ra đời khi Đảng và Nhà nước
ta thực hiện chủ trương xây dựng nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận
hành theo cơ chế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa và được ghi
nhận trong Pháp lệnh tổ chức luật sư năm 1987, Thông tư số 1119-QLTPK
ngày 24/12/1987 của Bộ Tư pháp về công tác dịch vụ pháp lý và Công văn số
870/CV/DVPL ngày 26/10/1989 của Bộ Tư pháp hướng dẫn công tác dịch vụ


22
pháp lý. Theo các văn bản này, dịch vụ pháp lý được hiểu là hoạt động của
luật sư tham gia tố tụng (đại diện, bào chữa) hình sự, dân sự, hôn nhân, gia
đình, lao động; tư vấn pháp lý và một số dịch vụ pháp lý khác (soạn thảo đơn
từ, đánh máy…) cho các tổ chức và cá nhân.
Đến Pháp lệnh Luật sư năm 2001, quy định về "dịch vụ pháp lý" được
quy định khái quát tại Điều 1 Pháp lệnh này, theo đó, dịch vụ pháp lý bao gồm
hoạt động tố tụng, tư vấn pháp lý và dịch vụ pháp lý khác. Và quy định này được
cụ thể hóa tại Điều 14 của Pháp lệnh, phạm vi hành nghề luật sư bao gồm:
Tham gia tố tụng với tư cách là người bào chữa cho bị can,
bị cáo hoặc là người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người bị
hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ
liên quan đến vụ án hình sự; tham gia tố tụng với tư cách là người
đại diện hoặc là người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự
trong các vụ án dân sự, kinh tế, lao động hoặc hành chính; tham gia
tố tụng trọng tài để giải quyết tranh chấp; tư vấn pháp luật, soạn
thảo hợp đồng, đơn từ theo yêu cầu của cá nhân, tổ chức; đại diện
theo ủy quyền của cá nhân, tổ chức để thực hiện các vông việc có
liên quan đến pháp luật; thực hiện dịch vụ pháp lý khác theo quy
định của pháp luật [40].
Như vậy, theo quy định của Pháp lệnh Luật sư năm 2001, dịch vụ pháp
lý bao gồm: dịch vụ pháp lý trong lĩnh vực tư pháp (tham gia tố tụng); dịch vụ
pháp lý trong lĩnh vực tố tụng trọng tài; tư vấn pháp luật; đại diện theo ủy
quyền về các công việc có liên quan đến pháp luật; các dịch vụ pháp lý khác.
Đến Luật Luật sư năm 2006, thuật ngữ "dịch vụ pháp lý" đã được quy
định thành một điều luật riêng, theo Điều 4 của Luật Luật sư: "Dịch vụ pháp
lý của luật sư bao gồm tham gia tố tụng, tư vấn pháp luật, đại diện ngoài tố
tụng cho khách hàng và các dịch vụ pháp lý khác" [34]. Theo Điều 22 Luật
Luật sư, phạm vi hành nghề của luật sư bao gồm:


23
Tham gia tố tụng với tư cách là người bào chữa cho người bị
tạm giữ, bị can, bị cáo hoặc là người bảo vệ quyền lợi của người bị
hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ
liên quan trong các vụ án về tranh chấp dân sự, hôn nhân và gia
đình, kinh doanh, thương mại, lao động, hành chính, việc về yêu
cầu dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động
và các vụ, việc khác theo quy định của pháp luật; Thực hiện tư vấn
pháp luật; Đại diện ngoài tố tụng cho khách hàng để thực hiện các
công việc có liên quan đến pháp luật; thực hiện dịch vụ pháp lý
khác theo quy định của Luật này [34].
Như vậy, kể từ khi ban hành Pháp lệnh Tổ chức luật sư năm 1987 cho
đến khi Luật Luật sư năm 2006 được Quốc hội thông qua, pháp luật chưa đưa
ra một định nghĩa đầy đủ, cũng như chỉ ra nội hàm cụ thể về khái niệm "dịch
vụ pháp lý" mà chỉ sử dụng phương pháp liệt kê để xác định các hoạt động cụ
thể được coi là dịch vụ pháp lý.
Ngày 29/6/2006, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
khóa XI, kỳ họp thứ 9 đã thông qua Luật Trợ giúp pháp lý. Tại Điều 3 Luật
này quy định:
Trợ giúp pháp lý là việc cung cấp dịch vụ pháp lý miễn phí
cho người được trợ giúp pháp lý theo quy định của Luật này, giúp
người được trợ giúp pháp lý bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của
mình, nâng cao hiểu biết pháp luật, ý thức tôn trọng và chấp hành
pháp luật; góp phần vào việc phổ biến, giáo dục pháp luật, bảo vệ
công lý, bảo đảm công bằng xã hội, phòng ngừa, hạn chế tranh chấp
và vi phạm pháp luật [35].
Theo đó, điều luật này đưa ra đặc trưng của hoạt động trợ giúp pháp lý
mà chưa đứa ra cách hiểu hay định nghĩa chính thức về thuật ngữ "dịch vụ
pháp lý" và "dịch vụ pháp lý miễn phí". Theo Điều 27 Luật Trợ giúp pháp lý


24
"dịch vụ pháp lý" theo quy định của luật này bao gồm: tư vấn pháp luật; tham
gia tố tụng; đại diện ngoài tố tụng; hòa giải; thực hiện những công việc liên
quan đến thủ tục hành chính, khiếu nại và các hoạt động khác theo quy định
của luật này. Điều 5 của Luật Trợ giúp pháp lý cũng giới hạn việc cung cấp
dịch vụ pháp lý miến phí không thuộc lĩnh vực kinh doanh, thương mại. Như
vậy, quan niệm về dịch vụ pháp lý theo quy định của Luật Trợ giúp pháp lý
có phạm vi hẹp hơn theo quy định của Luật Luật sư.
Có quan niệm cho rằng:
Dịch vụ pháp lý với khái niệm nội hàm của nó có thể hiểu là tổng thể
các dịch vụ tư vấn pháp luật và dịch vụ đại diện pháp lý. Theo đó, dịch vụ tư
vấn pháp luật được hiểu là hoạt động cung cấp các ý kiến pháp lý, giải pháp
của các chủ thể cung cấp dịch vụ pháp lý cho các cá nhân, tổ chức có yêu cầu
(gọi chung là khách hàng). Còn dịch vụ đại diện pháp lý được hiểu là chủ thể
cung cấp dịch vụ sẽ là người đại diện cho khách hàng, thay mặt cho khách
hàng trước các cơ quan, tổ chức, trước các đối tác của khách hàng để thực
hiện các công việc có liên quan đến quyền và nghĩa vụ khách hàng theo đúng
quy định của pháp luật.
Quan điểm khác cho rằng, "dịch vụ pháp lý và dịch vụ của luật sư có
phải là hai khái niệm khác nhau hay không, vẫn còn là vấn đề gây tranh cãi.
Song ở Việt Nam, trong giai đoạn hiện nay nên được hiểu như nhau" [38].
Các quy định của pháp luật về luật sư và các quan niệm trên đây
khẳng định dịch vụ pháp lý là dịch vụ của luật sư hay nói cách khác, chỉ có
luật sư mới được cung cấp dịch vụ pháp lý. Theo quy định của Luật Trợ giúp
pháp lý thì dịch vụ pháp lý miễn phí là hoạt động của các chủ thể nhất định
theo quy định của pháp luật về trợ giúp pháp lý nhằm cung cấp cho người
nghèo, đối tượng chính sách các dịch vụ pháp lý cụ thể trong các vấn đề liên
quan trực tiếp đến quyền, nghĩa vụ của họ và không thu phí.


25
Từ những khái niệm trên xem xét một cách toàn diện về hoạt động trợ
giúp pháp lý của luật sư ở Việt Nam cả về lý luận và thực tiễn, có thể rút ra
khái niệm về hoạt động trợ giúp pháp lý của luật sư ở Việt Nam như sau:
Hoạt động trợ giúp pháp lý của luật sư ở Việt Nam là tổng thể những công
việc, nhiệm vụ của luật sư thực hiện để người được trợ giúp pháp lý tiếp cận
và sử dụng dịch vụ pháp lý miễn phí nhằm thỏa mãn nhu cầu nâng cao nhận
thức pháp luật, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người nghèo, đối tượng
chính sách, đồng thời góp phần bảo đảm việc thực hiện nhiệm vụ của các cơ
quan, tổ chức và cá nhân tuân thủ đúng pháp luật.
Khái niệm về hoạt động trợ giúp pháp lý của luật sư trên đã đề cập
một cách toàn diện về những vấn đề liên quan đến luật sư thực hiện trợ giúp
pháp lý, cụ thể:
Thứ nhất, luật sư thực hiện trợ giúp pháp lý người có kiến thức pháp
luật, bởi luật sư là người đã có bằng cử nhân luật, đã được đào tạo nghề luật
sư, đã qua thời gian tập sự hành nghề luật sư.
Thứ hai, luật sư thực hiện trợ giúp pháp lý phải là người có phẩm chất
đạo đức tốt, trung thành với Tổ quốc, tuân thủ Hiến pháp và pháp luật. Bởi vì,
khi thực hiện trợ giúp pháp lý cho đối tượng, nhiều đối tượng bức xúc với
công việc của mình khi không được các cơ quan nhà nước có thẩm quyền
xem xét thấu tình đạt lý hoặc do không hiểu biết về pháp luật mà nghĩ là
quyền lợi của mình đang bị xâm hại có thể có những hành động quá khích xúc
phạm đến luật sư thực hiện trợ giúp pháp lý và đặc biệt là luật sư khi thực
hiện trợ giúp pháp lý đều thực hiện miễn phí. Vì vậy, người có phẩm chất đạo
đức trung thành với Tổ quốc, tuân thủ Hiến pháp và pháp luật sẽ giúp cho
người được trợ giúp pháp lý tin tưởng và trình bày đúng vụ việc.
Thứ ba, luật sư thực hiện trợ giúp pháp lý có thể trực tiếp tư vấn, kiến
nghị, đại diện, bào chữa cho đối tượng hoặc gián tiếp trợ giúp pháp lý cho đối
tượng thông qua nhận vụ việc về nhà làm, soạn thảo văn bản hướng dẫn để
gửi cho đối tượng được trợ giúp pháp lý.

Xem Thêm

×