Tải bản đầy đủ

Một số giải pháp phát triển giáo dục trung học cơ sở huyện hoằng hóa, tỉnh thanh hóa giai đoạn 2013 2020

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
ĐOÀN ĐĂNG KHOA
MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN GIÁO
DỤC TRUNG HỌC CƠ SỞ HUYỆN
HOẰNG HÓA, TỈNH THANH HÓA GIAI
ĐOẠN 2013 - 2020
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
NGHỆ AN - 2014
2
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
ĐOÀN ĐĂNG KHOA
MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN GIÁO
DỤC TRUNG HỌC CƠ SỞ HUYỆN
HOẰNG HÓA, TỈNH THANH HÓA GIAI
ĐOẠN 2013 - 2020
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Mã số: 60.14.01.14
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học:

PGS. TS. PHẠM MINH HÙNG
NGHỆ AN - 2014
4
LỜI CẢM ƠN
Để thực hiện và hoàn thành đề tài Luận văn này, tôi đã nhận được sự hỗ
trợ, giúp đỡ và tạo điều kiện từ nhiều cơ quan, tổ chức và cá nhân. Luận văn
cũng được hoàn thành dựa trên sự tham khảo, học tập kinh nghiệm từ các kết
quả nghiên cứu liên quan, các tạp chí chuyên ngành của nhiều tác giả ở các
trường Đại học, các tổ chức nghiên cứu, tổ chức chính trị…Đặc biệt là sự hợp
tác của cán bộ giáo viên các trường THCS huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa
đồng thời là sự giúp đỡ, tạo điều kiện về vật chất và tinh thần từ phía gia đình,
bạn bè và các đồng nghiệp.
Trước hết, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Phó GS - TS Phạm Minh
Hùng - Phó Hiệu trưởng trường Đại học Vinh - người hướng dẫn khoa học đã
trực tiếp dành nhiều thời gian, công sức hướng dẫn tôi trong quá trình thực
hiện nghiên cứu và hoàn thành Luận văn.
Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban giám hiệu cùng toàn thể các thầy cô giáo
đã tận tình truyền đạt những kiến thức quý báu, giúp đỡ tôi trong quá trình học
tập và nghiên cứu.
Tuy có nhiều cố gắng, nhưng trong Luận văn này không tránh khỏi
những thiếu sót, hạn chế. Tôi kính mong Quý thầy cô, các chuyên gia, những
người quan tâm đến đề tài, đồng nghiệp, gia đình và bạn bè tiếp tục có những
ý kiến đóng góp, giúp đỡ để đề tài được hoàn thiện hơn.
Một lần nữa xin chân thành cảm ơn !
Tác giả
Đoàn Đăng Khoa

i
MỤC LỤC
ĐOÀN ĐĂNG KHOA
ĐOÀN ĐĂNG KHOA
ii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
1. BCH
2. CBQL
3. CMHS
4. CNH - HĐH
5. CNV
6. CSVC
7. GD


8. GD - ĐT
9. GDCN
10. GV
11. HĐND
12. HP
13. HS
14. HT
15. NCGD
16. NXB
17. PCGD
18. QLCB
19. SGK
20. TD
21. THCS
22. TTGDTX - DN
23.UBND
Ban chấp hành
Cán bộ quản lý
Cha mẹ học sinh
Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa
Công nhân viên
Cơ sở vật chất
Giáo dục
Giáo dục - Đào tạo
Giáo dục chuyên nghiệp
Giáo viên
Hội đồng nhân dân
Hiệu phó
Học sinh
Hiệu trưởng
Nghiên cứu giáo dục
Nhà xuất bản
Phổ cập giáo dục
Quản lý cán bộ
Sách giáo khoa
Thể dục
Trung học cơ sở
Trung tâm giáo dục thường xuyên - Dạy nghề
Ủy ban nhân dân
iii
DANH MỤC CÁC BẢNG
ĐOÀN ĐĂNG KHOA
ĐOÀN ĐĂNG KHOA
iv
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong thời đại cách mạng khoa học công nghệ hiện nay, con người là
yếu tố then chốt quyết định sự phát triển văn minh nhân loại. Nhiệm vụ đào
tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài là quốc sách chiến lược hàng đầu của nhiều
quốc gia. Bởi “Không có một sự tiến bộ và thành đạt nào có thể thoát khỏi sự
tiến bộ và thành đạt trong lĩnh vực giáo dục của quốc gia đó. Và những nước
nào coi nhẹ giáo dục hoặc không đủ tri thức và khả năng cần thiết tiến hành
sự nghiệp giáo dục một cách hiệu quả thì số phận quốc gia đó xem như đã an
bài và điều đó còn tồi tệ hơn cả sự phá sản” UNESCO - 1994.
Chính vì vậy, từ khi Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo thành công công
cuộc đổi mới đất nước, giáo dục đào tạo được đặt lên vị trí “Quốc sách hàng
đầu”. Hiến pháp nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam (năm 1992), điều
35 ghi rõ: “Giáo dục đào tạo là quốc sách hàng đầu. Nhà nước phát triển giáo
dục nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài”.
Mục tiêu của giáo dục là hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm
chất và năng lực công dân; đào tạo những người lao động có nghề, năng động
và sáng tạo, có niềm tự hào dân tộc, có đạo đức, có ý chí vươn lên góp phần
làm cho dân giàu, nước mạch, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, đáp ứng
yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Để thực hiện được mục tiêu ấy, một trong những vấn đề quan trọng đầu
tiên là phải xây dựng được một nền giáo dục phổ thông tốt. Giáo dục phổ thông
bao gồm giáo dục TH, THCS và THPT. Trong đó giáo dục TH và THCS có một
vị trí đặc biệt quan trọng. Luật Giáo dục, điều 27 ghi rõ: “Bậc tiểu học là bậc
học nền tảng của hệ thống giáo dục quốc dân, có nhiệm vụ giúp học sinh hình
thành những cơ sở ban đầu cho sự phát triển đúng đắn và lâu dài về đạo đức, trí
tuệ, thể chất, thẩm mĩ và các kỹ năng cơ bản để học sinh tiếp tục học lên trung
học cơ sở. Giáo dục THCS nhằm giúp học sinh củng cố và phát triển những kết
quả của giáo dục tiểu học, có học vấn ở trình độ cơ sở và những hiểu biết ban
đầu về kỹ thuật và hướng nghiệp để tiếp tục học trung học phổ thông, trung cấp,
học nghề hoặc đi vào cuộc sống lao động”.
Theo phân cấp quản lý Nhà nước về giáo dục hiện nay thì giáo dục TH
và THCS do Phòng Giáo dục giúp Uỷ ban nhân dân huyện trực tiếp quản lý.
Một trong các nội dung quan trọng của quản lý Nhà nước về giáo dục là “xây
dựng và chỉ đạo thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách phát
triển giáo dục” (điều 99 Luật Giáo dục). Điều đó chứng tỏ việc dự báo, lập
quy hoạch, kế hoạch phát triển giáo dục là một trong những chức năng quản lý
quan trọng hàng đầu mà các cấp quản lý giáo dục nói chung, Uỷ ban nhân dân
cấp huyện nói riêng phải hết sức quan tâm. Đảng và Nhà nước cũng đã khẳng
định và chỉ rõ rằng: Một trong những giải pháp quan trọng để đổi mới công tác
quản lý giáo dục là phải “Tăng cường công tác dự báo và kế hoạch hoá sự
phát triển giáo dục”.
Thế nhưng hiện nay, trên địa bàn toàn tỉnh Thanh Hóa, việc “xây dựng
quy hoạch, bổ sung, điều chỉnh quy hoạch chưa theo kịp yêu cầu, chất lượng
có chỗ còn chưa cao, tầm nhìn còn hạn chế. Quản lý quy hoạch chưa chặt
chẽ, triển khai thực hiện thiếu đồng bộ”. Chính vì vậy nhiệm vụ của các cấp,
các ngành là phải “Đẩy mạnh và nâng cao chất lượng công tác xây dựng và
quản lý quy hoạch, tập trung rà soát, điều chỉnh, bổ sung quy hoạch tổng thể
phát triển KT - XH của tỉnh, các huyện, thị xã và các quy hoạch ngành, vùng
đến năm 2015, định hướng đến năm 2020, đảm bảo quy hoạch phải đi trước
một bước, có tầm nhìn xa, có trọng tâm, trọng điểm và đồng bộ, cân đối” và
“khẩn trương hoàn chỉnh quy hoạch phát triển giáo dục và đào tạo phù hợp
với quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội”.
Huyện Hoằng Hoá, tỉnh Thanh Hóa là vùng đất hiếu học, kết tụ nhiều
giá trị văn hoá cao đẹp của dân tộc Việt Nam, con người Việt Nam và của xứ
Thanh. Nơi đây đã sinh thành nhiều người con ưu tú, hiến dâng cho đất nước
và quê hương nhiều công tích đáng trân trọng. Chính truyền thống hiếu học
này đã làm nên vùng đất khoa bảng. Truyền thống hiếu học đó đã trở thành
biểu tượng cao đẹp và niềm tự hào của quê hương Hoằng Hóa. Người dân ở
mọi miền trong nước biết đến Hoằng Hóa bởi sự học và sức học. Người
Hoằng Hóa dù đi đâu, về đâu cũng đều mang trong mình niềm tự hào là vùng
đất học, quê khoa bảng. Dòng khoa bảng gần như chảy suốt trong chiều dài
lịch sử. Việc học hiếm có nơi đâu như đất này, xem đó là cái nghề, cái nghề
để vượt nghèo, thoát khổ, để đi ra lập thân, lập nghiệp làm vẻ vang cho mình,
cho quê hương.
Ngày nay, trên chặng đường đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hóa,
xây dựng và phát triển nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, thực
hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh,
nhân dân Hoằng Hóa tiếp tục phát huy truyền thống hiếu học, khoa cử, đẩy
mạnh sự nghiệp giáo dục và đạt được nhiều thành tựu quan trọng trên lĩnh
vực “trồng người”. Những kết quả đạt được trong sự nghiệp giáo dục của
Hoằng Hóa đã góp phần quan trọng trong xây dựng thế hệ công dân có trách
nhiệm với quê hương, đất nước, tạo dựng một nguồn nhân lực đáp ứng yêu
cầu của sự nghiệp đổi mới tại địa phương, đồng thời cung cấp cho tỉnh, cho
đất nước những tài năng, có nhiều hoạt động và cống hiến trên nhiều lĩnh vực.
Tuy nhiên trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, giáo dục huyện Hoằng
Hóa còn bộc lộ một số hạn chế, tồn đọng vài vấn đề bất cập: chất lượng giáo
dục chưa đáp ứng yêu cầu xã hội, quy mô học sinh giảm; mạng lưới trường
lớp dàn trải, đội ngũ giáo viên nhân viên và cán bộ quản lý mất cân đối, cơ sở
vật chất và trang thiết bị dạy học còn thiếu nhiều chưa đáp ứng yêu cầu đổi
mới giáo dục.
Một trong những nguyên nhân chính dẫn đến hạn chế trên là do thiếu
các giải pháp đồng bộ để phát triển giáo dục Trung học cơ sở.
Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi chọn đề tài “Một số giải pháp
Phát triển giáo dục Trung học cơ sở huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa
giai đoạn 2013 - 2020” để nghiên cứu.
2. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn, đề xuất các giải pháp phát
triển giáo dục THCS huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hoá, giai đoạn 2013 -
2020.
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1. Khách thể nghiên cứu
Vấn đề phát triển giáo dục THCS giai đoạn 2013 - 2020.
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Một số giải pháp phát triển giáo dục THCS Huyện Hoằng Hóa, tỉnh
Thanh Hoá, giai đoạn 2013 - 2020.
4. Giả thuyết khoa học
Có thể phát triển giáo dục THCS huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hoá giai
đoạn 2013 - 2020 một cách vững chắc nếu đề xuất và thực hiện được các giải
pháp có cơ sở khoa học, có tính khả thi.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1. Nghiên cứu cơ sở lý luận của vấn đề phát triển giáo dục THCS.
5.2. Nghiên cứu cơ sở thực tiễn của vấn đề phát triển giáo dục THCS
huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hoá giai đoạn 2013 - 2020.
5.3. Đề xuất một số giải pháp phát triển giáo dục THCS Huyện Hoằng Hóa,
tỉnh Thanh Hoá giai đoạn 2013 - 2020.
6. Phương pháp nghiên cứu
6.1. Nhóm phương pháp nghiên cứu l; lu<n
Nhóm phương pháp này nhằm thu thập các thông tin lý luận để xây dựng cơ
sở lý luận của đề tài nghiên cứu. Thuộc nhóm này có các phương pháp cụ thể sau
đây:
- Phương pháp phân tích - tổng hợp tài liệu;
- Phương pháp khái quát hoá các nhận định độc lập;
- Phương pháp mô hình hóa.
6.2. Nhóm phương pháp nghiên cứu th=c ti>n
Nhóm phương pháp này nhằm thu thập các thông tin thực tiễn để xây dựng cơ
sở thực tiễn của đề tài nghiên cứu. Thuộc nhóm này có các phương pháp cụ thể sau
đây:
- Phương pháp điều tra
- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm giáo dục
- Phương pháp nghiên cứu các sản phẩm hoạt động;
- Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia
- Phương pháp khảo nghiệm, thử nghiệm.
6.3. Phương pháp thống kê toán học
Sử dụng các công thức thống kê toán học để xử lý các số liệu thu được.
7. Đóng góp của đề tài
7.1. Đóng góp về mặt l; lu<n
Đề tài đã hệ thống hóa những vấn đề lý luận về phát triển giáo dục nói
chung và phát triển giáo dục THCS nói riêng.
7.2. Đóng góp về mặt th=c ti>n
Đề tài đã làm rõ thực trạng phát triển giáo dục THCS huyện Hoằng
Hóa, tỉnh Thanh Hóa trong giai đoạn hiện nay, từ đó đề xuất các giải pháp có
tính khoa học và khả thi nhằm nâng cao hiệu quả phát triển giáo dục THCS
huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa, giai đoạn 2013 - 2020.
8. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục nghiên
cứu, luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận của vấn đề phát triển giáo dục THCS.
Chương 2: Cơ sở thực tiễn của vấn đề phát triển giáo dục THCS huyện
Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hoá, giai đoạn 2013 - 2020.
Chương 3: Một số giải pháp phát triển giáo dục THCS Huyện Hoằng
Hóa, tỉnh Thanh Hoá, giai đoạn 2013 - 2020.
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC
TRUNG HỌC CƠ SỞ
1.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Việc nghiên cứu phát triển giáo dục THCS là một vấn đề hết sức quan
trọng và cấp thiết đối với sự nghiệp GD trong giai đoạn hiện nay, không chỉ
riêng ở Việt Nam ta mà ngay cả những nước có nền GD phát triển như: Hoa
Kỳ, Úc, Liên minh Châu Âu, Tính đến nay, đã có nhiều chuyên gia trong
lĩnh vực GD&ĐT công bố những công trình nghiên cứu, tham luận trong các
hội nghị khu vực châu Á và quốc tế, có thể kể đến như:
- TS Kent Fransworth với tham luận “Phát triển nguồn nhân lực thông
qua GD và tiền lương của GV”.
- TS Judy Murray, Đại học Tomball (Texas, Hoa Kỳ) xây dựng đề án
“Kế hoạch tổng thể về việc phát triển giáo dục trong tiến trình phát triển tại
trường đại học Tomball”. Trong đó tác giả nhấn mạnh đến yếu tố “Phát triển
đội ngũ giảng viên nhằm củng cố sứ mệnh và giá trị của trường đại học” và
đề ra những mục tiêu và giải pháp cụ thể đối với vấn đề nêu trên.
- GS John Murray, đại học Texas Tech University (Hoa Kỳ) với đề tài
“Sự phát triển đổi mới giáo dục”, đã xác định những bước cụ thể như là chìa
khóa dẫn đến thành công.
Ở nước ta, giáo dục và phát triển giáo dục THCS bao giờ cũng được
các cấp QL quan tâm sâu sắc. Sản phẩm của họ khác với sản phẩm của các
loại hình lao động khác ở chỗ sản phẩm này tích hợp cả nhân tố tinh thần và
vật chất. Đó chính là yếu tố con người giáo viên, học sinh, CBQL và yếu tố
vật chất như CSVT - TBTH, trường lớp, phòng ốc. Chính vì vậy, đã có nhiều
công trình nghiên cứu, nhiều đề tài khoa học đề cập đến vấn đề phát triển giáo
dục như:
- Hội thảo toàn quốc “Giáo dục THCS còn hạn chế - thực trạng và giải
pháp” tháng 04/2005 do Bộ GD&ĐT tổ chức tại Hà Nội đã nêu lên các
nguyên nhân khách quan, chủ quan của những hạn chế, yếu kém trong
QLGD. Trong đó, có nguyên nhân năng lực đội ngũ CB QLGD còn hạn chế
và đội ngũ GV vừa thiếu, vừa thừa, vừa không đồng bộ và CSVC - TBTH.
- Tác giả Vũ Bá Thể đã đưa ra một số giải pháp phát triển nguồn nhân
lực để CNH - HĐH đất nước trong giai đoạn đến năm 2020. Trong đó có
những giải pháp chủ yếu nhằm phát triển GD phổ thông “Xây dựng đội ngũ
GV đáp ứng yêu cầu về số lượng, ổn định theo vùng, đồng bộ về cơ cấu”,
“Nâng cao chất lượng đội ngũ GV, đổi mới CTQL và đào tạo CB QLGD phổ
thông”.
- Tác giả Phạm Minh Hạc trong “Giáo dục Việt Nam trước ngưỡng
cửa thế kỷ XXI” đã khẳng định: “Giáo dục bậc phổ thông có vai trò quan
trọng trong hình thành nhân cách HS”.
- “Các giải pháp xây dựng, phát triển trường THPT tỉnh Quảng Nam
giai đoạn 2006 - 2010” của tác giả Phạm Đình Ly. Tác giả đã đưa ra các giải
pháp nhằm phát triển các trường THPT về đội ngũ giáo viên, quy mô học sinh
và chất lượng giáo dục trong nhà trường THPT.
- Tác giả Phan Thanh Hùng đã nghiên cứu đề tài “Xây dựng quy hoạch
phát triển giáo dục Tiểu học và Trung học cơ sở huyện Cẩm Xuyên đến năm
2010”. Trong đó đã chỉ ra: để quy hoạch và phát triển giáo dục trường TH và
THCS cần đánh giá tình hình kinh tế - xã hội ở địa phương và đồng thời đưa
ra những giải pháp phát triển giáo dục bậc TH và THCS về chất lượng giáo
dục, về nâng cấp cơ sở vật chất và thực hiện xã hội hóa giáo dục.
Những nghiên cứu này đã ít nhiều khái quá hoá và làm rõ được những
vấn đề lý luận, đề xuất những biện pháp góp phần phát triển giáo dục. Tuy
nhiên đến thời điểm hiện nay chưa có tác giả đi sâu nghiên cứu về phát triển
giáo dục THCS Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa. Từ đó chúng tôi nghiên cứu đề
tài “Một số giải pháp phát triển giáo dục THCS huyện Hoằng Hóa, tỉnh
Thanh Hóa giai đoạn 2013 - 2020” nhằm đề xuất giải pháp phát triển giáo
dục THCS huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hoá giai đoạn 2013 - 2020.
1.2. Một số khái niệm cơ bản
1.2.1. Giáo dục và giáo dục THCS
1.2.1.1. Giáo dục
Giáo dục (tiếng Anh: education) theo nghĩa chung là hình thức học
tập theo đó kiến thức, kỹ năng và thói quen của một nhóm người được trao
truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác thông qua giảng dạy, đào tạo hay
nghiên cứu. Giáo dục thường diễn ra dưới sự hướng dẫn của người khác
nhưng cũng có thể thông qua tự học. Bất cứ trải nghiệm nào có ảnh hưởng
đáng kể lên cách mà người ta suy nghĩ, cảm nhận hay hành động đều có thể
được xem là có tính giáo dục. Giáo dục thường được chia thành các giai
đoạn như giáo dục tuổi ấu thơ, giáo dục tiểu học, giáo dục trung học và
giáo dục đại học.
John Dewey cũng đề cập đến việc truyền đạt, nhưng ông nói rõ hơn về
mục tiêu cuối cùng của việc giáo dục, dạy dỗ. Theo J. Dewey cá nhân con
người không bao giờ vượt qua được qui luật của sự chết và cùng với sự chết
thì những kiến thức, kinh nghiệm mà cá nhân mang theo cũng sẽ biến mất.
Tuy nhiên, tồn tại xã hội lại đòi hỏi phải những kiến thức, kinh nghiệm của
con người phải vượt qua được sự khống chế của sự chết để duy trì tính liên
tục của sự sống xã hội. Giáo dục là “khả năng” của loài người để đảm bảo
tồn tại xã hội. Hơn nữa, J. Dewey cũng cho rằng: xã hội không chỉ tồn tại nhờ
truyền dạy mà còn tồn tại chính trong quá trình truyền dạy ấy.
Tuy nhiên, cả hai cách định nghĩa hoặc hiểu như trên về giáo dục vẫn
chú trọng đến khía cạnh xã hội của giáo dục nhiều hơn.
Từ “giáo dục” trong tiếng Anh là "education". Đây là một từ gốc Latin
ghép bởi hai từ: "Ex" và "Ducere" _ "Ex-Ducere". Có nghĩa là dẫn
("Ducere") con người vượt ra khỏi ("Ex") hiện tại của họ mà vươn tới những
gì thiện hảo, tốt lành hơn, hạnh phúc hơn. Cách định nghĩa thứ ba có tính
nhân bản cao hơn. Trong định nghĩa thứ ba này, sự hoàn thiện của mỗi cá
nhân mới là mục tiêu sâu xa của giáo dục, người giáo dục (thế hệ trước) có
nghĩa vụ phải dẫn hướng, phải chuyển lại cho thế hệ sau tất cả những gì có
thể để làm cho thế hệ sau triển nở hơn, hạnh phúc hơn.
Có nhiều quan điểm khác nhau về giáo dục nhưng chúng tôi theo quan
điểm “Giáo dục là hiện tượng xã hội đặc biệt, bản chất của nó là sự truyền
đạt và lĩnh hội kinh nghiệm lịch sử - xã hội của các thế hệ loài người…”.
Định nghĩa trên nhấn mạnh đến sự truyền đạt và lĩnh hội giữa các thế
hệ, nhấn mạnh đến yếu tố dạy học, nhưng không thấy nói đến mục đích sâu xa
hơn, mục đích cuối cùng của việc đó.
Từ khi ra đời, giáo dục đã trở thành một yếu tố cơ bản thúc đẩy sự phát
triển thông qua việc thực hiện các chức năng xã hội của nó. Đó chính là
những tác động tích cực của giáo dục đến các mặt hay các quá trình xã hội và
tạo ra sự phát triển cho xã hội. Có nhiều cách hiểu khác nhau về khái niệm
“giáo dục”:
- Giáo dục được hiểu là quá trình hình thành và phát triển nhân cách
dưới ảnh hưởng của tất cả các hoạt động từ bên ngoài, được thực hiện một
cách có ý thức của con người trong nhà trường, gia đình và ngoài xã hội.
- Giáo dục còn được hiểu là hệ thống những tác động có mục đích xác
định được tổ chức một cách khoa học (có kế hoạch, có phương pháp, có hệ
thống) của các cơ quan giáo dục chuyên biệt (nhà trường) nhằm phát triển toàn
diện nhân cách. Qua những môn học trên trường, lớp cũng như qua những hoạt
động như báo cáo thời sự, biểu diễn văn nghệ, cắm trại, thăm quan,… được tổ
chức ngoài giờ lên lớp, sẽ tạo ra những ảnh hưởng tích cực đến sự hình thành và
phát triển nhân cách của người được giáo dục, dưới tác động của giáo viên, của
nhà giáo dục.
- Giáo dục được hiểu là quá trình hình thành và phát triển nhân cách
người giáo dục dưới quan hệ của những tác động sư phạm của nhà trường, chỉ
liên quan đến các mặt giáo dục như: trí học, đức học, mĩ dục, thể dục, giáo dục
lao động.
Ngoài ra, giáo dục còn được hiểu là quá trình hình thành và phát triển
nhân cách người được giáo dục chỉ liên quan đến giáo dục đạo đức. Sự ra đời
và phát triển của giáo dục gắn liền với sự ra đời và phát triển của xã hội. Một
mặt, giáo dục phục vụ cho sự phát triển xã hội, bởi lẽ xã hội sẽ không phát
triển thêm một bước nào nếu như không có những điều kiện cần thiết cho giáo
dục tạo ra. Mặt khác, sự phát triển của giáo dục luôn chịu sự quy định của xã
hội thông qua những yêu cầu ngày càng cao và những điều kiện ngày càng
thuận lợi do sự phát triển xã hội mang lại. Chính vì vậy, trình độ phát triển
của giáo dục phản ánh những đặc điểm phát triển của xã hội.
Trong thời đại ngày nay, nền giáo dục thế giới và của mỗi quốc gia
đang không ngừng cải cách đổi mới nhằm thích ứng tốt hơn với những xu thế
phát triển mới mẻ, năng động của toàn nhân loại và có khả năng tạo ra được
những nguồn lực mới để phát triển nhanh, bền vững.
1.2.1.2. Giáo dục Trung học cơ sở
* Trường Trung học cơ sở
Trong hầu hết các hệ thống giáo dục hiện nay trên thế giới, giáo dục
trung học bao gồm giáo dục chính quy dành cho thanh thiếu niên. Đây là giai
đoạn chuyển tiếp giữa giáo dục tiểu học, thường là bắt buộc, dành cho trẻ vị
thành niên và giáo dục sau trung học hay giáo dục đại học, vốn mang tính tùy
chọn dành cho người lớn. Tùy thuộc vào từng hệ thống giáo dục, các trường
học trong giai đoạn này, hoặc một phần của giai đoạn này, có thể được gọi là
trường trung học hay trường dạy nghề. Biên giới chính xác giữa giáo dục tiểu
học và trung học cũng thay đổi theo từng quốc gia và theo từng vùng, thường
thì khoảng ở năm học thứ bảy hay thứ mười.
Trường trung học là cơ sở giáo dục bậc trung học - bậc học nối tiếp bậc
học tiểu học của hệ thống giáo dục quốc dân nhằm hoàn chỉnh học vấn phổ
thông. Trường trung học có tư cách pháp nhân và con dấu riêng. Có 2 loại
trường trung học: Trường trung học cơ sở có từ lớp 6 đến lớp 9 và trường
trung học phổ thông có từ lớp 10 đến lớp 12.
Ngoài ra, trường phổ thông có thể còn có các loại trường sau:
+ Trường phổ thông cơ sở là trường ghép giữa tiểu học và trung học cơ
sở, có thể có từ lớp 1 đến lớp 9.
+ Trường trung học là trường ghép giữa trung học cơ sở và trung học
phổ thông, có thể có từ lớp 6 đến lớp 12.
+ Trường phổ thông liên cấp là trường ghép cấp tiểu học với cấp trung
học, có thể có từ lớp 1 đến lớp 12. Trên thực tế khi thống kê, Bộ Giáo dục và
Đào tạo hướng dẫn ghi loại này vào trường trung học phổ thông.
* Giáo dục Trung học cơ sở: “Giáo dục THCS được thực hiện trong 4
năm, từ lớp 6 đến lớp 9. Học sinh vào lớp 6 phải có Giấy Chứng nhận hoàn
thành chương trình TH, có tuổi là 11 tuổi”. Thanh thiếu niên có độ tuổi từ 11
đến 14 tuổi đến trường THCS đi học để được tổ chức giảng dạy - giáo dục,
học tập và rèn luyện để trở thành những công dân có ích cho xã hội mai sau
và là nguồn nhân lực bổ sung quan trọng trong quá trình công nghiệp hóa -
hiện đại hoá đất nước. Đây cũng là lứa tuổi đang trong quá trình hình thành và
phát triển nhân cách, có những chuyển biến về tâm sinh lý phức tạp.
Giáo dục THCS nhằm giúp học sinh củng cố, phát triển những kết quả
của giáo dục Tiểu học, có học vấn phổ thông ở trình độ cơ sở và những hiểu
biết ban đầu về kỹ thuật và hướng nghiệp để tiếp tục học Trung học phổ
thông, trung cấp học nghề hoặc đi vào cuộc sống lao động.
1.2.2. Phát triển và phát triển giáo dục THCS
* Phát triển
Thuật ngữ phát triển theo nghĩa triết học là biến đổi hoặc làm cho
biến đổi từ ít đến nhiều, từ hẹp đến rộng, từ thấp đến cao, từ đơn giản đến
phức tạp. Lý luận phép biện chứng duy vật đã khẳng định: Mọi sự vật hiện
tượng không chỉ tăng lên hay giảm đi về số lượng mà cơ bản chúng luôn
biến đổi, chuyển hoá sự vật từ hiện tượng này đến sự vật hiện tượng khác,
cái mới kế tiếp cái cũ, giai đoạn sau kế thừa giai đoạn trước tạo thành quá
trình phát triển tiến lên mãi mãi. Nguyên nhân của sự phát triển là sự liên
hệ tác động qua lại của các mặt đối lập vốn có bên trong các sự vật hiện
tượng. Hình thái cách thức của sự phát triển đi từ những biến đổi về lượng
đến những biến đổi chuyển hoá về chất và ngược lại. Con đường, xu hướng
của sự phát triển không theo đường thẳng, cũng không theo đường tròn
khép kín mà theo đường xoay ốc tạo thành xu thế phát triển, tiến lên từ từ,
từ đơn giản đến phức tạp, từ thấp đến cao, từ kém hoàn thiện đến ngày
càng hoàn thiện hơn.
Từ những năm 60 của thế kỷ XX, thuật ngữ phát triển được sử dụng
khá rộng rãi với cách hiểu đơn giản là phát triển kinh tế. Sau đó, khái niệm
này được bổ sung thêm về nội hàm và được hiểu một cách toàn diện hơn.
Ngày nay, khái niệm phát triển được sử dụng để chỉ ba mục tiêu cơ bản
của nhân loại là: Phát triển con người toàn diện, bảo vệ môi trường, hoà bình
và ổn định chính trị ở mỗi quốc gia.
Phát triển là một quá trình nội tại, là bước chuyển hoá từ thấp đến cao,
trong cái thấp đã chứa đựng dưới dạng tiềm năng những khuynh hướng dẫn
đến cái cao, trong cái cao là cái thấp đã phát triển. Phát triển là quá trình tạo
ra sự hoàn thiện của cả tự nhiên và xã hội. Phát triển có thể là một quá trình
hiện thực nhưng cũng có thể là một tiềm năng của sự vật hiện tượng.
* Phát triển giáo dục THCS
Trong Chiến lược Phát triển giáo dục 2001 - 2010, đã nêu ra quan điểm
chỉ đạo đối với chất lượng giáo dục: “Giáo dục con người Việt Nam phát
triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khoẻ và thẩm mỹ, phát triển được
năng lực cá nhân, đào tạo những người lao động có kỹ năng nghề nghiệp,
năng động, sáng tạo, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và CNXH, có ý
thức vươn lên lập thân, lập nghiệp, có ý thức công dân, góp phần làm cho
dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, phục vụ sự
nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”.
Vì vậy phát triển giáo dục THCS có thể xem như một quá trình
liên tục nhằm hoàn thiện hay thay đổi thực trạng hiện tại của tình trạng
giáo dục THCS về quy mô, số lượng của học sinh, làm cho đội ngũ GV
không ngừng phát triển về mọi mặt, đáp ứng yêu cầu giảng dạy tại nhà
trường trong xu hướng hội nhập, tiếp cận chuẩn nghề nghiệp GV của các
nước tiên tiến đồng thời phát triển cơ sở vật chất, trang thiết bị trường
học, quy mô trường học mở rộng. Phát triển giáo dục THCS được xem
như một quá trình tích cực mang tính hợp tác cao, trong đó các yếu tố
học sinh, GV, CBQL, cơ sở vật chất sẽ đóng một vài trò quan trọng
trong sự trưởng thành, phát triển về số lượng lẫn chất lượng và sử dụng
có hiệu quả.
Phát triển giáo dục trường THCS là gia tăng số lượng, chất lượng HS,
số lượng, chất lượng đội ngũ CBQL, GV đảm bảo về chất lượng (có trình độ,
được đào tạo đúng quy định, có phẩm chất đạo đức, có năng lực trong các
hoạt động dạy học). Yếu tố cơ sở vật chất cũng cần được gia tăng để đảm bảo
phát triển giáo dục đảm bảo về mặt chất lượng.
1.2.3. Giải pháp và giải pháp phát triển giáo dục THCS
1.2.3.1. Giải pháp
Theo Từ điển tiếng Việt: “Giải pháp là phương pháp giải quyết một
vấn đề cụ thể”.
Còn theo tác giả Nguyễn Văn Đạm: “Giải pháp là toàn bộ những ý
nghĩ có hệ thống cùng với những quyết định và hành động theo sau, dẫn tới
sự khắc phục một khó khăn”.
Để hiểu rõ hơn khái niệm giải pháp, chúng ta cần phân biệt nó với một số
khái niệm tương tự như phương pháp, biện pháp. Điểm giống nhau của các khái
niệm là đều nói về cách làm, cách tiến hành, cách giải quyết một công việc, một
vấn đề. Còn điểm khác nhau ở chỗ: biện pháp chủ yếu nhấn mạnh đến cách làm,
cách hành động cụ thể, trong khi đó phương pháp nhấn mạnh đến trình tự các
bước có quan hệ với nhau để tiến hành một công việc có mục đích.
Theo Hoàng Phê, phương pháp là “Hệ thống các cách sử dụng để tiến
hành một công việc nào đó”. Còn theo Nguyễn Văn Đạm: “Phương pháp
được hiểu là trình tự cần theo trong các bước có quan hệ với nhau khi tiến
hành một công việc có mục đích nhất định”.
Về khái niệm biện pháp, theo Từ điển Tiếng Việt, đó là “Cách làm,
cách giải quyết một vấn đề cụ thể”.
Như vậy, khái niệm giải pháp tuy có những điểm chung với các khái
niệm trên nhưng nó cũng có điểm riêng. Điểm riêng cơ bản của thuật ngữ này
là nhấn mạnh đến phương pháp giải quyết một vấn đề với sự khắc phục khó
khăn nhất định. Trong một giải pháp có thể bao gồm nhiều biện pháp.
1.2.3.2. Giải pháp phát triển giáo dục THCS
Giải pháp phát triển giáo dục THCS là phương pháp cơ bản làm biến
đổi giáo dục THCS cả về số lượng và chất lượng để đáp ứng yêu cầu của xã
hội trong một giai đoạn nhất định.
Giáo dục là một thiết chế chuyên biệt của xã hội thực hiện chức năng
tái tạo và phát triển xã hội theo nghĩa hình thành và phát triển nhân cách mỗi
thành viên của xã hội, hướng tới sự duy trì và phát triển xã hội. Thiết chế chế
chuyên biệt này hoạt động trong tính qui định của xã hội và theo các dấu hiệu
phân biệt: tính mục đích được tập trung; tính tổ chức cao, là nơi thực hiện
việc giáo dục đào tạo và hình thành nhân cách con người…
Trong giáo dục yếu tố cần được phát triển là nhà trường. Với quan
niệm nhà trường là một hệ thống xã hội bao gồm các thành tố: thành tố con
người (bao gồm: Thầy - Trò, đội ngũ cán bộ quản lý, nhân viên), thành tố cơ
sở vật chất (bao gồm: trường , lớp, trang thiết bị, đồ dùng dạy học, sách giáo
khoa, tài liệu tham khảo, ). Trong đó, thành tố tinh thần là toàn bộ tri thức,
kỹ năng, thái độ mà xã hội đã tích lũy được tái tạo và phát triển trong nhà
trường thông qua hoạt động dạy học - giáo dục. Quan điểm, đường lối phát
triển giáo dục thể hiện ở đường lối chính sách giáo dục của Đảng và Nhà
nước; thành tố quá trình, phản ánh bản chất của nhà trường, tạo nên sự khác
biệt của nhà trường với các tổ chức xã hội khác đó là quá trình sư phạm. Điều
kiện phát triển giáo dục nói chung có thể được chia thành các yếu tố như: các
điều kiện bên trong và các điều kiện bên ngoài, các điều kiện vật chất và các
điều kiện tinh thần, các điều kiện con người và các điều kiện vật hoá. Xét một
cách cụ thể thì các nhóm yếu tố sau tạo nên hệ điều kiện đưa ra giải pháp phát
triển giáo dục, đó là :
- Môi trường kinh tế xã hội của giáo dục.
- Chính sách và các công cụ thể chế hóa giáo dục.
- Cơ sở vật chất - kỹ thuật và tài chính cho giáo dục.
- Giáo viên và học sinh.
- Nghiên cứu giáo dục, lý luận giáo dục và thông tin giáo dục.
Mỗi một yếu tố trên có một vai trò nhất định trong sự phát triển của giáo
dục. Môi trường kinh tế - xã hội qui định và tác động mạnh mẽ đến qui mô, tốc
độ và tính chất của giáo dục. Chính sách và các công cụ thể chế hoá giáo dục
chủ yếu hướng vào quản lý, nâng cao chất lượng con người, chất lượng nguồn
nhân lực, chất lượng cuộc sống. Công cụ thể chế hoá giáo dục đặc trưng chủ
yếu là hệ thống chuẩn quốc gia về nội dung, chương trình, giáo viên, phương
tiện kỹ thuật phục vụ cho dạy và học. Cơ sở vật chất, thiết bị , tài chính là yếu
tố quyết định chất lượng môi trường giáo dục trong nhà trường. Giáo viên, học
sinh là chủ thể của quá trình giáo dục. Trong đó giáo viên là người giữ vai trò
chủ đạo, định hướng, học sinh giữ vai trò chủ động, tự giác, sáng tạo. Nghiên
cứu giáo dục, lý luận giáo dục là xây dựng hệ thống chính sách và chiến lược
giáo dục nhằm định hướng cho sự phát triển giáo dục. Các yếu tố trong hệ
thống lại có tác động qua lại lẫn nhau, bổ trợ cho nhau, làm tiền đề cho nhau,
thúc đẩy lẫn nhau một cách biện chứng để cùng phát triển trong sự phát triển
chung của cả hệ thống. Theo qui luật phát triển thì các yếu tố trên phải luôn
được phát triển theo sự phát triển chung của nền kinh tế - xã hội, đồng thời phải
có những bước phát triển đi trước nhu cầu của xã hội. Chính vì vậy, quan tâm
đầu tư cho nhà trường một cách toàn diện về cơ sở vật chất, trang thiết bị, con
người là những yếu tố để thúc đẩy sự phát triển về chất lượng giáo dục trong
nhà trường. Trong các yếu tố trên thì đầu tư cho sự phát triển của đội ngũ giáo
viên bao giờ cũng có vai trò quyết định việc nâng cao chất lượng trong nhà
trường. Sự tác động trở lại của các yếu tố khác như: cơ sở vật chất, môi trường,
hệ thống chính sách, học sinh, kỹ thuật, chiến lược phát triển đã góp phần
thúc đẩy hoàn thiện quá trình phát triển nhà trường THCS.
1.3. Giáo dục THCS trong hệ thống giáo dục quốc dân
1.3.1. Vị trí, vai trò của giáo dục THCS
* Vị trí
Theo Điều lệ trường THCS, trường trung học phổ thông và trường phổ
thông có nhiều cấp học ban hành kèm theo Quyết định số 07/2007/QĐ -
BGDĐT ngày 02/4/2007 của Bộ GD&ĐT.

Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×