Tải bản đầy đủ

Cục dự trữ liên bang Mỹ và các chính sách tài chính của nó

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH
BỘ MÔN NGÂN HÀNG TRUNG ƯƠNG
BÀI TIỂU LUẬN
CỤC DỰ TRỮ LIÊN BANG
MỸ VÀ CÁC CHÍNH SÁCH
TÀI CHÍNH CỦA NÓ
Sinh
viên thực
hiện:
1) Nguyễn Thị Minh Châu – NH8
2) Nguyễn Thu Hiếu – NH8
3) Diệp Bội Quỳnh Ngân – NH8
4) Lê Thị Minh THư – NH8
5) Lê Xuân Trinh – NH8
4
Trường đại học kinh tế tp HCM- NH8
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU3
NỘI DUNG........................................................................................................5
I. TỔNG QUAN VỀ CỤC DỰ TRỮ LIÊN BANG MỸ (FED).....................5
1) Hoàn cảnh ra đời..............................................................................................5

2) Cơ cấu của FED...............................................................................................5
3) Nhiệm vụ của FED.........................................................................................10
4) Tính độc lập của FED................................................................................11
II. CÁC CHÍNH SÁCH FED SỬ DỤNG ĐỂ TÁC ĐỘNG VÀO NỀN
KINH TẾ MỸ ĐẶC BIỆT LÀ TRONG CUỘC KHỦNG HOẢNG 2007
-2009 ..............................................................................................................12
1. Chính sách tiền tệ của FED.............................................................................12
2. Các chính sách FED sử dụng trong cuộc khủng hoảng 2007-2009 ..........23
III. GIẢI PHÁP FED ĐƯA RA CHO NỀN KINH TẾ MỸ........................29
1. ndsjhls...........................................................................................................29
2.dfgdsgsdh.......................................................................................................34
KẾT LUẬN...................................................................................................41
Cục dự trữ liên bang Mỹ (FED) 16/02/2012
4
Trường đại học kinh tế tp HCM- NH8
MỞ ĐẦU
Trong nền kinh tế thị trường, tiền trở thành một phương tiện đảm bảo cho
mọi hoạt động kinh tế diễn ra một cách bình thường. Hoạt động của tiền trong nền kinh
tế luôn gắn liền với các hiện tượng kinh tế như: lạm phát, chu kỳ kinh doanh, thâm hụt
ngân sách. Tiền liên quan đến các quyết định của các cá nhân và ảnh hưởng đến tình
trạng chung của nền kinh tế quốc gia.
Liên quan đến sự vận động của tiền trong nền kinh tế là hoạt động của các tổ
chức tài chính (các ngân hàng, công ty bảo hiểm, các quỹ tương trợ…) và thị trường tài
chính (thị trường chứng khoán, thị trường cổ phiếu và hối đoái). Các thị trường tài
chính và các tổ chức tài chính không chỉ tác động đến đời sống hàng ngày của mỗi cá
nhân mà còn liên quan đến sự luân chuyển của những dòng vốn lớn trong nền kinh tế,
tác động đến hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp và đến cả tình trạng kinh tế của
một nước.
Như chúng ta đã biết, nếu vốn được coi là một trong những nguồn lực quan
trọng và đóng vai trò quyết định đối với sự phát triển kinh tế, nó có một tính chất khan
hiếm. Vậy vấn đề đặt ra làm thế nào để sử dụng một cách triệt để và có hiệu quả nhất
nguồn vốn trong nước và ngoài nước? Để đạt được điều này, trước hết cần phải có một
hệ thống Ngân hàng phát triển đồng bộ, có sự phối hợp nhịp nhàng giữa Ngân hàng Nhà
nước (NHNN) hay Ngân hàng Trung Ương (NHTW) với các Ngân hàng thương mại
(NHTM) trong việc thực hiện chính sách tiền tệ. Ở đó, vai trò đặc biệt của NHTW là
không thể thay thế được.
Vì vậy, ở bất kỳ quốc gia nào, ngân hàng trung ương (NHTW) cũng đều đóng
vai trò đặc biệt trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội. Bởi lẽ, nếu hệ thống ngân
hàng được ví là huyết mạch thì NHTW có thể coi là trái tim của nền kinh tế. Một nền
kinh tế chỉ có thể phát triển lành mạnh khi có một NHTW thực hiện tốt chức năng điều


tiết hệ thống tiền tệ. Ngược lại, những trục trặc trong hoạt động của NHTW cũng có thể
gây ra những cú “đột quỵ” đối với cả nền kinh tế.
Trong vai trò của một Ngân hàng trung ương, FED là ngân hàng của các ngân
hàng và là ngân hàng của Chính phủ liên bang Mỹ. FED được xây dựng để đảm bảo
duy trì cho nước Mỹ một chính sách tiền tệ linh hoạt hơn, an toàn hơn, và ổn định
hơn.Trong quá trình tồn tại và phát triển cùng với lịch sử nước Mỹ, FED ngày càng
Cục dự trữ liên bang Mỹ (FED) 16/02/2012
4
Trường đại học kinh tế tp HCM- NH8
chứng mình được vai trò vô cùng quan trọng của nó trong hệ thống ngân hàng cũng như
trong nền kinh tế Mỹ, đồng thời nó cũng ảnh hưởng đến nền kinh tế của nhiều quốc gia.
Bài tiểu luận này sẽ trình bày rõ hơn và cụ thể hơn những vai trò, tầm ảnh hưởng
và các chính sách nổi bật của FED đối với nền kinh tế Mỹ nói riêng và toàn thế giới nói
chung qua các phần chính sau:
1) Tổng quan về Cục dự trữ liên bang Mỹ (FED)
2) Các chính sách FED sử dụng để tác động vào nền kinh tế Mỹ đặc biệt là
trong cuộc khủng hoảng năm 2007-2009
3)
Cục dự trữ liên bang Mỹ (FED) 16/02/2012
4
Trường đại học kinh tế tp HCM- NH8
NỘI DUNG
I. TỔNG QUAN VỀ CỤC DỰ TRỮ LIÊN BANG MỸ (FED)
1. Hoàn cảnh ra đời
Năm 1791, Alexander Hamilton (Hamilton là người đại diện cho quyền lợi của
gia tộc Rothschild ) trình lên quốc hội phương án thành lập First Bank of the United
States để giải quyết tình trạng “ thiếu tiền ”. First Bank of the United States (BUS) được
vận hành theo đúng mô hình của Ngân hàng Bắc Mỹ. Thomas Willing, chủ tịch Ngân
hàng Bắc Mỹ được mời giữ chức chủ tịch ngân hàng mới. Đối với quyền sở hữu, chính
quyền liên bang nắm quyền sở hữu 1/5 ngân hàng trung ương này. 80% cổ phần còn lại,
lẽ dĩ nhiên, thuộc về các đại gia tộc ngân hàng. Ngân hàng mới sẽ có quyền phát hành
tiền và đầu tư vào các khoản nợ công và tài trợ tín dụng giá rẻ cho các nhà công nghiệp.
Chính quyền liên bang cũng trao cho ngân hàng quyền được lưu ký quĩ và tài sản của
chính phủ. Thời gian hoạt động được qui định là 20 năm.
Năm 1812, cuộc chiến giữa Hoa Kỳ và Anh quốc nổ ra. Chính phủ Hoa Kỳ phải
phát hành rất nhiều nợ để tài trợ cho các hoạt động quân sự cực kỳ tốn kém. Từ 1811
đến 1815, số ngân hàng đã tăng 117 lên 246. Tổng số tiền kim loại các ngân hàng đã
phát hành rơi vào khoảng từ 14,9 triệu đô-la (1811) đến 13,5 triệu đô-la (1815). Trong
khi đó, tổng lượng tiền giấy và tiền gửi là 42,2 triệu đô-la (1811) đã tăng gần 90% sau 4
năm, đạt con số 79 triệu đô-la (1815).Việc phát hành quá nhiều tiền và tài trợ các khoản
chi phí chiến tranh khổng lồ đẩy các ngân hàng vào tình trạng khó khăn và mất khả
năng thanh toán. Lúc này, các cuộc tranh cãi về việc giải quyết hậu quả cho tình trạng
trên trở nên gay gắt. Cuối cùng nước Mỹ một lần nữa lại lựa chọn việc thành lập ngân
hàng trung ương.
Mô hình lần này cũng giống như First Bank of the United States, chỉ khác một
chữ trong tên gọi: Second Bank of the United States. Cuộc chiến Anh-Pháp kết thúc
cùng năm 1816. Và 80% sở hữu của ngân hàng trung ương Hoa Kỳ “mới” thuộc về gia
đình Rothschild và những người đại diện. Ngân hàng này có thời hạn 20 năm để thực
hiện các chức năng tạo ra một đồng tiền giấy thống nhất trên toàn lãnh thổ Hoa Kỳ,
mua phần lớn nợ của chính phủ, và nhận tiền gửi của Bộ Tài chính.
Các ông chủ của Second Bank of the United States (BUS2) bắt tay cùng đại diện
các ngân hàng lớn ở ngoại ô Boston và thống nhất cung cấp một khoản tín dụng trị giá 6
Cục dự trữ liên bang Mỹ (FED) 16/02/2012
4
Trường đại học kinh tế tp HCM- NH8
triệu đô-la bằng tiền đúc tại New York, Philadelphia, Baltimore, và Virginia trước khi
phải nhất nhất tuân theo yêu cầu thanh toán bằng tiền đúc với những khoản nợ phải
thanh toán cho ngân hàng các bang. Lượng tiền đúc này được tính toán sẽ vượt xa nhu
cầu chuyển đổi tiền giấy sang tiền đúc có thể phát sinh khi đạo luật mới được thực thi.
Như vậy, các ngân hàng có thể thoải mái phát hành mới tiền giấy mà không lo lắng tới
việc vi phạm pháp luật. “Thương vụ” giữa BUS2 và ngân hàng tại các bang đã biến qui
định phải qui đổi ra tiền đúc để thanh toán chỉ còn mang tính hình thức. Nền kinh tế tiếp
tục ở trong tình trạng lạm phát. Đến năm 1819, yêu cầu thanh toán bằng tiền đúc bị dỡ
bỏ cùng lúc với khủng hoảng kinh tế trong thời gian 1819-1821.
Cho đến năm 1836, Second Bank of United States giải tán sau khi điều lệ của
ngân hàng không được gia hạn. Sau nhiều năm nội chiến của nước Mỹ, gia tộc
Rothschild đã quay trở lại và lần thứ ba xác lập mô hình ngân hàng trung ương ở nước
Mỹ - Hệ thống Dự trữ Liên bang, vào năm 1913.
Kế hoạch thành lập ngân hàng trung ương Hoa Kỳ lần thứ ba được một nhóm
các nhà ngân hàng bí mật bàn bạc và thông qua vào tháng 11 năm 1910 sau chín ngày
hội họp tại đảo Jekyll. Với những mục tiêu và kế hoạch bàn bạc đề ra. Cho tới ngày
23/12/1913, FED chính thức được quốc hội phê chuẩn thành lập và đi vào hoạt động
chính thức từ năm 1915.
2. Cơ cấu của FED
a) Cục dự trữ liên bang (Federal Reserve System – Fed) là ngân hàng trung ương
của Hoa Kỳ. Bắt đầu hoạt động năm 1915 theo "Đạo luật Dự trữ Liên bang" của Quốc
hội Hoa Kỳ thông qua cuối năm 1913.
Cục dự trữ liên
bang bề ngoài là ngân
hàng của chính phủ
nhưng thực ra là sở hữu
tư nhân, bao gồm Hội
đồng thống đốc đóng tại
thủ đô Washington được
chỉ định bởi Tổng thống
Hoa Kỳ, Ủy ban thị
trường, 12 Ngân hàng dự
Cục dự trữ liên bang Mỹ (FED) 16/02/2012
4
Trường đại học kinh tế tp HCM- NH8
trữ liên bang khu vực và các ngân hàng thành viên có sở hữu một phần ở các ngân hàng
dự trữ liên bang khu vực.
Chủ tịch Hội đồng thống đốc của Fed hiện nay là Ben Bernanke.
FED bao gồm 12 ngân hàng và 25 chi nhánh ở khắp nước Mỹ nên nó là một hệ
thống ngân hàng trung ương tư hữu. Mỗi ngân hàng Dự trữ liên bang đại diện cho một
quận và được đặt tên theo tên thành phố mà nó đặt trụ sở, chẳng hạn như Boston, New
York, Philadelphia, Cleveland, Richmond, Atlanta, Chicago, St. Louis, Minneapolis,
Kansas City, Dallas, San Freancisco, trong đó Ngân hàng dự trữ New York có một vai
trò nổi bật hơn so với các Ngân hàng còn lại.
Theo tòa án tối cao Mỹ, các ngân hàng dự trữ liên bang khu vực không phải là
công cụ của chính quyền liên bang, chúng là các ngân hàng độc lập, sở hữu tư nhân và
hoạt động theo luật pháp ở địa phương. Phán quyết trên cũng cho rằng, các Ngân hàng
dự trữ liên bang cũng có thể được coi là công cụ của chính quyền liên bang theo một số
mục đích nhất định. Trong một số phán quyết khác ở tòa án cấp bang, sự khác biệt giữa
Hội đồng thống đốc và các Ngân hàng được quy định rõ ràng. Các Ngân hàng sở hữu
Ngân hàng dự trữ liên bang khu vực là của tư nhân và rất nhiều trong số đó có cổ phiếu
phát hành trên thị trường. Giấy bạc do FED phát hành là nguồn cung tiền tệ và chúng
được đưa vào lưu thông qua các Ngân hàng dự trữ liên bang khu vực.
Bản đồ các khu vực quản lý của các ngân hàng Fed khu vực
Cục dự trữ liên bang Mỹ (FED) 16/02/2012
4
Trường đại học kinh tế tp HCM- NH8
12 ngân hàng khu vực dự trữ liên bang khu vực được thành lập bởi Quốc hội là
các chi nhánh của hệ thống ngân hàng trung ương, có tổ chức giống một tổ chức tư
nhân. Ví dụ, cổ phần của ngân hàng dự trữ liên bang khu vực do các ngân hàng thành
viên sở hữu. Việc sở hữu cổ phần này khác với sở hữu cổ phần công ty thông thường.
Các ngân hàng dự trữ liên bang khu vực hoạt động không vì lợi nhuận và việc sở hữu
cổ phần của nó là điều kiện để trở thành ngân hàng thành viên. Cổ phần không thể mua
bán hay thế chấp. Cổ tức ấn định là 6% một năm. Đứng về mặt tài sản, ngân hàng Fed
New York là ngân hàng lớn nhất với phạm vi hoạt động là quận 2 tiểu bang New York,
thành phố New York, Puerto Rico và quần đảo Virgin thuộc Hoa Kỳ.
Cổ tức được trả dưới dạng khoản bù vào lãi suất cho phần dự trữ thiếu hụt được
giữ tại Fed. Theo quy định của luật pháp, mỗi ngân hàng phải duy trì tỷ lệ dự trữ bắt
buộc mà phần lớn đặt tại Fed. Cục dự trữ liên bang không trả lãi suất cho các khoản dự
trữ này.
Mỗi ngân hàng Fed khu vực được ký hiệu bằng chữ cái. Những chữ cái này in trên giấy
bạc mà chúng phát hành.
1. Boston A
2. New York B
3. Philadelphia C
4. Cleveland D
5. Richmond E
6. Atlanta F
7. Chicago G
8. St Louis H
9. Minneapolis I
10. Kansas City J
11. Dallas K
12. San Francisco L
b) Các ngân hàng thành viên
Tất cả các ngân hàng đều là thành viên của FED, phải tuân thủ một mức dự trữ bắt
buộc nhất định, được vay tiền từ FED, được thanh toán bù trừ tại FED, chịu sự giám sát
về các hoạt động bởi FED
c) Hội đồng thống đốc
Lãnh đạo FED là Hội đồng thống đốc, gồm có 7 thành viên do Tổng thống bổ
nhiệm và Thượng viện phê chuẩn. Bảy thành viên của ban Thống đốc đóng vai trò là cơ
quan quyết định các chính sách tiền tệ Mỹ. Nhiệm kì của mỗi thành viên Hội đống thống
đốc kéo dài 14 năm, các thành viên chỉ có thể đựoc tái bổ nhiệm nếu nhiệm kì trước của
thành viên đó không phải là một nhiệm kì trọn vẹn. Hội đồng ấn định mức dự trữ bắt buộc
và kiểm soát lãi suất tái chiết khấu.
d) Ủy ban thị trường tự do liên bang (FOMC)
Cục dự trữ liên bang Mỹ (FED) 16/02/2012
4
Trường đại học kinh tế tp HCM- NH8
Ủy ban bao gồm 12 thành viên, trong đó có 7 thành viên của hội đồng thống đốc, chủ
tịch ngân hàng Dự trữ liên bang New York và các chủ tịch của 4 ngân hàng Dự trữ liên
bang khác thường xuyên tiến hành việc chỉ đạo các nguồn vụ thị trường tự do. Vì các
nghiệp vụ thị trường tự do là một công cụ quan trọng của FED để kiểm soát cung ứng tiền
tệ nên FOMC là tiêu điểm cho việc hoạch định chính sách của hệ thống Dự trữ liên bang.
Vị trí của các thành viên xoay vòng theo nhóm 4 thành viên, trong đó có 1 ngân hàng
chủ tịch từ mỗi nhóm:
- Boston, Philadelphia, Richmond.
- Cleveland và Chicago.
- Atlanta, St. Louis và Dallas
- Minneapolis, Kansas City và San Francisco
Những chủ tịch ngân hàng dự trữ không bầu cử tham gia vào những cuộc họp của
Ủy ban, tham gia thảo luận, và xây dựng những đánh giá của Ủy ban đối với nền kinh tế
và sự lựa chọn các chính sách.
FOMC tổ chức 8 cuộc họp thường kì hằng năm. Trong những cuộc họp này, Ủy
ban xem lại nền kinh tế và những điều kiện tài chính, quyết định quan điểm về chính sách
tiền tệ thích hợp, đánh giá rủi ro của mục tiêu ổn định giá cả và tăng trưởng kinh tế bền
vững trong dài hạn.
Những thành viên của FOMC trong năm 2012:
- Ben S. Bemanke, Board of Governors, Chairman
- William C. Dudley, New York, Vice Chair man
- Elizabeth A. Duke, Board of Governors
- Jeffrey M.Lacker, Richmond
- Dennis P. Lockhart, Atlanta
- Sandra Bloom Raskin, Board of Governors
- Daniel K. tarullo, Board of Governors
- John C. Williams, San Fransisco
- Janet L. Yellen, Board of Governors.
Những thành viên thay thế:
- James Bullard, St. Louis
- Charles L. Evan, Chicago
- Esther George, Kanas City
- Eric S. Rosengren, Boston
- Christine M. Cumming, First Vice president, New york
Thành viên Ủy ban thay đổi vào cuộc họp thường niên đầu tiên của năm nay.
2013 2014 2015
Thành viên New York
Chicago
New York
Cleveland
New York
Chicago
Cục dự trữ liên bang Mỹ (FED) 16/02/2012
4
Trường đại học kinh tế tp HCM- NH8
Boston
St. Louis
Kansas City
Philadelphia
Dallas
Minneapolis
Richmond
Atlanta
San fransisco
Thành viên thay thế New York
+
_
Cleveland
Philadelphia
Dallas
Minneapolis
New York
+
_
Chicago
Richmond
Atlanta
San fransisco
New York
+
_
Chicago
Boston
St. Louis
Kansas City
Nhìn bề ngoài cơ cấu phức tạp của FED, hẳn không phải ai cũng đặt ra câu hỏi “Ai
thực sự nắm giữ FED?”. Theo Eustace Mullins, tác giả cuốn sách “ Bí mật của Cục Dự trữ
Liên bang Mỹ”- Secrets of Federal Reserve thì Ngân hàng New York là ngân hàng
“khống chế thực tế” của hệ thống Cuc Dự trữ Liên bang Mỹ.
Tuy nhiên Ban Thống đốc của FED vẫn chịu “sự thao túng” của các nhà tài phiệt.
Vấn đề là ở chỗ, bên cạnh sự tồn tại của Hội đồng Thống đốc còn có Hội đồng Tư vấn
liên bang. Hội đồng Tư vấn liên bang này do 12 đại diện của ngân hàng điạ phương thuộc
cục dự trữ Liên bang, có quyền bỏ phiếu như nhau khi thông qua các quyết định. Chính
hội đồng tư vấn liên bang này là người đề xuất các kiến nghị về chính sách tiền tệ cho Hội
đồng Thống đốc. Bề ngoài là công bằng, khách quan nhưng không ai đảm bảo rằng quyền
của Ngân hàng nhỏ ở Dallas có quyền ngang hàng với ngân hàng ở New York mà ngân
hàng ở Ngân hàng ở New York thì luôn là đại diện cho các nhà tài phiệt phố Wall. Vậy ai
thực sự nắm giữ FED? Câu trả lời là các nhà tài phiệt phố Wall- nhưng cụ thể họ là ai thì
chưa ai xác định rõ, họ vẫn đứng đằng sau tấm rèm chỉ đạo hoạt động của FED.
3. Nhiệm vụ của FED
1. Thực thi những chính sách tiền tệ quốc gia để duy trì mức việc làm, giá cả ổn định và
lãi suất hợp lí.
 Mua và bán trái phiếu chính phủ: Khi Cục dự trữ liên bang (FED) mua trái phiếu
chính phủ, tiền được đưa thêm vào lưu thông. Bởi có thêm tiền trong lưu thông, lãi suất
sẽ giảm xuống và chi tiêu, vay ngân hàng sẽ gia tăng. Khi FED bán ra trái phiếu chính
phủ, tác động sẽ diễn ra ngược lại, tiền rút bớt khỏi lưu thông, khan hiếm tiền sẽ làm tăng
lãi suất dẫn đến vay nợ từ ngân hàng khó khăn hơn.
Cục dự trữ liên bang Mỹ (FED) 16/02/2012

Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×