Tải bản đầy đủ

TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC:Vận dụng quan điểm toàn diện trong quá trình đổi mới giáo dục ở Việt Nam Hiện nay

`
TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
Bộ môn: Những nguyên lý cơ bản
của chủ nghĩa Mác Lê-Nin
TIỂU LUẬN MÔN HỌC
ĐỀ TÀI: Vận dụng quan điểm toàn diện trong quá trình
đổi mới giáo dục ở Việt Nam Hiện nay
Lớp Việt Nhật A K57
Sinh viên
Hoàng Đức Việt
MSSV
20122785
Hà Nội tháng 10/2014
1
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
2. Phạm vi nghiên cứu
3. Phương pháp nghiên cứu
4. Đóng góp đề tài

5. Kết cấu của đề tài
NỘI DUNG
CHƯƠNG I: LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUAN ĐIỂM TOÀN DIỆN
1. Cơ sở lí luận của quan điểm toàn diện là nguyên lí về mối liên hệ phổ
biến
1.1. Khái niệm về mối liên hệ phổ biến
1.2. Các tính chất của mối liên hệ
1.2.1. Tính khách quan của mối liên hệ
1.2.2. Tính phổ biến của mối liên hệ
1.2.3. Tính đa dạng và phong phú của mối liên hệ
1.3. Ý nghĩ phương pháp luận cảu nguyên lý về mối liên hệ phổ biến
2. Quan điểm toàn diện
2.1. Cơ sở lí luận của quan điểm toàn diện
2.2. Nội dung của quan điểm toàn diện
2.3. Vai trò của quan điểm toàn diện trong hoạt động của con người
CHƯƠNG II: QUAN ĐIỂM TOÀN DIỆN TRONG QUÁ TRÌNH ĐỔi
MỚI GIÁO DỤC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
1. Sự cần thiết phải đổi mới giáo dục
1.1 Thực trạng nền giáo dục ở Việt Nam hiện nay
1.2 Những yêu cầu cấp bách cần thiết phải đổi mới giáo dục
2. Ý kiến hướng đi và giải pháp cho đổi mới giáo dục ở Việt Nam
2.1 Định hướng đổi mới
2.2 Nhiệm vụ, giải pháp và tổ chức thực hiện
Tài liệu tham khảo
2
MỞ ĐẦU
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Ngày nay, khi Đảng và nhà nước ta đang thực hiện công cuộc đổi mới
toàn diện đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa , phát triển nền kinh
tế thị trường định hướng XHCN, mở cửa hội nhập quốc tế, trong bối cảnh có
nhiều cơ hội và thách thức lớn. Thực tiễn đó đặt ra nhiều vấn đề đổi mới đối
với sự lãnh đạo của Đảng, trong đó vấn đề quan trọng là đổi mới căn bản toàn
diện giáo dục và đào tạo nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển nền kinh tế thị
trường và hội nhập quốc tế.
Để thực hiện được sự đổi mới căn bản và toàn diện về giáo dục và đào
tạo thì Đảng ta phải có phương hướng, chính sách, quan điểm phù hợp và phải
đứng trên quan điển toàn diện để đổi mới.
Quan điểm toàn diện mà cơ sở lý luận của nó là nguyên lý về mối liên hệ
phổ biến là một trong những nội dung quan trọng của phép biện chứng duy vật
Mác xít, là cẩm nang giúp chúng ta tránh được những đánh giá phiến diện, sai


lệch giản đơn về sự vật, hiện tượng. Nguyên lý này chỉ rõ tất cả các sự vật, hiện
tượng đều nằm trong mối liên hệ. Vì vậy nguyên lý về mối liên hệ phổ biến của
phép biện chứng duy vật có vai trò lớn trong chỉ đạo vấn đề đổi mới giáo dục
và đào tạo.
Nhằm có được nhận thức đúng đắn hơn về định hướng của Đảng và Nhà
nước trong nhiệm vụ đổi mới giáo dục ở Việt Nam, tôi đã lựa chọn đề tài “Vận
dụng quan điểm toàn diện trong quá trình đổi mới giáo dục ở Việt Nam
Hiện nay”.
2. PHẠM VI NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI
Đề tài tập trung nghiên cứu sự vận dụng quan điểm toàn diện của Đảng
ta về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo đáp ứng yêu cầu công
nghiệp hóa, hiện đại hóa , phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN
và hội nhập quốc tế.
3
3. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đề tài được nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa duy vật
biện chứng, đặc biệt là quan điểm toàn diện với cơ sở lý luận là về mối liên hệ
phổ biến của phép biện chứng duy vật của các nhà kinh điển chủ nghĩa Mác –
Lênin, quan điểm của Đảng ta để vận dụng trong đổi mới căn bản, toàn diện
giáo dục và đào tạo.
4. ĐÓNG GÓP ĐỀ TÀI
Về lý luận: Bài luận là sự khái quát về quan điểm toàn diện và sự vận
dụng của Đảng ta trong quá trình đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào
tạo đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa , phát triển nền kinh tế thị
trường định hướng XHCN và hội nhập quốc tế.
Về thực tiễn: Bài luận có thể trở thành tài liệu tham khảo cho những
người học tập, nghiên cứu cho nội dung liên quan.
5. KẾT CẤU CỦA ĐỀ TÀI
Đề tài nghiên cứu ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu
tham khảo, đề tài được kết cấu với 2 chương và 4 tiết
Chương 1: Lý luận chung về quan điểm toàn diện
1.1. Cơ sở lí luận của quan điểm toàn diện là nguyên lí về mối liên hệ
phổ biến
1.2. Quan điểm toàn diện
Chương 2: Quan điểm toàn diện trong quá trình đổi mới giáo dục ở Việt
Nam hiện nay
2.1. Sự cần thiết phải đổi mới giáo dục
2.2. Ý kiến hướng đi và giải pháp cho đổi mới giáo dục ở Việt Nam
4
NỘI DUNG
CHƯƠNG I: LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUAN ĐIỂM TOÀN DIỆN
1. Cơ sở lí luận của quan điểm toàn diện là nguyên lí về mối liên hệ phổ
biến
1.1. Khái niệm về mối liên hệ phổ biến
Theo quan điểm siêu hình, các sự vật hiện tượng tồn tại một cách tách
rời nhau, cái này bên cạnh cái kia, giữa chúng không có sự phụ thuộc, không
có sự ràng buộc lẫn nhau, những mối liên hệ có chăng chỉ là những liên hệ
hời hợt, bề ngoài mang tính ngẫu nhiên. Một số người theo quan điểm siêu
hình cũng thừa nhận sự liên hệ và tính đa dạng của nó nhưng laị phủ nhận
khả năng chuyển hoá lẫn nhau giữa các hình thức liên hệ khác nhau.
Ngược lại, quan điểm biện chứng cho rằng thế giới tồn tại như một
chỉnh thể thống nhất. Các sự vật hiện tượng và các quá trình cấu thành thế
giới đó vừa tách biệt nhau, vừa có sự liên hệ qua lại, thâm nhập và chuyển
hoá lẫn nhau.
Nếu cắt nghĩa từng chữ, theo từ điền Tiếng Việt, thì “mối” là “ đoạn đầu
của sợi dây, sợi chỉ dùng để buộc thắt lại với nhau; chổ nối , chổ thắt, chổ từ đó
có thể quan hệ với một tổ chức, cơ sở liên lạc”. Còn “liên hệ” là chỉ sự vật, sự
việc có quan hệ làm cho ít nhiều tác động đến nhau, dựa trên những mối quan
hệ nhất định”. Như vậy, mối liên hệ có thể được hiểu theo cách là sự quan hệ
qua lại và tác động lẫn nhau giữa các sự vật, hiện tượng, quá trình trong tự
nhiên, xã hội và tư duy theo một cách thức, con đường của nó.
Tóm lại, theo chủ nghĩa duy vật biện chứng thì mối liên hệ là phạm trù
triết học dùng để chỉ sự qui định, sự tác động qua lại, sự chuyển hoá lẫn nhau
giữa các sự vật, của một hiện tượng trong thế giới. Theo quan điểm này, các
sự vật hiện tượng trên thế giới dù có đa dạng, khác nhau như thế nào đi
chăng nữa thì chúng cũng chỉ là những dạng tồn tại khác nhau của một thế
giới duy nhất là thế giới vật chất. Ngay cả ý thức, tư tưởng của con người
vốn là những cái phi vật chất cũng chỉ là thuộc tính của một dạng vật chất có
5
tổ chức cao nhất là bộ óc con người, nội dung của chúng cũng chỉ là kết quả
phản ánh của các quá trình vật chất khách quan.
1.2. Các tính chất của mối liên hệ
Theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng, nguyên lý về mối
liên hệ phổ biến có ba tính chất cơ bản: Tính khách quan, tính phổ biến và tính
đa dạng phong phú.
1.2.1. Tính khách quan của mối liên hệ
Mọi mối liên hệ của các sự vật hiện tượng là khách quan, là vốn có của
mọi sự vật hiện tượng. Ngay cả những vật vô tri vô giác cũng đang ngày hàng
ngày, hàng giờ chịu sự tác động của các sự vật hiện tượng khác nhau (như ánh
sáng, nhiệt độ, độ ẩm…) tự nhiên, dù muốn hay không, cũng luôn luôn bị tác
động bởi các sự vật hiện tượng khác. Như vậy, theo quan điểm biện chứng duy
vật, các mối liên hệ của các sự vật, hiện tượng của thế giới là có tính khách
quan. Do đó, sự quy định lẫn nhau, tác động lẫn nhau và chuyển hóa lẫn nhau
của các sự vật, hiện tượng (hoặc trong bản thân chúng) là cái vốn có của nó,
tồn tại độc lập không phụ thuộc vào ý chí của con người, con người chỉ có thể
nhận thức và vận dụng các mối liên hệ đó trong hoạt động thực tiễn của mình.
1.2.2. Tính phổ biến của mối liên hệ
Tính phổ biến của mối liên hệ thể hiện:
- Thứ nhất, bất cứ sự vật, hiện tượng nào cũng liên hệ với sự vật hiện tượng
khác, không có sự vật hiện tượng nào nằm ngoài mối liên hệ. Trong thời đại
ngày nàykhông có một quốc gia nào không có quan hệ, liên hệ với các quốc
gia khác về mọi mặt của đời sống xã hội và ngay cả Việt Nam ta khi tham gia
tích cực vào các tổ chức như ASEAN, hay sắp tưói đây là WTO cũng không
ngoài mục đích là quan hệ, liên hệ, giao lưu với nhiều nước trên thế giới.
- Thứ hai, mối liên hệ biểu hiện dưới những hình thức riêng biệt cụ thể tuỳ theo
điều kiện nhất định. Song, dù dưới hình thức nào chúng cũng chỉ là biểu hiện
của mối liên hệ phổ biến nhất, chung nhất.
1.2.3. Tính đa dạng và phong phú của mối liên hệ
6
Quan điểm duy vật biện chứng không chỉ khẳng định tính phổ biến, tính
khách quan của sự liên hệ , mà còn chỉ ra tính đa dạng của nó. Các sự vật, hiện
tượng hay quá trình khác nhau đều có những mối liên hệ cụ thể khác nhau, giữ
vai trò khác nhau đối với sự tồn tại và phát triển của nó. Mặt khác, cùng một
mối liên hệ nhất định của sự vật nhưng trong những điều kiện cụ thể khác
nhau, ở những giai đoạn khác nhau trong quá trình vận động, phát triển của sự
vật thì cũng có tính chất và vai trò khác nhau. Do đó, không thể đồng nhất tính
chất, vai trò cụ thể của các mối liên hệ khác nhau đối với mỗi sự vật nhất định,
trong những điều kiện khác nhau… Có mối liên hệ bên ngoài, tức là sự liên hệ
của các sự vật, hiên tượng với nhau. Có mối lên hệ bên trong, tức là sự liên hệ,
tác động qua lại lẫn nhau giữa các mặt, các yếu tố, các bộ phận, các quá trình
bên trong sự vật, cấu thành sự vật. Có những mối liên hệ chung của thế giới, lại
có những mối liên hệ riêng biệt trong từng lĩnh vực, từng sự vật, từng hiên
tượng cụ thể. Có mối liên hệ trực tiếp giữa hai hay nhiều sự vật, hiện tượng; lại
có những mối liên hệ gián tiếp, trong đó các sự vật hiện tượng liên hệ, tác động
qua lại lẫn nhau phải thông qua một hay nhiều khâu trung gian. Có mối liên hệ
tất nhiên lại có mối liên hệ ngẫu nhiên. Có mối liên hệ cơ bản, thuộc về bản
chất của sự vật, đóng vai trò quyết định sự tồn tại và phát triển của sự vật; lại
có mối liên hệ không cơ bản, chỉ đóng vai trò hỗ trợ, bổ sung cho sự tồn tại và
phát triển của nó. Trong từng giai đoạn phát triển của sự vật có mối liên hệ chủ
yếu, quyết định sự tồn tại và phát triển của sự vật trong giai đoạn đó, lại có mối
liên hệ thứ yếu. Các sự vật, hiện tượng trải qua giai đoạn phát triển khác nhau.
Chính sự liên hệ tác động qua lại của các giai đoạn kế tiếp nhau ấy quyết định
tính liên tục trong quá trình vận động, biến đổi, phát triển của chúng, tuỳ theo
phương hướng của sự tác động mà có mối liên hệ thuận chiều, ngược chiều,
mối kiên hệ đơn hoặc mối liên hệ kép…
Như vậy, sự liên hệ tác động qua lại của các sự vật, hiện tượng trên thế
giới không những là vô cùng vô tận mà còn rất phong phú, đa dạng và phức
tạp. Đặc biệt trong lĩnh vực đời sống xã hội, tính phức tạp của sự liên hệ được
nhân lên do sự đan xen, chồng chéo, chằng chịt của vô vàng các hoạt động có
7
mục đích, có ý thức của con người. Chính vì vậy, mà quá trình nhận thức và
phân loại đúng có mối liên hệ trong xã hội trở nên khó khăn hơn nhiều so với
trong giới tự nhiên.
1.3. Ý nghĩ phương pháp luận cảu nguyên lý về mối liên hệ phổ biến
Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến là một trong những nội dung quan
trọng của phép biện chứng duy vật. Đồng thời nó cũng là cơ sở lý luận của
quan điểm toàn diện, quan điểm lịch sử - cụ thể là những quan điểm mang tính
phương pháp luận khoa học trong nhận thức và thực tiễn. Từ việc nghiên cứu
về mối liên hệ phổ biến của các sự vật, hiện tượng, nguyên lý về mối liên hệ
phổ biến có ý nghĩa như sau:
Vì bất cứ sự vật, hiện tượng nào trong thế giới đều tồn tại trong mối
liên hệ với sự vật, hiện tượng khác và mối liên hệ rất đa dạng và phức tạp, do
đó, khi nhận thức về sự vật, hiện tượng, chúng ta phải có quan điểm toàn
diện, để đánh giá đúng về sự vật, hiện tượng, tránh quan điểm phiến diện chỉ
xét sự vật, hiện tượng ở một mối liên hệ đã vội vàng kết luận về bản chất hay
tính quy luật của chúng.
2. Quan điểm toàn diện
2.1. Cơ sở lí luận của quan điểm toàn diện
Từ nghiên cứu quan điểm duy vật biện chứng về mối liên hệ phổ biến và
về sự phát triển rút ra phương pháp luận khoa học để nhận thức và cải tạo hiện
thực. Đó chính là quan điểm toàn diện.
2.2. Nội dung của quan điểm toàn diện
Với tư cách là một nguyên tắc phương pháp luận trong việc nhận thức
các sự vật hiện tượng, quan điểm toàn diện đòi hỏi để có được nhận thức
đúng đắn về sự vật hiện tượng. Một mặt, chúng ta phải xem xét nó trong mối
liên hệ qua lại giữa các bộ phận, các yếu tố, các thuộc tính khác nhau của
chính sự vật, hiện tượng đó, mặt khác chúng ta phải xem xét trong mối liên
hệ giữa nó với với các sự vật khác (kể cả trực tiếp và gián tiếp). đề cập đến
hai nội dung này, V.I. Lênin viết "muốn thực sự hiểu được sự vật, cần phải
8
nhìn bao quát và nghiên cứu tất cả các mặt, các mối liên hệ trực tiếp và gián
tiếp của sự vật đó".
Hơn thế nữa, quan điểm toàn diện đòi hỏi, để nhận thức được sự vật,
cần phải xem xét nó trong mối liên hệ với nhu cầu thực tiễn của con người.
ứng với mỗi con người, mỗi thời đại và trong một hoàn cảnh lịch sử nhất
định, con người bao giờ cũng chỉ phản ánh được một số lượng hữu hạn
những mối liên hệ. Bởi vậy, tri thức đạt được về sự vật cũng chỉ là tương
đối, không đầy đủ không trọn vẹn. Có ý thức được điều này chúng ta mới
tránh được việc tuyệt đối hoá những tri thức đã có về sự vật và tránh xem đó
là những chân lý bất biến, tuyệt đối không thể bổ sung, không thể phát triển.
Để nhận thức được sự vật , cần phải nghiên cứu tất cả các mối liên hệ, "cần
thiết phải xem xét tất cả mọi mặt để đè phòng cho chúng ta khỏi phạm sai
lầm và sự cứng nhắc."
Quan điểm toàn diện đối lập với quan điểm phiến diện không chỉ ở
chỗ nó chú ý đến nhiều mặt, nhiều mối liên hệ. Việc chú ý tới nhiều mặt,
nhiều mối liên hệ vẫn có thể là phiến diện nếu chúng ta đánh giá ngang
nhaunhững thuộc tính, những quy định khác nhau của của sự vật được thể
hiện trong những mối liên hệ khác nhau đó. Quan điểm toàn diện chân thực
đòi hỏi chúng ta phải đi từ tri thức về nhiều mặt, nhiều mối liên hệ của sự
vật đến chỗ khái quát để rút ra cái bản chất chi phối sự tồn tại và phát triển
của sự vật hay hiện tượng đó.
Như vậy, quan điểm toàn diện cũng không đồng nhất với cách xem xét
dàn trải, liệt kê những tính quy định khác nhau của sự vật, hiện tượng. Nó
đòi hỏi phải làm nổi bật cái cơ bản, cái quan trọng nhất của sự vật hiện
tượng đó.
Có thể kết luận, quá trình hình thành quan điểm toàn diện đúng đắn
với tư cách là nguyên tắc phương pháp luận để nhận thức sự vật sẽ phải trải
qua các giai đoạn cơ bản là đi từ ý niệm ban đầu về cái toàn thể để để nhận
thức một mặt, một mối liên hệ nào đó của sự vật rồi đến nhận thức nhiều
9
mặt, nhiều mối liên hệ của sự vật đó và cuối cùng, khái quát những tri thức
phong phú đó để rút ra tri thức về bản chất của sự vật.
2.3. Vai trò của quan điểm toàn diện trong hoạt động của con người
Nắm chắc quan điểm toàn diện xem xét sự vật hiện tượng từ nhiều khía
cạnh, từ mối liên hệ của nó với sự vật hiện tượng từ nhiều khía cạnh từ mối
liên hệ với sự vật hiện tượng khác sẽ giúp con người có nhận thức sâu sắc, toàn
diện về sự vật và hiện tượng đó tránh được quan điểm phiến diện về sự vật và
hiện tượng chúng ta nghiên cứu. Từ đó có thể kết luận về bản chất qui luật
chung của chúng để đề ra những biện pháp kế hoạch có phương pháp tác động
phù hợp nhằm đem lại hiệu quả cao nhất cho hoạt động của bản thân. Tuy
nhiên, trong nhận thức và hành động chúng ta cần lưu ý tới sự chuyển hoá lẫn
nhau giữa các mối liên hệ trong điều kiện xác định.
10
CHƯƠNG II: QUAN ĐIỂM TOÀN DIỆN TRONG
QUÁ TRÌNH ĐỔI MỚI GIÁO DỤC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
1. Sự cần thiết phải đổi mới giáo dục
Trong quan niệm về giáo dục của các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác, giáo
dục không chỉ được coi là phương thức làm giàu tri thức cho con người, phục
vụ cho xã hội, mà quan trọng hơn, giáo dục là cách thức làm cho con người
được phát triển toàn diện các năng lực của mình. Điều này đã được Việt Nam
quan tâm từ lâu với quan niệm nền tảng coi con người vừa là mục tiêu, vừa là
động lực của sự phát triển kinh tế - xã hội. Song, để đạt được mục tiêu đó, Việt
Nam cần có cải cách trong giáo dục nhiều hơn nữa.
1.1 Thực trạng nền giáo dục ở Việt Nam hiện nay
Căn cứ theo “Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 4/11/2013 Hội nghị Trung
ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo”, trong
những năm qua, lĩnh vực giáo dục và đào tạo nước ta đã đạt được những thành
tựu quan trọng, góp phần to lớn vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, cụ
thể là:
a/ Đã xây dựng được hệ thống giáo dục và đào tạo tương đối hoàn chỉnh
từ mầm non đến đại học.
b/ Cơ sở vật chất, thiết bị giáo dục, đào tạo được cải thiện rõ rệt và từng
bước hiện đại hóa.
c/ Số lượng học sinh, sinh viên tăng nhanh, nhất là ở giáo dục đại học và
giáo dục nghề nghiệp.
d/ Chất lượng giáo dục và đào tạo có tiến bộ. Đội ngũ nhà giáo và cán bộ
quản lý giáo dục phát triển cả về số lượng và chất lượng, với cơ cấu ngày càng
hợp lý.
f/ Chi ngân sách cho giáo dục và đào tạo đạt mức 20% tổng chi ngân sách
nhà nước. Xã hội hóa giáo dục được đẩy mạnh; hệ thống giáo dục và đào tạo
ngoài công lập góp phần đáng kể vào phát triển giáo dục và đào tạo chung của
toàn xã hội.
g/ Công tác quản lý giáo dục và đào tạo có bước chuyển biến nhất định.
Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đạt được, giáo dục - đào tạo còn
tồn tại những khó khăn, yếu kém sau:
11
a/ Giáo dục-đào tạo còn nhiều hạn chế, yếu kém, bất cập chậm được khắc
phục; chất lượng giáo dục còn thấp, quan tâm đến phát triển số lượng nhiều hơn
chất lượng; so với yêu cầu phát triển của đất nước còn nhiều nội dung chưa đạt;
chưa thực sự là quốc sách hàng đầu.
b/ Nội dung, chương trình, phương pháp giáo dục còn lạc hậu, chậm đổi
mới, chậm hiện đại hóa, chưa gắn chặt với đời sống xã hội và lao động nghề
nghiệp; chưa phát huy tính sáng tạo, năng lực thực hành của học sinh, sinh viên.
c/ Chất lượng giáo dục có mặt bị buông lỏng, giảm sút, nhất là giáo dục
đạo đức, lối sống; giáo dục mới quan tâm nhiều đến dạy “chữ”, còn dạy “người”
và dạy “nghề” vẫn yếu kém; yếu về giáo dục tư tưởng, đạo đức, lối sống, lịch sử
dân tộc, tư duy sáng tạo, kỹ năng thực hành, kỹ năng sống…
d/ Hệ thống giáo dục quốc dân không hợp lý, thiếu đồng bộ, chưa liên
thông, mất cân đối.
e/ Quản lý nhà nước trong giáo dục còn nhiều yếu kém, bất cập, chậm đổi
mới, là nguyên nhân chủ yếu của nhiều nguyên nhân khác; cơ chế quản lý giáo
dục chậm đổi mới, còn nhiều lúng túng, nhận thức rất khác nhau, nhất là trong
điều kiện kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế; chưa theo kịp sự đổi mới trên
các lĩnh vực khác của đất nước.
f/ Đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục và giáo viên còn nhiều bất cập, đạo
đức và năng lực của một bộ phận còn thấp.
g/ Chưa nhận thức đầy đủ, đúng đắn về công tác xã hội hóa giáo dục; định
hướng liên kết với nước ngoài trong phát triển giáo dục còn nhiều lúng túng,
chưa xác định rõ phương châm.
h/ Tư duy giáo dục chậm đổi mới, chưa theo kịp yêu cầu đổi mới-phát
triển đất nước trong bối cảnh phát triển kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế;
khoa học giáo dục chưa được quan tâm đúng mức, chất lượng nghiên cứu khoa
học giáo dục còn nhiều bất cập.
i/ Các cơ quan chức năng chậm cụ thể hóa những quan điểm của Đảng
thành cơ chế, chính sách của Nhà nước; thiếu nhạy bén trong công tác tham
mưu, thiếu những quyết sách đồng bộ và hợp lý ở tầm vĩ mô (có khi chính sách
được ban hành rồi nhưng chỉ đạo tổ chức thực hiện không đến nơi đến chốn,
kém hiệu quả); một số chính sách về giáo dục còn chủ quan, duy ý chí, xa thực
tế, thiếu sự đồng thuận của xã hội.
12
Những hạn chế, yếu kém của giáo dục và đào tạo có nguyên nhân khách
quan, nhưng nguyên nhân chủ quan là: Tư duy về giáo dục chậm đổi mới, không
theo kịp sự phát triển của đất nước trong bối cảnh kinh tế thị trường định hướng
xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế. Chính sách giáo dục, đào tạo chưa tạo
được động lực, huy động sự tham gia rộng rãi của toàn xã hội. Không có quy
hoạch phát triển nguồn nhân lực trong quy hoạch và kế hoạch phát triển của đất
nước, các ngành và địa phương. Quản lý giáo dục, đào tạo còn nặng về hành
chính, chưa phát huy tính tự chủ và tự chịu trách nhiệm của các cơ sở giáo dục
và đào tạo, chưa tạo được động lực đổi mới từ bên trong của ngành giáo dục.
Các chủ trương về đổi mới và phát triển giáo dục, đào tạo chậm được cụ thể hóa
và triển khai có hệ thống, đồng bộ. Nhiều cấp ủy đảng, chính quyền và cơ quan
chức năng chưa nhận thức sâu sắc và thực hiện đầy đủ quan điểm “giáo dục và
đào tạo là sự nghiệp của toàn Đảng, của Nhà nước và của toàn dân”, “phát triển
giáo dục là quốc sách hàng đầu” và “đầu tư cho giáo dục – đào tạo là đầu tư phát
triển”.
Như vậy, tuy giáo dục đại học Việt Nam đã có những biến chuyển, song
với tốc độ còn quá chậm so với tiến trình đổi mới của đất nước, không theo kịp
tốc độ phát triển của kinh tế xã hội, chưa đáp ứng được nhu cầu học tập của
nhân dân. Cả ở khía cạnh số lượng, chất lượng, đội ngũ giáo viên, cơ sở vật
chất, giáo trình, chương trình và công tác quản lý đều còn quá nhiều bất cập.Vì
thế, yêu cầu đổi mới toàn diện về giáo dục đại học Việt Nam là hết sức cần
thiết.
1.2 Những yêu cầu cấp bách cần thiết phải đổi mới giáo dục
Quan sát trên các diễn đàn, dưới nhiều góc độ khác nhau, khi nói về hệ
thống giáo dục đại học Việt nam, ý kiến của hầu hết các nhà giáo dục, các nhà
quản lý, các chuyên gia và các nhà doanh nghiệp đều thống nhất ở điểm: Giáo
dục đại học Việt Nam cần thiết phải đổi mới.
Nước ta đang hướng tới đi lên CNH, HĐH trong bối cảnh thế giới có
nhiều thay đổi lớn với các hướng chủ yếu như: hợp tác và phát triển ngày càng
trở thành xu thế chính; phát triển công nghệ chuyển sang nền kinh tế tri thức;
toàn cầu hóa, hội nhập kinh tế quốc tế phát triển nhanh chóng. Quy mô và nội
13
dung thực hiện CNH, HĐH rất rộng, bao gồm các ngành, các lĩnh vực kinh tế,
đời sống xã hội ở tầm vĩ mô cũng như vi mô. Địa bàn thực hiện CNH, HĐH rất
rộng và phức tạp với nhiều trình độ phát triển khác nhau; được tiến hành trong
nền kinh tế thị trường. Trong đó yếu tố có tính quyết định là trí tuệ và năng lực
của con người, Đảng ta đã chỉ ra giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ là
động lực, là nền tảng để thực hiện CNH, HĐH đất nước, ngành giáo dục - đào
tạo có nhiệm vụ rất lớn là phải mạnh dạng tìm ra những cách đi hoàn toàn mới
để tạo ra được nguồn nhân lực cho sự nghiệp CNH,HĐH.
Tuy nhiên, như đã chỉ ra ở phần trước về Thực trạng giáo dục ở Việt
Nam hiện nay, giáo dục Việt Nam vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu cần thiết
của đất nước cả về mặt số lượng và chất lượng.
Về số lượng, theo các số liệu thống kê, tỷ lệ thanh niên trong độ tuổi 20-24
đang được đào tạo trong các trường đại học ở Việt Nam chỉ chiếm 10%, trong khi đó
tỷ lệ này ở Thái Lan là 41%, Hàn Quốc là 89% và ở Trung Quốc là 15%. Việt Nam là
quốc gia có tỉ lệ thi trượt đại học nhiều nhất thế giới, chỉ có 1/10 người ở độ tuổi học
đại học được tuyển sinh. Mới đây nhất, năm 2009, người ta công bố 100 trường đại
học nổi tiếng trên thế giới, Việt nam không hề có tên trong danh sách đó, trong khi
Nhật bản có đến 4 trường trong các vị trí khác nhau, Singapo, Hàn quốc, Trung Quốc
đều là những quốc gia góp mặt ở những vị trí đáng tự hào. Cả nước có khoảng hơn
376 trường đại học, với khoảng 6600 giáo sư và phó giáo sư. Tuy nhiên nếu đánh giá
đúng theo tiêu chuẩn quốc tế, Việt nam chỉ có khoảng từ 15 đến 20% có trình độ
tương ứng với chức danh đó. Còn lại không chỉ thấp mà hơn dưới 1/3 rất thấp.
Về chất lượng, mỗi năm có khoảng 20000 sinh viên ra trường và chỉ 50%
được đáp ứng việc làm, trong đó chỉ 30% đúng nghành nghề. Hơn nữa, khi xem xét
chất lượng đào tạo theo 4 tiêu chí chất lượng của sinh viên tốt nghiệp: kiến thức tổng
quát (bao gồm kiến thức về xã hội, thông thạo kỹ thuật vi tính, tiếng Anh…), kiến
thức chuyên môn, kĩ năng phát hiện, đặt và giải quyết vấn đề và tiêu chí nhân cách
chúng ta thấy chất lượng đào tạo của các đại học nước ta còn quá hạn chế. Trong
nhiều cuộc hội thảo, trao đổi giữa các cơ sở đào tạo đại học với các nhà doanh
nghiệp, lãnh đạo các tổ chức, cơ quan nghiên cứu khoa học, chúng ta đều nhận được
các ý kiến về những cái yếu của sinh viên Việt Nam là: yếu về chuyên môn, nghiệp
vụ, thiếu kỹ năng giao tiếp công chúng và làm việc nhóm, thiếu khả năng vận dụng
14
giải quyết vấn đề, yếu về kĩ thuật vi tính và tiếng Anh… Nhiều nhà doanh nghiệp cho
rằng thực tế chỉ khoảng 10-30% số sinh viên tốt nghiệp là có thể đáp ứng được những
yêu cầu cơ bản cho lao động của doanh nghiệp, còn đối với đa số trường hợp khi
tuyển dụng, doanh nghiệp phải chấp nhận việc đào tạo lại.
Nhìn chung giáo dục Việt Nam chưa thực sự sát với thực tế, sinh viên
sau khi tốt nghiệp các trường đại học chưa hẳn đã có việc làm, dường như GD
chưa đáp úng được những đòi hỏi của xã hội. Sinh viên Việt Nam sau khi tốt
nghiệp các trường đại học ra thường phải học thêm một số chương trình mà
bên tuyển dụng yêu cầu, vì họ cho rằng cái mà sinh viên học được ở trường lớp
chỉ đa phần là lý thuyết suông, chưa thể áp dụng vào thực tế.Vậy nên rõ ràng để
giáo dục ở Việt Nam cất cánh, phát triển thuận lợi, nhanh chóng hội nhập với giáo
dụctiên tiến trên thế giới, chúng ta cần đổi mới một cách sâu rộng giáo dục nước nhà
và trước hết cũng cần có một cái nhìn mới đối với triết lý giáo dục.
15
2. Ý kiến hướng đi và giải pháp cho đổi mới giáo dục ở Việt Nam
2.1 Định hướng đổi mới
* Quan điểm chỉ đạo
- Giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, là sự nghiệp của Đảng,
Nhà nước và của toàn dân. Đầu tư cho giáo dục là đầu tư phát triển, được ưu
tiên đi trước trong các chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội.
- Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo là đổi mới những
vấn đề lớn, cốt lõi, cấp thiết, từ quan điểm, tư tưởng chỉ đạo đến mục tiêu, nội
dung, phương pháp, cơ chế, chính sách, điều kiện bảo đảm thực hiện; đổi mới
từ sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước đến hoạt động quản trị của
các cơ sở giáo dục - đào tạo và việc tham gia của gia đình, cộng đồng, xã hội
và bản thân người học; đổi mới ở tất cả các bậc học, ngành học. Trong quá
trình đổi mới, cần kế thừa, phát huy những thành tựu, phát triển những nhân tố
mới, tiếp thu có chọn lọc những kinh nghiệm của thế giới; kiên quyết chấn
chỉnh những nhận thức, việc làm lệch lạc. Đổi mới phải bảo đảm tính hệ thống,
tầm nhìn dài hạn, phù hợp với từng loại đối tượng và cấp học; các giải pháp
phải đồng bộ, khả thi, có trọng tâm, trọng điểm, lộ trình, bước đi phù hợp.
- Phát triển giáo dục và đào tạo là nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực,
bồi dưỡng nhân tài. Chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến
thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học. Học đi đôi với
hành; lý luận gắn với thực tiễn; giáo dục nhà trường kết hợp với giáo dục gia
đình và giáo dục xã hội.
- Phát triển giáo dục và đào tạo phải gắn với nhu cầu phát triển kinh
tế - xã hội và bảo vệ Tổ quốc; với tiến bộ khoa học và công nghệ; phù hợp quy
luật khách quan. Chuyển phát triển giáo dục và đào tạo từ chủ yếu theo số
lượng sang chú trọng chất lượng và hiệu quả, đồng thời đáp ứng yêu cầu số
lượng.
- Đổi mới hệ thống giáo dục theo hướng mở, linh hoạt, liên thông
giữa các bậc học, trình độ và giữa các phương thức giáo dục, đào tạo. Chuẩn
hoá, hiện đại hoá giáo dục và đào tạo.
- Chủ động phát huy mặt tích cực, hạn chế mặt tiêu cực của cơ chế
thị trường, bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa trong phát triển giáo dục và
đào tạo. Phát triển hài hòa, hỗ trợ giữa giáo dục công lập và ngoài công lập,
16
giữa các vùng, miền. Ưu tiên đầu tư phát triển giáo dục và đào tạo đối với các
vùng đặc biệt khó khăn, vùng dân tộc thiểu số, biên giới, hải đảo, vùng sâu,
vùng xa và các đối tượng chính sách. Thực hiện dân chủ hóa, xã hội hóa giáo
dục và đào tạo.
- Chủ động, tích cực hội nhập quốc tế để phát triển giáo dục và đào
tạo, đồng thời giáo dục và đào tạo phải đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế để
phát triển đất nước.
* Mục tiêu tổng quát
Tạo chuyển biến căn bản, mạnh mẽ về chất lượng, hiệu quả giáo dục,
đào tạo; đáp ứng ngày càng tốt hơn công cuộc xây dựng, bảo vệ Tổ quốc và
nhu cầu học tập của nhân dân. Giáo dục con người Việt Nam phát triển toàn
diện và phát huy tốt nhất tiềm năng, khả năng sáng tạo của mỗi cá nhân; yêu
gia đình, yêu Tổ quốc, yêu đồng bào; sống tốt và làm việc hiệu quả.
Xây dựng nền giáo dục mở, thực học, thực nghiệp, dạy tốt, học tốt,
quản lý tốt; có cơ cấu và phương thức giáo dục hợp lý, gắn với xây dựng xã hội
học tập; bảo đảm các điều kiện nâng cao chất lượng; chuẩn hóa, hiện đại hoá,
dân chủ hóa, xã hội hóa và hội nhập quốc tế hệ thống giáo dục và đào tạo; giữ
vững định hướng xã hội chủ nghĩa và bản sắc dân tộc. Phấn đấu đến năm 2030,
nền giáo dục Việt Nam đạt trình độ tiên tiến trong khu vực.
* Mục tiêu cụ thể
- Đối với giáo dục mầm non, giúp trẻ phát triển thể chất, tình cảm,
hiểu biết, thẩm mỹ, hình thành các yếu tố đầu tiên của nhân cách, chuẩn bị tốt
cho trẻ bước vào lớp 1. Hoàn thành phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi
vào năm 2015, nâng cao chất lượng phổ cập trong những năm tiếp theo và
miễn học phí trước năm 2020. Từng bước chuẩn hóa hệ thống các trường mầm
non. Phát triển giáo dục mầm non dưới 5 tuổi có chất lượng phù hợp với điều
kiện của từng địa phương và cơ sở giáo dục.
- Đối với giáo dục phổ thông, tập trung phát triển trí tuệ, thể chất,
hình thành phẩm chất, năng lực công dân, phát hiện và bồi dưỡng năng khiếu,
định hướng nghề nghiệp cho học sinh. Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện,
chú trọng giáo dục lý tưởng, truyền thống, đạo đức, lối sống, ngoại ngữ, tin
học, năng lực và kỹ năng thực hành, vận dụng kiến thức vào thực tiễn. Phát
17
triển khả năng sáng tạo, tự học, khuyến khích học tập suốt đời. Hoàn thành
việc xây dựng chương trình giáo dục phổ thông giai đoạn sau năm 2015. Bảo
đảm cho học sinh có trình độ trung học cơ sở (hết lớp 9) có tri thức phổ thông
nền tảng, đáp ứng yêu cầu phân luồng mạnh sau trung học cơ sở; trung học phổ
thông phải tiếp cận nghề nghiệp và chuẩn bị cho giai đoạn học sau phổ thông
có chất lượng. Nâng cao chất lượng phổ cập giáo dục, thực hiện giáo dục bắt
buộc 9 năm từ sau năm 2020.
Phấn đấu đến năm 2020, có 80% thanh niên trong độ tuổi đạt trình
độ giáo dục trung học phổ thông và tương đương.
- Đối với giáo dục nghề nghiệp , tập trung đào tạo nhân lực có kiến
thức, kỹ năng và trách nhiệm nghề nghiệp. Hình thành hệ thống giáo dục nghề
nghiệp với nhiều phương thức và trình độ đào tạo kỹ năng nghề nghiệp theo
hướng ứng dụng, thực hành, bảo đảm đáp ứng nhu cầu nhân lực kỹ thuật công
nghệ của thị trường lao động trong nước và quốc tế.
- Đối với giáo dục đại học , tập trung đào tạo nhân lực trình độ cao,
bồi dưỡng nhân tài, phát triển phẩm chất và năng lực tự học, tự làm giàu tri
thức, sáng tạo của người học. Hoàn thiện mạng lưới các cơ sở giáo dục đại học,
cơ cấu ngành nghề và trình độ đào tạo phù hợp với quy hoạch phát triển nhân
lực quốc gia; trong đó, có một số trường và ngành đào tạo ngang tầm khu vực
và quốc tế. Đa dạng hóa các cơ sở đào tạo phù hợp với nhu cầu phát triển công
nghệ và các lĩnh vực, ngành nghề; yêu cầu xây dựng, bảo vệ Tổ quốc và hội
nhập quốc tế.
- Đối với giáo dục thường xuyên , bảo đảm cơ hội cho mọi người,
nhất là ở vùng nông thôn, vùng khó khăn, các đối tượng chính sách được học
tập nâng cao kiến thức, trình độ, kỹ năng chuyên môn nghiệp vụ và chất lượng
cuộc sống; tạo điều kiện thuận lợi để người lao động chuyển đổi nghề; bảo đảm
xóa mù chữ bền vững. Hoàn thiện mạng lưới cơ sở giáo dục thường xuyên và
các hình thức học tập, thực hành phong phú, linh hoạt, coi trọng tự học và giáo
dục từ xa.
- Đối với việc dạy tiếng Việt và truyền bá văn hóa dân tộc cho người
Việt Nam ở nước ngoài, có chương trình hỗ trợ tích cực việc giảng dạy tiếng
Việt và truyền bá văn hóa dân tộc cho cộng đồng người Việt Nam ở nước
18
ngoài, góp phần phát huy sức mạnh của văn hóa Việt Nam, gắn bó với quê
hương, đồng thời xây dựng tình đoàn kết, hữu nghị với nhân dân các nước.
2.2 Nhiệm vụ, giải pháp và tổ chức thực hiện
*Nhiệm vụ, giải pháp
1 - Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà
nước đối với đổi mới giáo dục và đào tạo
Quán triệt sâu sắc và cụ thể hóa các quan điểm, mục tiêu, nhiệm
vụ, giải pháp đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục và đào tạo trong hệ thống
chính trị, ngành giáo dục và đào tạo và toàn xã hội, tạo sự đồng thuận cao coi
giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu. Nâng cao nhận thức về vai trò quyết
định chất lượng giáo dục và đào tạo của đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý
giáo dục; người học là chủ thể trung tâm của quá trình giáo dục; gia đình có
trách nhiệm phối hợp với nhà trường và xã hội trong việc giáo dục nhân cách,
lối sống cho con em mình.
2- Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ và đồng bộ các yếu tố cơ bản của
giáo dục, đào tạo theo hướng coi trọng phát triển phẩm chất, năng lực của
người học
Đổi mới chương trình nhằm phát triển năng lực và phẩm chất
người học, hài hòa đức, trí, thể, mỹ; dạy người, dạy chữ và dạy nghề. Đổi mới
nội dung giáo dục theo hướng tinh giản, hiện đại, thiết thực, phù hợp với lứa
tuổi, trình độ và ngành nghề; tăng thực hành, vận dụng kiến thức vào thực tiễn.
Chú trọng giáo dục nhân cách, đạo đức, lối sống, tri thức pháp luật và ý thức
công dân. Tập trung vào những giá trị cơ bản của văn hóa, truyền thống và đạo
lý dân tộc, tinh hoa văn hóa nhân loại, giá trị cốt lõi và nhân văn của chủ nghĩa
Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Tăng cường giáo dục thể chất, kiến
thức quốc phòng, an ninh và hướng nghiệp. Dạy ngoại ngữ và tin học theo
hướng chuẩn hóa, thiết thực, bảo đảm năng lực sử dụng của người học. Quan
tâm dạy tiếng nói và chữ viết của các dân tộc thiểu số; dạy tiếng Việt và truyền
bá văn hóa dân tộc cho người Việt Nam ở nước ngoài.
3- Đổi mới căn bản hình thức và phương pháp thi, kiểm tra và
đánh giá kết quả giáo dục, đào tạo, bảo đảm trung thực, khách quan
Việc thi, kiểm tra và đánh giá kết quả giáo dục, đào tạo cần từng
bước theo các tiêu chí tiên tiến được xã hội và cộng đồng giáo dục thế giới tin
19
cậy và công nhận. Phối hợp sử dụng kết quả đánh giá trong quá trình học với
đánh giá cuối kỳ, cuối năm học; đánh giá của người dạy với tự đánh giá của
người học; đánh giá của nhà trường với đánh giá của gia đình và của xã hội.
4- Hoàn thiện hệ thống giáo dục quốc dân theo hướng hệ
thống giáo dục mở, học tập suốt đời và xây dựng xã hội học tập
Trước mắt, ổn định hệ thống giáo dục phổ thông như hiện nay.
Đẩy mạnh phân luồng sau trung học cơ sở; định hướng nghề nghiệp ở trung
học phổ thông. Tiếp tục nghiên cứu đổi mới hệ thống giáo dục phổ thông phù
hợp với điều kiện cụ thể của đất nước và xu thế phát triển giáo dục của thế
giới.
Đa dạng hóa các phương thức đào tạo. Thực hiện đào tạo theo tín
chỉ. Đẩy mạnh đào tạo, bồi dưỡng năng lực, kỹ năng nghề tại cơ sở sản xuất,
kinh doanh. Có cơ chế để tổ chức, cá nhân người sử dụng lao động tham gia
xây dựng, điều chỉnh, thực hiện chương trình đào tạo và đánh giá năng lực
người học.
5- Đổi mới căn bản công tác quản lý giáo dục, đào tạo, bảo
đảm dân chủ, thống nhất; tăng quyền tự chủ và trách nhiệm xã hội của
các cơ sở giáo dục, đào tạo; coi trọng quản lý chất lượng
Xác định rõ trách nhiệm của các cơ quan quản lý nhà nước về giáo
dục, đào tạo và trách nhiệm quản lý theo ngành, lãnh thổ của các bộ, ngành, địa
phương. Phân định công tác quản lý nhà nước với quản trị của cơ sở giáo dục
và đào tạo. Đẩy mạnh phân cấp, nâng cao trách nhiệm, tạo động lực và tính chủ
động, sáng tạo của các cơ sở giáo dục, đào tạo.
Tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước, nhất là về chương trình,
nội dung và chất lượng giáo dục và đào tạo đối với các cơ sở giáo dục, đào tạo
của nước ngoài tại Việt Nam. Phát huy vai trò của công nghệ thông tin và các
thành tựu khoa học - công nghệ hiện đại trong quản lý nhà nước về giáo dục,
đào tạo.
6- Phát triển đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý, đáp ứng yêu
cầu đổi mới giáo dục và đào tạo
Xây dựng quy hoạch, kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ nhà
giáo và cán bộ quản lý giáo dục gắn với nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội, bảo
đảm an ninh, quốc phòng và hội nhập quốc tế. Thực hiện chuẩn hóa đội ngũ
20
nhà giáo theo từng cấp học và trình độ đào tạo. Tiến tới tất cả các giáo viên tiểu
học, trung học cơ sở, giáo viên, giảng viên các cơ sở giáo dục nghề nghiệp phải
có trình độ từ đại học trở lên, có năng lực sư phạm. Giảng viên cao đẳng, đại
học có trình độ từ thạc sĩ trở lên và phải được đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ sư
phạm. Cán bộ quản lý giáo dục các cấp phải qua đào tạo về nghiệp vụ quản lý.
7- Đổi mới chính sách, cơ chế tài chính, huy động sự tham gia
đ•ng g•p của toàn xã hội; nâng cao hiệu quả đầu tư để phát triển giáo dục
và đào tạo
Nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong đầu tư phát triển giáo dục và
đào tạo, ngân sách nhà nước chi cho giáo dục và đào tạo tối thiểu ở mức 20%
tổng chi ngân sách; chú trọng nâng cao hiệu quả sử dụng vốn ngân sách. Từng
bước bảo đảm đủ kinh phí hoạt động chuyên môn cho các cơ sở giáo dục, đào
tạo công lập. Hoàn thiện chính sách học phí.
8- Nâng cao chất lượng, hiệu quả nghiên cứu và ứng dụng
khoa học, công nghệ, đặc biệt là khoa học giáo dục và khoa học quản lý
Quan tâm nghiên cứu khoa học giáo dục và khoa học quản lý, tập
trung đầu tư nâng cao năng lực, chất lượng, hiệu quả hoạt động của cơ quan
nghiên cứu khoa học giáo dục quốc gia. Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ
nghiên cứu và chuyên gia giáo dục. Triển khai chương trình nghiên cứu quốc
gia về khoa học giáo dục.
9- Chủ động hội nhập và nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế
trong giáo dục, đào tạo
Chủ động hội nhập quốc tế về giáo dục, đào tạo trên cơ sở giữ
vững độc lập, tự chủ, bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa, bảo tồn và phát
huy các giá trị văn hóa tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu có chọn lọc tinh hoa văn
hoá và thành tựu khoa học, công nghệ của nhân loại . Hoàn thiện cơ chế hợp
tác song phương và đa phương, thực hiện các cam kết quốc tế về giáo dục, đào
tạo.
*Tổ chức thực hiện:
Một là: Các cấp ủy, tổ chức đảng, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể
nhân dân tổ chức việc học tập, quán triệt tạo sự thống nhất về nhận thức và
hành động thực hiện Nghị quyết này. Lãnh đạo kiện toàn bộ máy tham mưu và
bộ máy quản lý giáo dục và đào tạo; thường xuyên kiểm tra việc thực hiện, đặc
21
biệt là kiểm tra công tác chính trị, tư tưởng và việc xây dựng nền nếp, kỷ
cương trong các trường học, phát hiện và giải quyết dứt điểm các biểu hiện tiêu
cực trong giáo dục và đào tạo.
Hai là: Đảng đoàn Quốc hội lãnh đạo việc sửa đổi, bổ sung, hoàn
thiện, ban hành mới hệ thống pháp luật về giáo dục và đào tạo, các luật, nghị
quyết của Quốc hội, tạo cơ sở pháp lý cho việc thực hiện Nghị quyết và giám
sát việc thực hiện.
Ba là: Ban cán sự đảng Chính phủ lãnh đạo việc sửa đổi, bổ sung và
ban hành mới các văn bản dưới luật; xây dựng kế hoạch hành động thực hiện
Nghị quyết. Thường xuyên theo dõi, kiểm tra, đánh giá tình hình thực hiện và
kịp thời điều chỉnh kế hoạch, giải pháp cụ thể phù hợp với yêu cầu thực tế, bảo
đảm thực hiện có hiệu quả Nghị quyết.
Thành lập Ủy ban quốc gia Đổi mới giáo dục và đào tạo do Thủ
tướng Chính phủ làm Chủ tịch Ủy ban.
Bốn là: Ban Tuyên giáo Trung ương chủ trì, phối hợp với các ban
đảng, ban cán sự đảng, đảng đoàn, đảng ủy trực thuộc Trung ương thường
xuyên theo dõi, kiểm tra, đôn đốc, sơ kết, tổng kết và định kỳ báo cáo Bộ
Chính trị, Ban Bí thư kết quả thực hiện Nghị quyết.
22
KẾT LUẬN
Trong quá trình nghiên cứu những nguyên lý cơ bản của Chủ nghĩa
Mác - Lênin đặc biệt là quan điểm toàn diện đã giúp chúng ta có những quan
điểm sâu sắc khi nhìn nhận, đánh giá một sự vật, hiện tượng, một cách toàn
diện, bản chất trong mối liên hệ mang tính phổ biến, tính khách quan và tính đa
dạng của nó. Từ sự nhìn nhận, đánh giá đó dẫn đến khi cải tạo sự vật, phải tính
đến mối liên hệ phổ biến của nó, phải sử dụng đồng bộ nhiều biện pháp, nhiều
phương tiện khác nhau, đồng thời xác định được trọng tâm, trọng điểm trong
hoạt động nhằm thay đổi mối liên hệ tương ứng.
Quan điểm toàn diện của Chủ nghĩa Mác - Lênin mà cơ sở lý luận
của nó nguyên lý về mối liên hệ phổ biến của các sự vật, hiện tượng là kim chỉ
nam cho sự lãnh đạo của Đảng ta trong việc vận dụng vào công cuộc đổi mới
căn bản và toàn diện giáo dục và đào tạo đáp ứng yêu cầu CNH, HĐH trong
điều kiện kinh tế thị trường định hướng XHCN vào hội nhập quốc tế.
Đổi mới căn bản và toàn diện không có nghĩa là làm lại tất cả từ
đầu mà phải kế thừa phát triển những thành tựu kinh nghiệm tốt đã có, đồng
thời phải bổ sung những quan điểm,tư tưởng mới, kiên quyết chấn chỉnh những
lệch lạc, những việc làm trái quy luật, phát triển những nhân tố mới. Đổi mới
phải đảm bảo tính hệ thống, phù hợp với từng loại đối tượng và cấp học, có
tầm nhìn dài hạn, có các giải pháp đồng bộ, khả thi, đồng thời có trọng tâm,
trọng điểm lộ trình bước điphù hợp.
Như vậy, đổi mới giáo dục và đào tạo phải đứng trên quan điểm
toàn diện để hệ thống giáo dục và đào tạo được chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội
hóa, dân chủ hóa, hội nhập quốc tế, giữ vững định hướng XHCN và mang đậm
bản sắc dân tộc.
Để thực hiện được điều đó phải thực sự coi giáo dục và đào tạo là
sự nghiệp của Đảng, Nhà nước là của toàn dân, quốc sách hàng đầu, đầu tư cho
giáo dục là đầu tư cho phát triển được ưu tiên đi trước trong các chương trình
kế hoạch phát triển kinh tê - xã hội để xứng tầm với những yêu cầu đổi mới của
trong nước cũng như hội nhập với nền giáo dục và đào tạo quốc tế.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
23
[1] Giáo Trình “Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lê Nin”,Nxb
Chính trị Quốc Gia – Sự thật, Hà Nội, 2012
[2] Wikipedia: Giáo dục Việt Nam, http://vi.wikipedia.org/wiki/Giáo_dục_Việt_Nam
[3] Đảng Cộng Sản Việt Nam, “Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 4/11/2013 Hội nghị
Trung ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo”
[4] “Chiến lược phát triển giáo dục 2001-2010, trong Giáo dục đại học Việt Nam
thời hội nhập”
[5] http://dantri.com.vn/event/xep-hang-dai-hoc-2689.htm
[6] Duy Tuấn, “Đổi mới giáo dục đại học là cần thiết, trong trong Giáo dục đại học
Việt Nam thời hội nhập”
[7] Nguyễn Văn Tuấn, “Chất lượng giáo dục đại học: bắt đầu từ thày và kết thúc ở
trò”, Dien dan Forum, BP 50, 92340 Bourg-La-Reine, France
[8] Trần Ngọc Châu, “Ra biển lớn với 600 đại học”, trong “Giáo dục đại học Việt
Nam thời hội nhâp”
24

Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×