Tải bản đầy đủ

''hoàn thiện tổ chức thực thi chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi nhà nước thu hồi đất của chính quyền thị xã thái hòa, tỉnh nghệ an

MỤC LỤC
MỤC LỤC 1
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT 3
DANH MỤC SƠ ĐỒ 4
DANH MỤC BẢNG BIỂU 5
DANH MỤC ẢNH 6
CHƯƠNG 1 11
1.1. CHÍNH SÁCH BỒI THƯỜNG, HỖ TRỢ, TÁI ĐỊNH CƯ KHI NHÀ NƯỚC
THU HỒI ĐẤT CỦA CHÍNH QUYỀN CẤP HUYỆN, THỊ XÃ 12
1.1.1. Nhu cầu thu hồi đất cho phát triển kinh tế xã hội 12
1.1.2. Khái niệm chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất của
chính quyền cấp huyện, thị xã 13
1.1.3. Mục tiêu của chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư 16
1.1.4. Các nguyên tắc thực hiện mục tiêu chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư 17
1.1.5. Các bộ phận cấu thành của chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư 19
1.2.1. Khái niệm tổ chức thực thi chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư của chính
quyền cấp huyện, thị xã 23
1.2.2. Quá trình tổ chức thực thi chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư cấp
huyện, thị xã 23
1.2.2.1. Chuẩn bị triển khai chính sách 24
1.2.2.2 Chỉ đạo thực thi chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư 27

1.2.2.3. Kiểm soát sự thực hiện của chính sách BTHTTĐC: 33
1.3. Kinh nghiệm của một số địa phương trong tổ chức thực thi chính sách
BTHTTĐC khi Nhà nước thu hồi đất và bài học cho chính quyền thị xã Thái Hòa.38
1.3.1. Kinh nghiệm của một số huyện, thị xã 38
1.3.1.1. Kinh nghiệm của huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An 38
1.3.1.2. Kinh nghiệm của huyện Nghĩa Đàn, tỉnh Nghệ An 41
CHƯƠNG 2 44
2.1. THỊ XÃ THÁI HÒA VÀ THỰC TRẠNG THU HỒI ĐẤT ĐỂ PHÁT TRIỂN
KINH TẾ- XÃ HỘI, QUỐC PHÒNG- AN NINH 44
2.1.1 GIỚI THIỆU THỊ XÃ THÁI HÒA 44
2.1.1.1. Điều kiện tự nhiên 44
2.1.1.2. Thực trạng phát triển kinh tế, xã hội 45
2.1.2. THỰC TRẠNG THU HỒI ĐẤT CHO CÁC DỰ ÁN PHÁT TRIỂN KINH TẾ XÃ
HỘI, QUỐC PHÒNG – AN NINH GIAI ĐOẠN 2008 -2011 48
2.2. CÁC CHÍNH SÁCH BỒI THƯỜNG, HỖ TRỢ, TÁI ĐỊNH KHI NHÀ NƯỚC
THU HỒI ĐẤT ĐƯỢC THỰC HIỆN TẠI THỊ XÃ THÁI HÒA GIAI ĐOẠN 2008-
2011 49
2.2.1. Mục tiêu thu hồi hồi đất và bồi thường, hỗ trợ, tái định cư của thị xã Thái Hòa
giai đoạn 2008 – 2011 50
1
2.2.2. Kết quả thực hiện chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư tại thị xã Thái
Hòa giai đoạn 2008 -2011 51
Công tác giải phóng mặt bằng đã góp phần quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội, thu
hút đầu tư xây dựng và chỉnh trang đô thị, làm cho bộ mặt đô thị của thị xã ngày càng khang
trang, đẹp đẽ hơn 53
.2.2.2.1. Giới thiệu về 3 dự án nghiên cứu 53
2.3. THỰC TRẠNG TỔ CHỨC THỰC THI CHÍNH SÁCH BỒI THƯỜNG, HỖ
TRỢ, TÁI ĐỊNH KHI NHÀ NƯỚC THU HỒI ĐẤT CỦA CHÍNH QUYỀN THỊ XÃ
THÁI HÒA GIAI ĐOẠN 2008-2011 59
2.3.1. Chuẩn bị triển khai chính sách 59
2.3.1.1. Tổ chức bộ máy thực thi 59
2.3.1.2. Lập các kế hoạch tổ chức thực thi chính sách 65
2.3.1.3. Tổ chức tập huấn, đào tạo bồi dưỡng 65
2.3.2.1. Tổ chức truyền thông, tư vấn 66
2.3.2.2. Thực thi các kế hoạch 67
2.3.2.3. Tổ chức phối hợp các cơ quan ban ngành 68
2.3.2.4. Tổ chức các dịch vụ hỗ trợ 69
2.3.3. Kiểm soát sự thực hiện chính sách BTHTTĐC 70
2.3.3. 1. Hệ thống thông tin phản hồi 70
2.3.3.2. Công tác đánh giá, giám sát 71


2.4. Đánh giá tổ chức thực thi chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà
nước thu hồi đất của chính quyền thị xã Thái Hòa giai đoạn 2008-2011 72
CHƯƠNG 3 77
3.1. PHƯƠNG HƯỚNG HOÀN THIỆN TỔ CHỨC THỰC THI CHÍNH SÁCH BỒI
THƯỜNG, HỖ TRỢ, TÁI ĐỊNH CƯ CỦA CHÍNH QUYỀN THỊ XÃ THÁI HÒA. 77
3.1.1. Mục tiêu của tổ chức thực thi chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư của chính
quyền thị xã Thái Hòa đến năm 2015 77
3.1.2. Phương hướng hoàn thiện tổ chức thực thi chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư
của chính quyền thị xã Thái Hòa đến năm 2015 78
3.2. MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN TỔ CHỨC THỰC THI CHÍNH
SÁCH BỒI THƯỜNG, HỖ TRỢ, TÁI ĐỊNH CƯ KHI NHÀ NƯỚC THU HỒI ĐẤT
CỦA CHÍNH QUYỀN THỊ XÃ THÁI HÒA ĐẾN NĂM 2015 81
3.2.1. Hoàn thiện công tác chuẩn bị tổ chức thực thi chính sách bồi thường, hỗ trợ,
tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất 81
3.2.1.1. Hoàn thiện bộ máy 81
3.2.1.2. Hoàn thiện các kế hoạch bồi thường, hỗ trợ, tái định cư 82
3.2.1.2. Đẩy mạnh công tác tập huấn, đào tạo bồi dưỡng 82
3.2.2. Hoàn thiện công tác chỉ đạo thực hiện 83
3.2.2. Đẩy mạnh truyền thông, tư vấn 83
3.2.2.4. Tăng cường công tác phối hợp: 84
3.2.2.4. Tăng cường dịch vụ hỗ trợ: 85
3.2.3. Hoàn thiện công tác kiểm soát: 86
3.2.3.1. Hoàn thiện hệ thống thông tin phản hồi: 86
3.2.3.2. Hoàn thiện giám sát và đánh giá: 86
3.2.3.3. Các giải pháp khác: 87
2
3.3. KIẾN NGHỊ CÁC ĐIỀU KIỆN ĐỂ THỰC HIỆN GIẢI PHÁP 87
3.3.1. Kiến nghị đối với chính quyền thị xã Thái Hòa: 87
3.3.2. Kiến nghị đối với chính quyền cấp tỉnh: 87
3.3.3. Kiến nghị đối với cơ quan trung ương 88
KẾT LUẬN 88
TÀI LIỆU THAM KHẢO 90
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
STT Các chữ viết tắt Ký hiệu
1 Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá CNH-HĐH
2 Bồi thường, hỗ trợ, tái định cư BTHTTĐC
3 Giải phóng mặt bằng GPMB
3
4 Uỷ ban nhân dân UBND
5 Hội đồng nhân dân HĐND
6 Quyết định QĐ
7 Thị xã TX
8 Ủy ban mặt trận tổ quốc UBMTTQ
DANH MỤC SƠ ĐỒ
Sơ đồ 1: Mục tiêu của chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư
Sơ đồ 2: Các giai đoạn của quá trình tổ chức thực thi chính sách
Sơ đồ 3: Quy trình tổ chức thực thi chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư
4
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 1: Hiện trạng diện tích, dân số, mật độ dân số thị xã Thái Hòa
Bảng 2: Mục tiêu và kết quả thu hồi đất của TX. Thái Hòa giai đoạn 2008-2011
Bảng 3: Kết quả bồi thường, hỗ trợ, tái định cư của TX. Thái Hòa giai đoạn 2008-2011
Bảng 4: Mục tiêu và kết quả thu hồi đất của TX. Thái Hòa giai đoạn 2008 - 2011
Bảng 5: Cơ cấu nguồn nhân lực của Tổ tư vấn bồi thường, hỗ trợ, tái định cư thị xã
Bảng 6: Kế hoạch BTHTTĐC của thị xã Thái Hòa từ năm 2012 đến 2015
5
DANH MỤC ẢNH
Ảnh 1. Giải phóng mặt bằng dự án xây dựng Trang trại bò sữa Vinamil tại xã Đông
Hiếu 54
Ảnh 2. Hạ tầng khu nhà điều hành của Trang trại bò sữa Vinamilk tại xã Đông Hiếu
55
Ảnh 3. Giải phóng mặt bằng dự án đường giao thông vào Trung tâm xã Nghĩa Hòa
56
6
Ảnh 4. Hạ tầng dự án đường giao thông vào Trung tâm xã Nghĩa Hòa 56
Ảnh 5. Nhà máy chiết xuất Gas trong khu công nghiệp Nghĩa Mỹ 58
Ảnh 6. Dù ¸n tuyÕn §êng Ngang thuéc h¹ tÇng khu c«ng nghiÖp NghÜa Mü58
MỞ ĐẦU
1. Lý do lựa chọn đề tài
Thu hồi đất là quy luật tất yếu của quá trình tất yếu của phát triển kinh tế. Để thu hồi
đất thì Nhà nước phải có chính sách về bồi thường, hõ trợ, tái định cư, và tổ chức thực thi
để đưa chính sách vào thực tiễn. Nếu như hoạch định được chính sách tốt là điều kiện cần
thì tổ chức thực thi chính sách là điều kiện đủ để chính sách thành công.
Thái Hòa là thị xã trẻ thành lập năm 2008 được Chính Phủ, chính quyền cấp tỉnh
quan tâm, cho phép hưởng các cơ chế đặc thù với mục tiêu sẽ là đơn vị kinh tế trọng điểm
của khu vực Miền Tây Nghệ An vào năm 2015. Với lợi thế trên đã tạo cho Thái Hòa
7
những điều kiện lý tưởng để thu hút các dự án đầu tư, xây dựng cơ sở hạ tầng, chỉnh trang
đô thị phục vụ phát triển kinh tế xã hội.
Bồi thường, hỗ trợ, tái định cư là vấn đề phức tạp tác động tới mọi mặt đời sống kinh
tế, an sinh xã hội, ảnh hưởng trực tiếp đến lợi ích của Nhà nước, của chủ đầu tư và người
có đất bị thu hồi.
Trong thời gian qua việc tổ chức thực chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi
Nhà nước thu hồi đất của chính quyền thị xã Thái Hòa đã đạt được những kết quả quan
trọng góp phần làm thay đổi bộ mặt của địa phương. Tuy nhiên việc tổ chức thực thi chính
sách BTHTTĐC vẫn còn bộc lộ một số nhược điểm cần phải khắc phục bằng những giải
pháp cương quyết.
Là cán bộ công tác tại Hội đồng bồi thường, hỗ trợ, tái định cư của thị xã Thái Hòa,
thông qua hoạt động thực tiễn và những kiến thức chuyên ngành Quản lý kinh tế được tiếp
nhận trong quá trình học Cao học tại Trường Đại học Kinh tế Quốc dân, tôi lựa chọn đề
tài: ''Hoàn thiện tổ chức thực thi chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà
nước thu hồi đất của chính quyền thị xã Thái Hòa, tỉnh Nghệ An'' để làm luận văn
thạc sĩ chuyên ngành Quản lý kinh tế.
2. Tình hình nghiên cứu
Để phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế, xây dựng cơ sở hạ tầng đô thị thì chính
quyền cấp huyện, thị xã cần phải thu hồi đất và tổ chức thực thi chính sách bồi thường, hỗ
trợ, tái định cư. Do vậy việc nghiên cứu hoàn thiện tổ chức thực thi chính sách là cần thiết
đối với mỗi chính quyền huyện, thị xã. Vấn đề hoàn thiện tổ chức thực thi chính sách đã
được nhiều nhà khoa học, nhiều tác giả đề cập đến; trong đó mỗi công trình nghiên cứu
đều có nội dung và cách tiếp cận riêng phù hợp với những vấn đề thực tiễn và đặc điểm
của đối tượng nghiên cứu.
Một số công trình có liên quan là :
- Luận văn thạc sĩ kinh tế nông nghiệp về đề tài “Đánh giá việc thực hiện chính sách
bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên một số dự án của chính
quyền huyện Nghi Xuân – tỉnh Hà Tĩnh”, bảo vệ năm 2009 của tác giả Lê Việt Anh, trong
đó nghiên cứu quá trình triển khai các chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư tại huyện
8
Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh. Đề tài tập trung nghiên cứu việc thực hiện các chính sách về giá
đất, giá vật kiến trúc và cây cối hoa màu, đối tượng và điều kiện được bồi thường mà chưa
tập trung vào việc phân tích mối quan hệ phối hợp giữa các cơ quan ban ngành cũng như
chưa đi sâu vào việc đánh giá ở mỗi giai đoạn cụ thể của quá trình tổ chức thực thi chính
sách của chính quyền huyện Nghi Xuân – tỉnh Hà Tĩnh.
- Luận văn thạc sĩ Quản lý công về đề tài “Hoàn thiện tổ chức thực thi chính sách
thu hồi đất nông nghiệp của thị xã Cửa Lò, tỉnh Nghệ An”, bảo vệ năm 2011 của tác giả
Nguyễn Hà Dân. Nội dung luận văn phân tích thực trạng tổ chức thực thi chính sách về
thu hồi đất, xây dựng và hoàn thiện tổ chức thực thi chính sách thu hồi đất nông nghiệp
nói riêng tại thị xã Cửa Lò, tỉnh Nghệ An mà chưa đi sâu vào việc phân tích, đánh giá và
nêu giải pháp đối với thực thi chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu
đất của chính quyền cấp huyện, thị xã nói chung.
Riêng đối với chính quyền thị xã Thái Hòa thì cho đến nay chưa có đề tài nào đi sâu
nghiên cứu tổ chức thực thi chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu
hồi đất. Trên thực tế, do việc thay đổi của các quy định pháp luật về quản lý đất đai qua
các thời kỳ cũng như việc phân cấp, phân quyền cho địa phương nên việc tổ chức thực thi
chính sách về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư cũng phải hoàn thiệu cho phù hợp với tình
hình thực tiễn. Song quá trình tổ chức thực thi chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư
của chính quyền thị xã Thái Hòa chưa được nghiên cứu, đánh giá một cách nghiêm túc cả
về cơ sở lý luận, thực tiễn và mang tính hệ thống; việc tham khảo cách thức thực hiện của
các đơn vị khác cũng rất hạn chế. Hơn nữa hoàn thiện tổ chức thực thi chính sách của
chính quyền cấp huyện, thị xã để nâng cao hiệu quả, hiệu lực hoạt động quảm lý nước là
cả một quá trình thường xuyên, liên tục và sáng tạo. Do đó đề tài “Hoàn thiện tổ chức
thực thi chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất của chính
quyền thị xã Thái Hòa, tỉnh Nghệ An” vẫn còn là một “khoảng trống” cần được nghiên
cứu sâu và không trùng lắp với bất cứ công trình khoa học nào đã thực hiện. Hy vọng đây
sẽ là một luận văn cao học có ý nghĩa thực tiễn đối với chính quyền thị xã Thái Hòa và có
giá trị tham khảo đối với một số huyện, thị xã có cùng điều kiện về kinh tế - xã hội đang
trong quá trình hoàn thiện tổ chức thực thi chính sách BTHTTĐC.
9
3. Mục tiêu nghiên cứu
- Xác định khung lý thuyết cho nghiên cứu quá trình tổ chức thực thi chính sách
bồi thường, hỗ trợ, tái đinh cư của chính quyền thị xã Thái Hòa.
- Phân tích thực trạng tổ chức thực thi chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi
Nhà nước thu hồi đất của chính quyền thị xã Thái Hòa. Rút ra ưu điểm và hạn chế trong tổ
chức thực thi chính sách tại địa bàn thị xã Thái Hòa giai đoạn 2008 - 2011.
- Đề xuất giải pháp hoàn thiện tổ chức thực thi chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái
định cư khi Nhà nước thu hồi đất để phục vụ phát triển kinh tế - xã hội cho chính quyền
thị xã Thái Hòa đế năm 2015.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: đề tài nghiên cứu việc tổ chức thực thi chính sách bồi
thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất của chính quyền thị xã Thái Hòa.
- Phạm vi nghiên cứu:
+ Về nội dung: đề tài tập trung nghiên cứu quá trình tổ chức thực thi chính sách bồi
thường, hỗ trợ, tái định cư của chính quyền thị xã Thái Hòa đối với 03 dự án là: Trang trại
bò sữa của Công ty Cổ phần sữa Việt Nam tại huyện Nghĩa Đàn(Vinamilk), Đường giao
thông vào Trung tâm xã Nghĩa Hòa và xây dựng khu công nghiệp nhỏ xã Nghĩa Mỹ, thị xã
Thái Hòa.
- Thời gian nghiên cứu: dữ liệu được thu thập trong giai đoạn 2008-2011, các giải pháp
hoàn thiện được đề xuất đến năm 2015.
5. Phương pháp nghiên cứu
Ngoài các phương pháp luận chung, luận văn sử dụng các phương pháp cụ thể như:
- Nghiên cứu lý thuyết về tổ chức thực thi chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư.
- Phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh, chuyên gia để nghiên cứu thực tiễn.
- Sử dụng nguồn số liệu thứ cấp của Thị ủy, HĐND, UBND thị xã Thái Hòa – tỉnh
Nghệ An.
6. Đóng góp của luận văn
- Hệ thống hoá cơ sở lý luận và pháp lý về tổ chức thực thi chính sách bồi thường,
10
hỗ trợ, tái định cư.
- Làm rõ thực trạng tổ chức thực thi chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và
đánh giá điểm mạnh, điểm yếu của tổ chức thực thi chính sách BTHTTĐC.
- Đề xuất một số giải pháp và kiến nghị để hoàn thiện tổ chức thực thi chính sách bồi
thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất của chính quyền thị xã Thái Hòa.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mục lục, mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được
kết cấu làm ba chương:
Chương 1. Cơ sở lý luận và pháp lý về tổ chức thực thi chính sách bồi thường, hỗ
trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất của chính quyền cấp huyện, thị xã.
Chương 2. Phân tích thực trạng tổ chức thực thi chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái
định cư khi Nhà nước thu hồi đất của chính quyền thị xã Thái Hòa.
Chương 3. Các giải pháp hoàn thiện tổ chức thực thi chính sách bồi thường, hỗ trợ,
tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất của chính quyền thị xã Thái Hòa.
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ VỀ TỔ CHỨC THỰC THI CHÍNH SÁCH BỒI
THƯỜNG, HỖ TRỢ, TÁI ĐỊNH KHI NHÀ NƯỚC THU HỒI ĐẤT CỦA CHÍNH
QUYỀN CẤP HUYỆN, THỊ XÃ
1.1. CHÍNH SÁCH BỒI THƯỜNG, HỖ TRỢ, TÁI ĐỊNH CƯ KHI NHÀ NƯỚC
THU HỒI ĐẤT CỦA CHÍNH QUYỀN CẤP HUYỆN, THỊ XÃ
1.1.1. Nhu cầu thu hồi đất cho phát triển kinh tế xã hội
Thu hồi đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia và đầu
tư xây dựng các công trình công cộng, phát triển đô thị, các dự án sản xuất, kinh doanh là
một tất yếu khách quan trong quá trình phát triển.
11
Nhu cầu thu hồi đất để xây dựng các công trình công nghiệp, giao thông, thuỷ lợi,
các công trình về y tế, văn hoá, giáo dục, các công trình du lịch dịch vụ… công trình an
ninh quốc phòng là rất lớn. Với đặc thù là một nước nông nghiệp ( gần 80% dân số sản
xuất nông nghiệp ) do đó diện tích đất để sử dụng vào mục đích xây dựng các công trình
mở rộng đô thị, mở rộng hệ thống giao thông, các khu công nghiệp dịch vụ thương mại…
công trình quốc phòng an ninh chủ yếu là lấy từ đất nông nghiệp, đất làm nhà ở tại khu
vực nông thôn và ven đô thị. Nếu Nhà nước không có chính sách và những quy định phù
hợp thì dễ dẫn đến tình trạng là sau mỗi lần Nhà nước thu hồi đất để sử dụng vào mục đích
quốc phòng, an ninh, lợi ích công cộng, lợi ích quốc gia sẽ có thêm nhiều hộ gia đình, cá
nhân lâm vào tình trạng không còn ruộng đất- tư liệu sản xuất chính để nuôi sống gia đình
và bản thân họ.
Thực tiễn cho thấy BTHTTĐC khi Nhà nước thu hồi đất là vấn đề hết sức nhạy
cảm và phức tạp, tác động tới mọi mặt của đời sống kinh tế, xã hội, nhân văn của nhiều
người, của cả cộng đồng dân cư. Nếu giải quyết không thoả đáng quyền lợi của người có
đất bị thu hồi và những người bị ảnh hưởng khi thu hồi đất dễ bùng phát khiếu kiện, đặc
biệt là những khiếu kiện tập thể đông người làm cho tình hình trở nên phức tạp, từ đó gây
ra sự mất ổn định về kinh tế, xã hội, chính trị nói chung, theo số liệu thống kê năm 2011
cho thấy trên cả nước số lượng các khiếu nại về hành chính đối với BTHTTĐC chiếm
70,64% các khiếu nại tố cáo về đất đai(1).
Trong những năm gần đây vấn đề này trở thành trung tâm của dư luận, là một trong
những mối quan tâm hàng đầu của các nhà hoạch định chính sách, nhà quản lý, nhà đầu
tư. Thực tiễn chứng minh rằng làm tốt công tác giải phóng mặt bằng không chỉ tạo được
môi trường thông thoáng cho phát triển, thu hút được đầu tư mà còn góp phần làm lành
mạnh nhiều quan hệ xã hội, củng cố được lòng tin của nhân dân, khắc phục tệ quan liêu,
chống tham nhũng.
Từ những cơ sở trên cho thấy việc thu hồi đất để phát triển kinh tế xã – hội là tất
yếu khách quan nhưng để tổ chức thực thi chính sách BTHTTĐC thành công là vấn đề rất
phức tạp và đặt ra nhiều thử thách.
12
1.1.2. Khái niệm chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất
của chính quyền cấp huyện, thị xã.
Luật đất đai năm 1993 của Việt Nam quy định: “đất đai thuộc sở hữu toàn dân do nhà
nước quản lý”. Nhà nước với vai trò là người đại diện quản lý đất đai trên phạm vi lãnh
thổ nước mình. Nhà nước nắm trong tay quyền chiếm hữu, quyền định đoạt và quyền sử
dụng đất đai trong phạm vi cả nước, quyết định số phận pháp lý của đất đai đồng thời có
quyền lợi dụng tính năng của đất để phục vụ cho lợi ích kinh tế và đời sống con người.
Nhà nước giao một phần quyền sử dụng đất đai cho các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sử
dụng ổn định lâu dài dưới hình thức giao đất (thu tiền hoặc không thu tiền sử dụng đất).
Người sử dụng đất có quyền lợi sử dụng tính năng của đất phục vụ cho lợi ích của mình
nhưng phải sử dụng đúng mục đích và thực hiện nghĩa vụ đối với đất đai theo đúng quy
định của Nhà nước, nghĩa vụ đó còn bao gồm người sử dụng đất đai phải trao trả Nhà
nước diện tích đất đã được giao khi trường hợp nhà nước thu hồi đất để sử dụng vào các
mục đích phục vụ lợi ích quốc gia.
Đứng trên góc độ pháp lý thì đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện
quản lý, cho nên Nhà nước có quyền thu hồi đất để phục vụ cho phát triển kinh tế và đời
sống vì lợi ích quốc gia, vì lợi ích nhân dân. Nhưng về mặt kinh tế thì khi nhà nước thu
hồi đất thì phải đền bù cho đối tượng bị thu hồi đất.
Thu hồi đất
Thu hồi đất là việc nhà nước ra quyết định hành chính để thu lại quyền sử dụng đất
hoặc thu lại đất đã giao cho tổ chức, Ủy Ban Nhân Dân Xã, Phường, Thị Trấn quản lý
theo quy định của pháp luật

(khoản 5 điều 4 luật đất đai 2003).
Thu hồi đất trong quy hoạch xây dựng là việc chuyển đổi quyền sử dụng đất từ một
chủ thể đang sử dụng sang một chủ thể khác, việc thu hồi đất có thể có rất nhiều lý do, tuy
nhiên thu hồi đất trong quy hoạch xây dựng là thu hồi đất do thực hiện quy hoạch xây
dựng công cộng, mà cần đất để phục vụ các mục đích công cộng, quốc phòng an ninh,
hoặc để phát triển kinh tế theo đồ án quy hoạch xây dựng đã được cơ quan có thẩm quyền
phê duyệt, trong các đặc điểm của thu hồi đất luôn gắn liền với việc bồi thường.
13
Bồi thường
Bồi thường khi nhà nước thu hồi đất là việc nhà nước trả lại giá trị quyền sử dụng
đất đối với diện tích đất bị thu hồi cho người bị thu hồi đất. (khoản 6 điều 4 luật đất đai
2003).
Bồi thường là sự đền trả lại tất cả những thiệt hại mà chủ thể gây ra một cách tương
xứng, trong quy hoạch xây dựng, thiệt hại gây ra có thể là thiệt hại vật chất hoặc thiệt hại
phi vật chất. trong giải phóng mặt bằng, cùng với các quy định về bồi thường là các quy
định về hỗ trợ, tái định cư.
Hỗ trợ
Hỗ trợ là khi nhà nước thu hồi đất là việc nhà nước giúp đỡ người bị thu hồi đất
thông qua đào tạo nghề mới, bố trí việc làm mới, cấp kinh phí để di dời đến địa điểm mới.
( khoản 7 điều 4 luật đất đai 2003).
Hỗ trợ nhằm trợ giúp thêm cho người bị thu hồi đất để tái lập cuộc sống mới để
chuyển đổi nghề nghiệp, để giải quyết khó khăn về mặt kinh tế.
Tái định cư
Tái định cư là việc người dân bị thu hồi đất phải di chuyển chỗ ở, do kế hoạch phát
triển kinh tế - xã hội của địa phương; căn cứ vào quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất được
cấp có thẩm quyền phê duyệt.
Theo các quy định hiện hành của Nhà nước thì bồi thường, hỗ trợ gồm:
- Bồi thường hoặc hỗ trợ đối với toàn bộ diện tích đất Nhà nước thu hồi;
- Bồi thường hoặc hỗ trợ về tài sản có gắn liền với đất và các chi phí đầu tư vào đất
bị Nhà nước thu hồi.
- Hỗ trợ di chuyển, hỗ trợ ổn định đời sống, hỗ trợ đào tạo chuyển đổi nghề và các
hỗ trợ khác cho người bị thu hồi đất;
- Hỗ trợ để ổn định sản xuất và đời sống tại khu tái định cư.
Bản chất của BTHTTĐC khi Nhà nước thu hồi đất hiện nay không chỉ đơn thuần là
việc bồi thường trả lại về giá trị vật chất mà còn đảm bảo lợi ích chính đáng cho người có
đất bị thu hồi. Nhà nước sẽ đảm bảo cho họ có một cuộc sống mới ổn định, một điều kiện
14
sống tốt hơn hoặc ít nhất bằng với điều kiện sống nơi ở cũ, hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp
và tạo việc làm… để họ yên tâm sinh sống, sản xuất, làm việc và cống hiến cho xã hội
ngày càng tốt hơn.
Như vậy, chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư là tổng thể các quan điểm, các
giải pháp và công cụ mà Nhà nước sử dụng để tác động lên các đối tượng bị thu hồi đất
nhằm có đất để xây dựng cơ sở hạ tầng cho phát triển kinh tế xã hội theo định hướng mục
tiêu đề ra.
Chủ thể của chính sách là những người, tổ chức tham gia vào quá trình quản lý
chính sách như: người có thẩm quyền quyết định chính sách, người chịu trách nhiệm chính
đối với tổ chức thực thi chính sách, người chịu trách nhiệm đối với những hành động
chính sách cụ thể, người tham gia vào quá trình tổ chức thực thi chính sách, người giám
sát, đánh giá chính sách, như Quốc Hội, Chính Phủ, Bộ Tài nguyên- môi trường, Bộ Tài
chính, Bộ Kế hoạch – Đầu tư, Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân và các cơ quan
ban ngành liên quan; Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân, UBND tỉnh, Các sở ban ngành; huyện
ủy, Hội đồng nhân nhân, UBND cấp huyện; Hội đồng nhân dân, UBND các xã phường;
các cán bộ tham gia trong việc xây dựng và thực thi chính sách này của các cơ quan từ
Trung ương đến địa phương.
Đối tượng của chính sách là những người, tổ chức thực hiện chính sách và chịu ảnh
hưởng của chính sách, cụ thể là các cán bộ chuyên của các cơ quan thực hiện chính sách
bồi thường, hỗ trợ, tái định; và các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân bị thu hồi đất.
1.1.3. Mục tiêu của chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư
Mục tiêu chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư là đảm bảo quyền lợi chính đáng,
hợp pháp của tổ chức, hộ gia đình, cá nhân bị thu hồi đất thông qua việc chi trả, bù đắp
những tổn thất thiệt hại về đất đai, những chi phí tháo dỡ, di chuyển nhà ở, vật kiến trúc,
công trình hạ tầng kỹ thuật…và các chi phí khác để ổn định đời sống, sản xuất, chuyển đổi
nghề nghiệp, vị trí cho người bị thu hồi đất, sở hữu tài sản trên đất khi bị thu hồi nhằm xây
dựng cơ sở hạ tầng cho phát triển kinh tế xã hội, an ninh quốc phòng.
15
Sơ đồ 1: Mục tiêu của chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư
1.1.4. Các nguyên tắc thực hiện mục tiêu chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư
Nguyên tắc thực hiện mục tiêu của chính sách là những quan điểm chỉ đạo hành vi
của các chủ thể chính sách trong quá trình hoạch định và tổ chức thực thi chính sách.
Những nguyên tắc đó được xác định trên cơ sở nhận thức yêu cầu của các quy luật khách
quan chi phối quá trình chính sách và mục tiêu chính sách.
Trong quá trình thực hiện mục tiêu chính sách BTHTTĐC cần phải tuân thủ các
nguyên tắc sau đây:
Mục tiêu của chính sách bồi thường, HTTĐC:
Đáp ứng nhu cầu đất cho xây dựng cơ sở hạ tầng, chỉnh trang
đô thị
Giúp đỡ người bị thu hồi đất nhằm
ổn định đời sống sau khi bị thu hồi
đất
16
Đảm bảo quyền lợi chính đáng
của đối tượng bị thu hồi đất
Hỗ trợ tạo việc làm, ổn định
nơi ăn chốn ở
Phải thực hiện theo các quy định của Nhà nước
Công tác BTHTTĐC được thực hiện trong một khoảng thời gian tương đối dài, có
nhiều dự án có thể lên đến vài năm; trải qua nhiều khâu, nhiều giai đoạn khác nhau; tác
động đến nhiều đối tượng do vậy việc BTHTTĐC cần phải tiến hành theo đúng trình tự,
thủ tục pháp lý theo quy định của Nhà nước. Có như vậy mới hạn chế được sự khiếu kiện
của người bị thu hồi đất, đẩy nhanh tiến độ giải phóng mặt bằng; tạo điều kiện thuận lợi
cho việc quản lý, giám sát, kiểm tra và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật.
Đảm bảo hài hoà lợi ích của Nhà nước, lợi ích của người sử dụng đất và lợi ích
nhà đầu tư
- Nhà nước là đại diện chủ sở hữu đất đai, là người quản lý đất nước, phải quyết
định chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư, quyết định giá đất, giá tài sản để tính bồi
thường đất và tài sản. Đây vừa là quyền định đoạt của Nhà nước vừa là biện pháp xử lý
hài hoà lợi ích của người đang sử dụng đất với lợi ích của Nhà đầu tư.
- Người sử dụng đất ổn định được chuyển quyền sử dụng đất là một trong các
quyền của người sử dụng đất đã được xác định tại Hiến pháp 1992 và Luật đất đai. Thực
hiện quyền này, người sử dụng đất có nguồn thu nhập từ quyền sử dụng đất của mình. Do
vậy, khi Nhà nước thu hồi đất của người đang sử dụng đất để giao cho người khác sử dụng
vì lợi ích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng, phát triển kinh tế, Nhà
nước phải đảm bảo lợi ích cho người bị thu hồi đất một cách thoả đáng cụ thể:
+ Người bị thu hồi đất đang sử dụng vào mục đích nào thì được bồi thường bằng
việc giao đất mới có cùng mục đích sử dụng, nếu không có đất để bồi thường thì được bồi
thường bằng giá trị quyền sử dụng đất tính theo giá đất do Uỷ ban nhân dân tỉnh công bố
tại thời điểm thu hồi đất.
+ Ngoài bồi thường về đất, tài sản người bị thu hồi đất còn được hỗ trợ di chuyển,
hỗ trợ ổn định đời sống, sản xuất, đào tạo nghề, …. ổn định đời sống cho người bị thu hồi
đất.
+ Người bị thu hồi đất ở được chuyển vào khu TĐC với hệ thống cơ sở hạ tầng
đồng bộ đủ điều kiện cho họ sống tốt hơn hoặc ít nhất cũng bằng nơi ở cũ.
17
- Nhà đầu tư có nhu cầu về đất làm mặt bằng để đầu tư xây dựng các công trình cơ
sở hạ tầng, cơ sở sản xuất kinh doanh với chi phí sử dụng đất hợp lý nhất. Để khuyến
khích các nhà đầu tư bỏ vốn vào đầu tư phát triển, Nhà nước không chỉ ưu đãi tài chính
như miễn giảm tiền sử dụng đất, tiền thuê đất, thuế, mà còn hoàn lại chi phí bồi thường, hỗ
trợ về đất mà họ đã chi trả cho người bị thu hồi đất với mức cao nhất, bằng số tiền sử dụng
đất, hoặc tiền thuê đất mà họ phải nộp cho Nhà nước. Nhà nước đã phải dành nguồn thu từ
đất của mình để đảm bảo lợi ích cho người bị thu hồi đất, đồng thời giảm nhẹ chi phí sử
dụng đất cho nhà đầu tư để thực hiện quyền thu hồi đất, phân bổ sử dụng đất phục vụ cho
đầu tư phát triển của đất nước đưa đến dân giàu, nước mạnh.
Đảm bảo công khai, dân chủ, minh bạch trong thực hiện
Bồi thường, hỗ trợ và tái định cư cho người bị thu hồi đất là quan hệ giao dịch về
quyền sử dụng đất giữa người đang sử dụng đất với nhà đầu tư có sự can thiệp của Nhà
nước, không phải giao dịch quyền sử dụng đất thông thường trên thị trường. Tuy nhiên,
người bị thu hồi đất chỉ chấp nhận chuyển quyền sử dụng đất của mình khi chính sách bồi
thường, hỗ trợ, tái định cư phù hợp với Luật đất đai và công tác bồi thường, hỗ trợ và tái
định cư được thực hiện công khai và bàn bạc dân chủ.
Thứ nhất, trước khi thu hồi đất chậm nhất là 90 ngày đối với đất nông nghiệp và
180 ngày đối với đất phi nông nghiệp, cơ quan nhà nước có thẩm quyền phải thông báo
cho người bị thu hồi đất biết lý do thu hồi, thời gian và kế hoạch di chuyển, phương án
tổng thể về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư.
Thứ hai, người bị thu hồi đất được cử người đại diện của mình tham gia Hội đồng
bồi thường, hỗ trợ và tái định cư cấp quận, huyện, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh để
phản ánh nguyện vọng của người bị thu hồi đất, đồng thời người bị thu hồi đất thực hiện
các quyết định của Nhà nước, trực tiếp tham gia ý kiến đối với dự kiến phương án bồi
thường, hỗ trợ và tái định cư được niêm yết công khai tại trụ sở làm việc của tổ chức được
giao nhiệm vụ thực hiện bồi thường, hỗ trợ và tái định cư và trụ sở UBND cấp xã,
phường, thị trấn nơi có đất bị thu hồi.
Thứ ba, người bị thu hồi đất có quyền khiếu nại nếu chưa đồng ý với quyết định về
bồi thường, hỗ trợ và tái định cư và được cấp có thẩm quyền ra quyết định giải quyết. Nếu
18
không đồng ý với quyết định giải quyết lần đầu, người khiếu nại có quyền khởi kiện tại
Toà án nhân dân hoặc tiếp tục khiếu nại đến Chủ tịch UBND cấp tỉnh là cấp quyết định
giải quyết cuối cùng đối với khiếu nại của người bị thu hồi đất. Tuy nhiên để đảm bảo
thực hiện nghiêm túc các quyết định thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà
nước thu hồi đất trong khi chờ giải quyết khiếu nại, người bị thu hồi đất vẫn phải chấp
hành quyết định thu hồi đất, giao đất đúng kế hoạch và thời gian được cơ quan nhà nước
có thẩm quyền quyết định.
1.1.5. Các bộ phận cấu thành của chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư
Chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất bao gồm
những quy định, chính sách bộ phận cơ bản sau:
1.1.5.1.Quy định về phạm vi áp dụng chính sách
Chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất để sử dụng
vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng và phát triển kinh
tế, được áp dụng đối với các trường hợp Nhà nước thu hồi đất để sử dụng thực hiện các
dự án quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng và đầu tư xây dựng khu
công nghiệp, khu công nghệ cao, khu kinh tế, thực hiện các dự án đầu tư sản xuất, kinh
doanh, dịch vụ, du lịch thuộc nhóm A và các dự án có một trăm phần trăm (100%) vốn
đầu tư nước ngoài, có nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức
1.1.5.2.Quy định về việc chi trả tiền bồi thường, hỗ trợ và tái định cư
Các tổ chức được giao đất, cho thuê đất của Nhà nước thu hồi để thực hiện dự án
thì có trách nhiệm ứng chi trả tiền bồi thường, hỗ trợ, tái định cư; nếu được giao đất
không thu tiền sử dụng đất thì tiền bồi thường, hỗ trợ, tái định cư tính vào vốn đầu tư của dự
án, trường hợp được giao đất, cho thuê đất có thu tiền sử dụng đất thì tiền bồi thường, hỗ trợ,
tái định cư được trừ vào số tiền sử dụng đất, tiền thuê đất phải nộp. Riêng tổ chức, cá nhân
nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài đầu tư vào Việt Nam thì không phải trả
tiền bồi thường, hỗ trợ, tái định cư.
1.1.5.3. Chính sách về bồi thường đất bị thu hồi
19
Người đang sử dụng đất (tổ chức, hộ gia đình, cá nhân) có quyền sử dụng đất hợp
pháp theo quy định của pháp luật (đủ điều kiện được bồi thường về đất) thì được bồi
thường bằng đất có cùng mục đích sử dụng hoặc bồi thường bằng giá trị quyền sử dụng
đất tại thời điểm có quyết định thu hồi, tính theo giá đất có cùng mục đích sử dụng với
đất bị thu hồi do Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh quy định công bố theo quy định của Chính
phủ đang có hiệu lực áp dụng tại thời điểm có quyết định thu hồi đất; trường hợp giá đất
do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định tại thời điểm có quyết định thu hồi đất chưa sát
với giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất thực tế trên thị trường trong điều kiện bình
thường thì Ủy ban nhân dân cấp tỉnh căn cứ vào giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất
thực tế trên thị trường tại địa phương để quyết định mức giá cụ thể cho phù hợp; riêng
đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân nằm xen kẽ trong khu dân cư và đất vườn, ao
trong cùng thửa đất ở thì được bồi thường theo giá trị quyền sử dụng đất nông nghiệp và
hỗ trợ thêm từ 20% đến 50% giá đất ở liền kề. Đối với các trường hợp đang sử dụng đất
của Nhà nước giao không thu tiền sử dụng đất hoặc có thu tiền sử dụng đất nhưng tiền sử
dụng đất đã nộp có nguồn gốc từ Ngân sách nhà nước; đang sử dụng đất được Nhà nước
cho thuê; đang sử dụng đất không có giấy tờ hợp pháp theo quy định của pháp luật và tại
thời điểm bắt đầu sử dụng đất xác định là có vi phạm theo quy định của pháp luật; đang
sử dụng đất được giao không đúng thẩm quyền mà chưa nộp tiền để được sử dụng đất và
đất bị thu hồi.
1.1.5.4. Chính sách về bồi thường tài sản trên đất bị thu hồi
Tổ chức, hộ gia đình, cá nhân đang sở hữu tài sản gắn liền với đất bị thu hồi mà
đã tạo lập hợp pháp theo quy định của pháp luật thì được bồi thường tài sản bị thiệt hại;
còn những tài sản tại thời điểm tạo lập đã trái với mục đích sử dụng đất được xác định
hoặc tạo lập sau khi có quyết định thu hồi đất được công bố thì không được bồi thường.
Tài sản là nhà ở, công trình phục vụ sinh hoạt của hộ gia đình, cá nhân được bồi thường
bằng 100% giá trị xây dựng mới theo tiêu chuẩn kỹ thuật tương đương; nhà, công trình
xây dựng khác của các tổ chức được bồi thường bằng giá trị còn lại cộng với một khoản
tiền hỗ trợ, nhưng mức tối đa không lớn hơn 100% giá trị xây dựng mới. Riêng nhà ở của
hộ gia đình, cá nhân đang thuê sử dụng thuộc sở hữu Nhà nước, được bồi thường bằng
việc bố trí cho thuê nhà ở tại nơi mới; trường hợp không có nhà ở để bố trí tiếp tục cho thuê
20
thì được hỗ trợ tiền bằng 60% giá trị đất và 60% giá trị nhà đang thuê để tự lo chỗ ở mới.
Đối với cây trồng hàng năm trên đất bị thu hồi, được bồi thường bằng giá trị sản
lượng của vụ thu hoạch cao nhất của cây trồng chính tại địa phương trong 3 năm liền kề
trước năm bị thu hồi đất; cây trồng lâu năm thì được bồi thường bằng giá trị hiện có của
vườn cây; các vật nuôi trong đất có mặt nước mà chưa đến thời kỳ thu hoạch thì bồi
thường theo mức thiệt hại thực tế do bị thu hồi đất phải thu hoạch sớm. Giá trị sản lượng
của vụ thu hoạch hoặc giá trị hiện có của vườn cây, chi phí đầu tư, chăm sóc khi tính bồi
thường cho các loại cây trồng, giá trị vật nuôi trong đất có mặt nước, được lấy theo giá
bán sản phẩm, giá bán vườn cây và các mức chi phí trung bình trên thị trường ở địa
phương tại thời điểm thu hồi đất.
1.1.5.5. Chính sách về các khoản hỗ trợ cho người bị thu hồi đất
Các hộ gia đình đang sử dụng đất, nhà ở trên đất khi bị thu hồi đất, được hỗ trợ chi
phí di chuyển, hỗ trợ ổn định đời sống và ổn định sản xuất, hỗ trợ chuyển đổi nghề
nghiệp và tạo việc làm cho số lao động trong hộ gia đình đang ở độ tuổi lao động và một
số khoản hỗ trợ khác trong theo một số mức nhất định phù hợp với thực tế. Đối với các
tổ chức phải di chuyển cơ sở hoạt động thì được hỗ trợ chi phí thực tế để di chuyển, tháo
dỡ và lắp đặt cơ sở tại nơi mới.
1.1.5.6. Chính sách về tái định cư cho người bị thu hồi đất
Hộ gia đình, cá nhân bị thu hồi đất phải di chuyển chỗ ở được giao đất ở mới
hoặc mua nhà ở để tái định cư; Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm chỉ đạo việc
thực hiện các dự án xây dựng khu tái định cư để bảo đảm phục vụ tái định cư cho người
bị thu hồi đất phải di chuyển chỗ ở tại địa phương. Việc bố trí tái định cư phải thông báo
công khai cho từng hộ gia đình bị thu hồi đất phải di chuyển chỗ ở về dự kiến phương án
bố trí tái định cư. Diện tích giao đất ở tại nơi tái định cư, diện tích nhà bố trí tái định cư
và giá đất tính thu tiền sử dụng đất tại nơi tái định cư, giá bán nhà tái định cư do Uỷ ban
nhân dân cấp tỉnh quyết định cho phù với thực tế tại địa phương.
1.1.5.7. Quy định về thực hiện công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư
21
Việc thực hiện công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi
đất tại địa phương, Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh có thể giao cho Hội đồng bồi thường, hỗ
trợ và tái định cư huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh hoặc Tổ chức phát triển quỹ
đất thực hiện. Công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi nhà nước thu hồi đất được
thực hiện theo trình tự: Lập phương án tổng thể về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư; sau
đó thực hiện thông báo về quyết định thu hồi đất, kế hoạch giải phóng mặt bằng đất thu
hồi và chuẩn bị lập phương án bồi thường, hỗ trợ và bố trí tái định cư; tiếp theo tiến
hành kiểm kê xác định đất, tài sản bị thiệt hại, số hộ gia đình phải bố trí tái định cư để lập
phương án bồi thường, hỗ trợ và bố trí tái định cư trình cấp thẩm quyền phê duyệt và
cuối cùng là thực hiện chi trả tiền bồi thường, hỗ trợ và bố trí tái định cư theo phương án
đã được cấp thẩm quyền phê duyệt, đồng thời giao đất thu hồi đã chi trả bồi thường, hỗ
trợ và tái định cư theo phương án được phê duyệt cho chủ dự án được giao sử dụng đất.
Ngoài ra trong chính sách còn quy định về trách nhiệm của các Bộ ngành trung
ương, các cấp chính quyền, cơ quan tham mưu của địa phương, chủ đầu tư dự án và các
tổ chức có liên quan trong việc chỉ đạo, hướng dẫn, giải quyết, tổ chức thực hiện công
tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất và xử lý giải quyết khiếu
nại quyết định thu hồi đất, khiếu nại về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư trong quá trình
thực hiện chính sách.
1.2. Tổ chức thực thi chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư của chính quyền cấp
huyện, thị xã
1.2.1. Khái niệm tổ chức thực thi chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư của chính
quyền cấp huyện, thị xã
Tổ chức thực thi chính sách là giai đoạn thứ hai trong quá trình chính sách sau giai
đoạn hoạch định chính sách, nhằm biến chính sách thành hành động và kết quả trên thực
tế.
Tổ chức thực thi chính sách BTHTTĐC khi Nhà nước thu hồi đất của chính quyền
cấp huyện, thị xã là quá trình triển khai các chính sách thu hồi đất của Trung ương, tỉnh
thành những kết quả trên thực tế thông qua các hoạt động có tổ chức trong bộ máy Nhà
22
nước cấp huyện, thị xã nhằm có đất để xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ mục tiêu phát triển
kinh tế xã hội của địa phương.
1.2.2. Quá trình tổ chức thực thi chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư cấp
huyện, thị xã
Quá trình tổ chức thực thi chính sách BTHTTĐC của chính quyền cấp huyện, thị xã là
một quá trình liên tục bao gồm có các giai đoạn chính được mô phỏng qua sơ đồ sau:
Giai đoạn 1:
Chuẩn bị triển khai
1. Xây dựng bộ máy tổ chức thực thi(gồm cơ cấu tổ chức,
nguồn nhân lực )
2. Lập các kế hoạch triển khai
3. Ra các văn bản hướng dẫn
4. Tổ chức tập huấn
Giai đoạn 2:
Tổ chức triển khai
thông qua các kênh
truyền tải
1. Truyền thông chính sách
2. Tổ chức thực hiện các kế hoạch
3. Vận hành các ngân sách
4. Phối hợp các bên có liên quan
5. Xây dựng và vận hành hệ thống dịch vụ hỗ trợ
Giai đoạn 3:
Kiểm soát sự thực hiện
chính sách
1. Xây dựng hệ thống thông tin phản hồi
2. Tiến hành giám sát, đánh giá sự thực hiện
3. Điều chỉnh
4. Đưa ra các sáng kiến hoàn thiện, đổi mới
Sơ đồ 2: Các giai đoạn của quá trình tổ chức thực thi chính sách
1.2.2.1. Chuẩn bị triển khai chính sách
a. Sau khi được UBND tỉnh chấp thuận chủ trương đầu tư, chủ đầu tư hoặc tổ chức
được giao nhiệm vụ giải phóng mặt bằng có trách nhiệm gửi văn bản đến UBND cấp
huyện, thị xã nơi có đất thuộc phạm vi dự án đề nghị thành lập Hội đồng bồi thường, hỗ
trợ và tái định cư đồng thời gửi Ban chỉ đạo giải phóng mặt bằng thị xã để theo dõi, kiểm
tra, chỉ đạo thực hiện. Văn bản gửi kèm theo gồm:
23
- Văn bản chấp thuận chủ trương đầu tư của cấp có thẩm quyền hoặc quy hoạch chi
tiết xây dựng được duyệt, kèm theo phạm vi, ranh giới khu đất được chấp thuận chủ
trương đầu tư
- Kế hoạch chi tiết tiến độ giải phóng mặt bằng.
- Dự toán chi phí để tổ chức công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư theo quy
định hiện hành của UBND tỉnh.
- Kế hoạch đào tạo, chuyển đổi nghề nghiệp và tuyển dụng lao động cho các hộ
trong phạm vi thu hồi đất (nếu có).
- Văn bản cử đại diện tham gia Hội đồng bồi thường, hỗ trợ và tái định cư và tham
gia Tổ công tác giải phóng mặt bằng.
b. Trong thời hạn không quá 07 ngày làm việc kể từ khi nhận được văn bản đề nghị
kèm theo hồ sơ quy định, Ban bồi thường giải phóng mặt bằng cấp huyện, thị xã có trách
nhiệm thẩm tra hồ sơ, trình UBND cấp huyện, thị xã ký quyết định thành lập Hội đồng bồi
thường, hỗ trợ và tái định cư và thành lập Tổ công tác.
Hội đồng bồi thường, hỗ trợ và tái định cư và Tổ công tác tự chấm dứt hoạt động
sau khi hoàn thành việc bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và bàn giao đất cho chủ đầu tư.
- Thành phần Hội đồng bồi thường, hỗ trợ và tái định cư cấp huyện, thị xã gồm có:
+ Chủ tịch hoặc Phó chủ tịch UBND cấp huyện, thị xã là chủ tịch Hội đồng.
+ Trưởng Phòng Tài nguyên và môi trường – Phó chủ tịch Hội đồng.
+ Trưởng Phòng Tài chính Kế hoạch - ủy viên.
+ Trưởng Phòng Quản lý đô thị - ủy viên.
+ Trưởng Phòng Kinh tế - ủy viên.
+ Chủ tịch UBND cấp xã nơi có đất thuộc phạm vi dự án - ủy viên.
+ Chủ đầu tư - ủy viên.
+ Đại diện cho lợi ích hợp pháp của những người có đất thuộc phạm vi dự án (từ 1
đến 2 người) do UBND và Mặt trận tổ quốc cấp xã, phường nơi có đất thuộc phạm vi dự
án giới thiệu được tham gia khi thẩm định phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư.
Đại diện những người có đất thuộc phạm vi dự án có trách nhiệm phản ánh nguyện vọng
24
của những người có đất thuộc phạm vi dự án và vận động những chủ sử dụng đất nằm
trong phạm vi dự án thực hiện di chuyển, bàn giao mặt bằng đúng tiến độ.
Hội đồng bồi thường, hỗ trợ và tái định cư cấp huyện, thị xã làm việc theo nguyên
tắc tập thể và quyết định theo đa số; trường hợp biểu quyết ngang nhau thì thực hiện theo
phía có ý kiến của Chủ tịch Hội đồng.
- Thành phần của Tổ công tác gồm:
+ Chủ tịch hoặc Phó Chủ tịch UBND cấp xã làm tổ trưởng.
+ Đại diện của Ban bồi thường, giải phóng mặt bằng cấp huyện, thị xã - tổ phó.
+ Cán bộ địa chính cấp xã - tổ viên.
+ Cán bộ quản lý đô thị cấp xã - tổ viên.
+ Tổ trưởng dân phố hoặc trưởng thôn nơi có đất thuộc phạm vi dự án - tổ viên.
+ Đại diện Mặt trận Tổ quốc cấp xã nơi có đất thuộc phạm vi dự án - tổ viên.
+ Đại diện chủ đầu tư - tổ viên.
Trên cơ sở yêu cầu thực tế tổ chức công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư của dự
án, Ban bồi thường, giải phóng mặt bằng cấp huyện có thể trình UBND cấp huyện quyết
định bổ sung một số thành viên khác tham gia Hội đồng bồi thường, hỗ trợ và tái định cư
và Tổ công tác.
25
Thành lập hội
đồng GPMB
Tổ chức cá nhân kê khai đất
và các tài sản trên đất
Lập phương án
bồi thường
Xác định tổng mức
bồi thường
Chi trả tiền bồi
thường
Giao mặt bằng
cho chủ dự án
UBND xã,
phường, thị
trấn
Quyết định thu hồi đất

Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×