Tải bản đầy đủ

101 Hoàn thiện quy trình kiểm toán khoản mục tại sản cố định trong kiểm toán BCTC do Công ty dịch vụ Tư vấn tài chính, Kế toán và Kiểm toán thực hiện

Luận văn tốt nghiệp 1 Khoa kế toán
LỜI NÓI ĐẦU
Trong bối cảnh nước ta đang trong quá trình hội nhập và phát triển, các rào cản về
kinh tế đang dần được giảm bớt nên các Công ty và tập đoàn lớn của nước ngoài đã
và đang đầu tư rất nhiều vào nước ta. Do vậy, cơ hội và thách thức đối với các doanh
nghiệp của Việt Nam hiện nay ngày càng nhiều. Điều này đòi hỏi các Công ty phải có
sự năng động và nhạy bén đối với các biến đổi của thị trường nếu không sẽ không thể
tồn tại và phát triển trước sự đổ bộ của các tập đoàn kinh tế với quy mô lớn và trình
độ cao.
Trong xu thế hội nhập và phát triển của nền kinh tế quốc dân, lĩnh vực kiểm toán
cũng đang đứng trước những cơ hội và thách thức to lớn. Sự hiện diện của các Công
ty kiểm toán hàng đầu thế giới chiếm lĩnh hơn 50% thị phần dịch vụ kế toán, kiểm
toán tại Việt Nam đang tạo ra sức ép to lớn đối với các Công ty kiểm toán Việt Nam
về chất lượng kiểm toán, trình độ quản lý và năng lực tài chính. Trong đó, hoàn thiện
các quy trình là một trong những đòi hỏi cấp thiết hiện nay đối với các Công ty kiểm
toán Việt Nam nhằm nâng cao chất lượng kiểm toán để cạnh tranh với các Công ty
nước ngoài.
Trong quá trình thực tập tại AASC, em đã được tiếp xúc và được hướng dẫn thực
hiện một số phần hành kiểm toán. Em nhận thấy quy trình kiểm toán khoản mục
TSCĐ là một trong những phần quy trình quan trọng được Công ty AASC chú trọng
xây dựng nhằm cung cấp thông tin kiểm toán tốt nhất cho những người quan tâm. Vì

TSCĐ là một bộ phận quan trọng trong tổng tài sản của mỗi doanh nghiệp có mối
liên hệ với nhiều khoản mục khác trong BCTC nên có ảnh hưởng trọng yếu đến
BCTC. Do vậy, do vậy em đã chọn đề tài: “Hoàn thiện quy trình kiểm toán khoản
mục TSCĐ trong kiểm toán BCTC do Công ty dịch vụ Tư vấn Tài chính, Kế toán
và Kiểm toán thực hiện” làm luận văn tốt nghiệp của mình.
Luận văn tốt nghiệp 2 Khoa kế toán
Qua việc thực hiện luận văn này em muốn tìm hiểu sâu hơn về quy trình kiểm
toán khoản mục TSCĐ trên cả phương diện lý thuyết và thực tế. Từ đó, em muốn
đóng góp một số ý kiến để hoàn thiện quy trình kiểm toán TSCĐ tại AASC.
Nội dung của luận văn tốt nghiệp của em gồm 3 phần:
Phần 1: Tổng quan về Công ty Dịch vụ Tư vấn Tài chính Kế toán và Kiểm
toán
Phần 2: Thực trạng kiểm toán TSCĐ trong kiểm toán BCTC tại AASC.
Phần 3: Một số đánh giá và kiến nghị nhằm hoàn thiện quy trình kiểm toán
TSCĐ tại AASC.
Luận văn tốt nghiệp 3 Khoa kế toán
CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUY TRÌNH KIỂM
TOÁN TSCĐ TRONG KIỂM TOÁN BCTC
1.1. Khoản mục TSCĐ với vấn đề kiểm toán
1.1.1. Đặc điểm của TSCĐ
TSCĐ: Là những tài sản có giá trị lớn và thời gian sử dụng lâu dài.
Theo Quyết định 15/2006/QĐ-BTC những tài sản thỏa mãn những yêu cầu sau
được coi là TSCĐ:
• Chắc chắn thu được lợi ích kinh tế trong tương lai từ việc sử dụng tài sản đó:
Lợi ích kinh tế được biểu hiện thông qua việc tăng doanh thu, lợi nhuận, giảm chi phí
sản xuất kinh doanh, nâng cao năng suất lao động khi doanh nghiệp quản lý và dùng
TSCĐ trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
• Nguyên giá tài sản được xác định một cách đáng tin cậy: Yêu cầu này đòi hỏi
mỗi TSCĐ được doanh nghiệp ghi nhận đều phải có căn cứ khách quan như: hợp
đồng mua TSCĐ, biên bản bàn giao TSCĐ…và các chi phí tính vào nguyên giá là
hợp lý.
• Có thời gian sử dụng từ 1 năm trở lên.
• Có giá trị theo quy định hiện hành ( từ 10 triệu đồng trở lên).
Luận văn tốt nghiệp 4 Khoa kế toán
1.1.2. Nguyên tắc quản lý TSCĐ trong doanh nghiệp
Việc quản lý TSCĐ trong mỗi doanh nghiệp nhằm đạt được hiệu quả tốt nhất là
nhiệm vụ vô cùng quan trọng. Do vậy, việc quản lý cần phải tuân theo một số nguyên
tắc sau:
- Xác lập đối tượng ghi TSCĐ.
- Mọi TSCĐ trong doanh nghiệp phải có hồ sơ riêng.


- Mỗi TSCĐ phải được quản lý theo 3 chỉ tiêu giá trị là: Nguyên giá, giá trị hao
mòn và giá trị còn lại.
- Doanh nghiệp cần xây dựng quy chế quản lý TSCĐ, như: Xác định rõ quyền
hạn, trách nhiệm của tập thể, cá nhân trong việc quản lý, bảo quản, sử dụng TSCĐ.
- Quản lý những TSCĐ đã khấu hao hết nhưng vẫn tham gia vào hoạt động kinh
doanh như các TSCĐ bình thường khác.
- Vào cuối mỗi năm tài chính, doanh nghiệp cần phải định kỳ kiểm kê TSCĐ. Tất
cả các trường hợp phát hiện thừa, thiếu đều phải lập biên bản, tìm rõ nguyên nhân và
có biện pháp xử lý phù hợp với các quy định của doanh nghiệp cũng như quy định
của Nhà nước.
1.1.3. Vai trò của khoản mục TSCĐ trong doanh nghiệp
Hiện nay, nước ta đang trong quá trình hội nhập mạnh mẽ vào nền kinh tế thế
giới, các tập đoàn kinh tế lớn với tiềm lực kinh tế dồi dào đang từng bước thâm nhập
thị trường Việt Nam. Do vậy, sự cạnh tranh đang ngày một khốc liệt đòi hỏi các
doanh nghiệp Việt Nam phải sử dụng một cách hiệu quả từng đồng vốn.
Luận văn tốt nghiệp 5 Khoa kế toán
Việc sử dụng vốn đầu tư cho TSCĐ càng đòi hỏi các doanh nghiệp phải tính toán
và sử dụng hợp lý và hiệu quả hơn nữa. Do TSCĐ là loại TSCĐ có giá trị lớn, tốc độ
quay vòng vốn chậm. Do vậy đầu tư TSCĐ luôn là khoản đầu tư quan trọng đối với
mỗi doanh nghiệp. Trong mỗi doanh nghiệp, TSCĐ phải phù hợp với cơ cấu ngành
nghề kinh doanh của doanh nghiệp đó. Đối với các doanh nghiệp hoạt động trong
lĩnh vực công nghiệp nặng tỉ trọng cũng như mức độ ảnh hưởng đến hoạt động sản
xuất kinh doanh của doanh nghiệp lớn hơn so với các doanh nghiệp hoạt động trong
lĩnh vực công nghiệp nhẹ và thương mại. Do vậy, các doanh nghiệp cần phải đầu tư
TSCĐ một cách hợp lý với ngành nghề kinh doanh của mình. Việc quyết định đầu tư,
thay mới TSCĐ còn phụ thuộc vào khả năng tài chính của mỗi doanh nghiệp. Do
TSCĐ có giá trị lớn và tốc độ thu hồi chậm nên doanh nghiệp phải đảm bảo việc mua
TSCĐ không ảnh hưởng lớn đến khả năng hoạt động liên tục của doanh nghiệp.
Mặc dù vậy, TSCĐ là yếu tố quan trọng trong việc nâng cao năng suất lao động,
giảm giá thành sản suất, nâng cao khả năng cạnh tranh và đem lại lợi ích to lớn cho
doanh nghiệp nếu được quản lý hợp lý và sử dụng hiệu quả. Do vậy, các doanh
nghiệp cần phải chú trọng trong quá trình quyết định đầu tư.
1.1.4. Phân loại TSCĐ
Trong mỗi doanh nghiệp, để quản lý và sử dụng hiệu quả TSCĐ là rất cần thiết.
Do vậy, doanh nghiệp cần phải phân loại TSCĐ một cách khoa học và hợp lý. Hiện
nay, việc phân loại TSCĐ được tiến hành theo nhiều tiêu thức khác nhau. Trong đó,
những tiêu thức phân loại quan trọng bao gồm:
 Phân loại theo hình thái biểu hiện;
 Phân loại theo quyền sở hữu TSCĐ;
 Phân loại theo tình hình sử dụng TSCĐ.
Luận văn tốt nghiệp 6 Khoa kế toán
1.1.4.1. Phân loại theo hình thái biểu hiện
Theo hình thái biểu hiện TSCĐ được chia thành TSCĐ hữu hình và TSCĐ vô
hình.
TSCĐ hữu hình: Là những TSCĐ có hình thái vật chất. TSCĐ hữu hình có thể có
kết cấu độc lập hoặc nhiều bộ phận tài sản riêng lẻ kết hợp với nhau thành một hệ
thống để cùng thực hiện một hay một số chức năng nhất định, nếu thiếu bất kì bộ
phận nào thì cả hệ thống đó không hoạt động được. TSCĐ hữu hình được chi tiết
thành các nhóm sau:
 Nhà cửa, vật kiến trúc;
 Máy móc, thiết bị;
 Phương tiện vận tải, thiết bị truyền dẫn;
 Thiết bị, dụng cụ quản lý;
 Vườn cây lâu năm, súc vật làm việc và/ hoặc cho sản phẩm;
 Các loại TSCĐ khác
TSCĐ vô hình: Là TSCĐ không có hình thái vật chất, nhưng xác định được giá trị
và do doanh nghiệp sở hữu, sử dụng trong quá trình sản xuất kinh doanh, cung cấp
dịch vụ hoặc cho thuê. TSCĐ vô hình được chia tiết thành:
 Quyền sử dụng đất;
 Quyền phát hành;
 Bản quyền;
 Bằng sáng chế;
 Nhãn hiệu hàng hóa;
 Phần mềm máy tính;
 Giấy phép và giấy nhượng quyền;
 TSCĐ vô hình khác.
Luận văn tốt nghiệp 7 Khoa kế toán
1.1.4.2. Phân loại theo quyền sở hữu TSCĐ
Tiêu thức phân loại này dựa trên cơ sở quyền sở hữu của doanh nghiệp đối với
TSCĐ. Theo tiêu thức phân loại này TSCĐ được chia làm 2 loại là TSCĐ của doanh
nghiệp và TSCĐ thuê ngoài:
TSCĐ của doanh nghiệp: Là những TSCĐ do doanh nghiệp mua sắm, xây dựng,
nhận biếu tặng, viện trợ…Đối với những TSCĐ này doanh nghiệp có quyền bán,
thanh lý, sử dụng, cho thuê…theo các quy định hiện hành của pháp luật.
TSCĐ thuê ngoài: Là TSCĐ mà doanh nghiệp chỉ có quyền sử dụng trong một
khoảng thời gian nhất định theo hợp đồng thuê mà không có quyền sở hữu. Theo
phương thức cho thuê thì có hai loại cho thuê là: thuê hoạt động và thuê tài chính.
Nhưng theo các tiêu chuẩn của TSCĐ cố định thì chỉ có thuê tài chính mới được coi
là TSCĐ.
Một tài sản đi thuê được phân loại là tài sản thuê tài chính nếu hợp đồng thuê thỏa
mãn 1 trong 5 điều kiện:
 Bên cho thuê chuyển giao quyền sở hữu tài sản cho bên thuê khi hết
thời hạn thuê;
 Tại thời điểm khởi đầu thuê tài sản, bên thuê có quyền lựa chọn mua lại
tài sản thuê với mức giá ước tính thấp hơn giá trị hợp lý vào cuối thời
hạn thuê;
 Thời hạn thuê tài sản tối thiểu phải chiếm phần lớn thời gian sử dụng
kinh tế của tài sản cho dù không có sự chuyển giao quyền sở hữu;
 Tại thời điểm khởi đầu thuê tài sản, giá trị hiện tại của khoản thanh
toán tiền thuê tối thiểu chiếm phần lớn giá trị hợp lý của tài sản thuê;
 Tài sản thuê thuộc loại chuyên dùng mà chỉ có bên thuê có khả năng
sử dụng không cần có sự thay đổi sửa chữa nào.
Luận văn tốt nghiệp 8 Khoa kế toán
Hợp đồng thuê tài sản được coi là hợp đồng thuê tài chính nếu thỏa mãn ít nhất
một trong ba điều kiện:
 Nếu bên thuê hủy hợp đồng và đền bù tổn thất tài chính phát sinh liên quan
đến việc hủy hợp đồng cho bên thuê;
 Thu nhập hoặc tổn thất do sự thay đổi giá trị hợp lý của giá trị còn lại của
tài sản thuê gắn với bên thuê;
 Bên thuê có khả năng tiếp tục thuê lại tài sản sau khi hết han hợp đồng
thuê với tiền thuê thấp hơn giá thuê thị trường.
1.1.4.3. Phân loại theo mục đích và tình hình sử dụng
Việc phân loại TSCĐ theo tiêu thức này được chia thành bốn loại:
 TSCĐ dùng cho kinh doanh;
 TSCĐ dùng cho hành chính;
 TSCĐ dùng cho mục đích phúc lợi;
 TSCĐ chờ xử lý.
Luận văn tốt nghiệp 9 Khoa kế toán
1.1.5. Tính giá TSCĐ
1.1.5.1. Nguyên giá của TSCĐ
Việc xác định nguyên giá TSCĐ cần phải tuân thủ theo những nguyên tắc sau:
- Thời điểm xác định nguyên giá là thời điểm đưa TSCĐ vào trạng thái sẵn sàng
sử dụng đối với TSCĐ hữu hình hay thời điểm đưa TSCĐ vào sử dụng theo dự tính
đối với TSCĐ vô hình.
- Giá trị thực tế của TSCĐ phải dựa trên những căn cứ khách quan có thể kiểm
soát được.
- Giá trị thực tế của TSCĐ phải xác định dựa trên chi phí hợp lý dồn tích trong
quá trình hình thành TSCĐ.
- Các khoản chi phí liên quan đến TSCĐ phát sinh sau khi TSCĐ được đưa vào sử
dụng sẽ được tính vào nguyên giá nếu chúng làm tăng giá trị hữu ích của TSCĐ.
Một số phương pháp xác định nguyên giá TSCĐ:
- TSCĐ hình thành do mua sắm
NG = Gt + Tp + Pt + Lv – Tk – Cm – Th
Trong đó:
NG: Nguyên giá TSCĐ
Gt: Giá thanh toán cho nhà cung cấp TSCĐ ( tính theo giá thu tiền 1 lần)
Tp: Phí tổn trước khi dùng ( Vận chuyển, lắp đặt, chạy thử...)
Lv: Lãi vay phải trả trước khi đưa TSCĐ vào sử dụng
Tk: Thuế trong giá mua hoặc giảm giá được hưởng
Cm: Chiết khâu thương mại hoặc giảm giá được hưởng
Th: Giá trị sản phẩm, dịch vụ thu được khi chạy thử
Luận văn tốt nghiệp 10 Khoa kế toán
- Nguyên giá TSCĐ hình thành do XDCB theo phương thức giao thầu: Là giá
quyết toán công trình xây dựng theo quy định tại quy chế quản lý, đầu tư và xây dựng
hiện hành cộng với lệ phí trước bạ và các chi phí liên quan trực tiếp khác.
- Nguyên giá TSCĐ hình thành do tự xây dựng: Là giá thành thực tế của TSCĐ
cộng chi phí lắp đặt chạy thử, các chi phí khác trực tiếp liên quan tính đến thời điểm
đưa TSCĐ vào trạng thái sẵn sàng sử dụng.
- Nguyên giá TSCĐ được hình thành do điều chuyển: Là giá trị còn lại trên sổ của
đơn vị điều chuyển, hoặc giá trị theo đánh gía thực tế của hội đồng giao nhận và các
chi phí trực tiếp liên quan mà bên nhận TSCĐ phải chịu cho đến khi đưa TSCĐ vào
trạng thái sẵn sàng sử dụng.
- Nguyên giá TSCĐ hình thành do biếu tặng, nhận vốn góp liên doanh, nhận lại
vốn góp liên doanh, hoặc phát hiện thừa thì nguyên giá được xác định bằng giá trị
thực tế của hội đồng đánh giá và các chi phí bên nhận phải chi cho đến khi đưa
TSCĐ vào trạng thái sẵn sàng sử dụng.
- Nguyên giá TSCĐ thuê tài chính: được tính bằng giá trị hợp lý và các phí tổn
trước khi dùng.
Giá trị hợp lý: Là giá trị có thể trao đổi giữa các bên có đầy đủ sự hiểu biết trọng
sự trao đổi ngang giá.
Giá trị hợplý của TSCĐ thuê cao hơn giá trị hiện tại của khoản thanh toán tiền
thuê tối thiểu thì ghi theo nhận nguyên giá theo giá trị hiện tại của khoản thanh toán
tiền thuê tối thiểu.
1.1.5.2. Giá trị hao mòn và khấu hao TSCĐ
Hao mòn TSCĐ là sự giảm dần giá trị của TSCĐ trong quá trình sử dụng do sự ăn
mòn trong quá trình tham gia vào hoạt động sản xuất kinh doanh hoặc do tiến bộ
khoa học kĩ thuật làm cho TSCĐ trở nên lỗi thời.
Luận văn tốt nghiệp 11 Khoa kế toán
Hao mòn TSCĐ có tính khách quan, do vậy, doanh nghiệp cần tính toán và phân
bổ hợp lý nguyên giá của TSCĐ vào chi phí kinh doanh trong từng kì hạch toán và
gọi là khấu hao TSCĐ. Việc phân bổ khấu hao vào chi phí không phản ánh đầy đủ
mức độ hao mòn của TSCĐ trên thực tế. Nhưng do việc xác định giá trị hao mòn của
TSCĐ rất khó khăn nên trong kế toán giá trị hao mòn được tính bằng số khấu hao lũy
kế đến thời điểm xác định.
Hiện nay, theo chế độ tài chính hiện hành, các doanh nghiệp có thể tính khấu hao
theo ba phương pháp:
• Khấu hao đường thẳng
Theo phương pháp này, mức khấu hao năm của 1 TSCĐ (Mkhn) được tính theo
công thức sau:
Mkhn = Nguyên giá của TSCĐ × Tỷ lệ khấu hao năm
Trong đó:
Tỷ lệ khấu hao năm
=
1
Số năm sử dụng dự kiến
• Khấu hao theo số dư giảm dần có điều chỉnh
Thường áp dụng trong các doanh nghiệp thuộc lĩnh vực thường xuyên đổi mới
công nghệ và TSCĐ thỏa mãn 2 điều kiện sau:
+ Là TSCĐ đầu tư mới
+ Là máy móc, thiết bị, dụng cụ làm việc đo lường, thí nghiệm
Theo phương pháp này, mức khấu hao năm (Mkhn) của TSCĐ được xác định
theo công thức:
Mkhn = Giá trị còn lại × Tỷ lệ khấu hao nhanh
của TSCĐ
Tỷ lệ khấu hao nhanh xác định theo công thức:
Tỷ lệ khấu hao nhanh
=
T ỷ l ệ k h ấ u h a o T S C Đ
Luận văn tốt nghiệp 12 Khoa kế toán
Theo phương pháp đường thẳng
Hệ số điều chỉnh xác định theo số năm sử dụng TSCĐ sau:
Thời gian sử dụng TSCĐ Hệ số điều chỉnh (lần)
Đến 4 năm (t ≤ 4 năm) 1,5
Trên 4 đến 6 năm (4 năm < t≤ 6 năm) 2,0
Trên 6 năm (t > 6 năm) 2,5
Khi khấu hao năm xác định theo phương pháp số dư giảm dần bằng hoặc thấp
hơn mức khấu hao bình quân giữa giá trị còn lại và số năm sử dụng còn lại của TSCĐ
thì kể từ năm đó mức khấu hao được tính bằng giá trị còn lại của TSCĐ chia cho số
năm sử dụng còn lại của TSCĐ.
• Khấu hao theo số lượng sản phẩm.
Phương pháp này chỉ áp dụng đối với các máy móc thiết bị đáp ứng các yêu cầu
sau:
- Trực tiếp liên quan đến sản xuất sản phẩm;
- Xác định được tổng số lượng khối lượng sản phẩm sản xuất theo công suất thiết
kế của TSCĐ;
- Công suất sử dụng thực tế bình quân tháng trong năm tài chính lớn hơn hoặc
bằng 50% công suất thiết kế của TSCĐ.
Theo phương pháp này, mức khấu hao tháng của TSCĐ được tính theo công thức:
Mức trích khấu = Số lượng sản × Mức trích khấu hao
hao trong tháng phẩm sản xuất Bình quân tính cho
của TSCĐ Trong tháng Một đơn vị sản phẩm
Trong đó:
Mức trích khấu hao bình quân
=
Nguyên giá của TSCĐ
Tính cho một đơn vị sản phẩm Sản lượng theo công suất thiết kế
Luận văn tốt nghiệp 13 Khoa kế toán
Mức trích khấu hao năm của TSCĐ sẽ bằng tổng mức trích khấu hao của 12 tháng
trong năm đó.
1.1.5.3. Giá trị còn lại của TSCĐ
Giá trị còn lại của TSCĐ là giá trị thực tế của TSCĐ tại một thời điểm nhất định.
Giá trị còn lại của TSCĐ chỉ được xác định khi TSCĐ được đem ra bán trên thị
trường. Về phương diện kế toán, giá trị còn lại của TSCĐ được xác bằng hiệu số giữa
nguyên giá và giá trị hao mòn lũy kế đến một thời điểm xác định. Do vậy, giá trị còn
lại trên sổ kế toán mang tính chủ quan của doanh nghiệp.
Mối quan hệ của ba chỉ tiêu giá của TSCĐ được thể hiện bởi công thức:
NG TSCĐ = GTCL TSCĐ + GTHM TSCĐ
1.1.6. Hạch toán tình hình biến động TSCĐ
1.1.6.1. Chứng từ theo dõi TSCĐ
Đối với TSCĐ khi đưa vào sử dụng, doanh nghiệp phải lập “biên bản giao nhận”
cho từng đối tượng TSCĐ và có chữ kí của đại diện các bên liên quan tại thời điểm
đó. Trong trường hợp nhiều TSCĐ cùng loại và được đưa vào sử dụng ở cùng một
thời điểm, doanh nghiệp có thể lập chung một biên bản giao nhận cho các TSCĐ đó.
Sau đó, phải sao lục cho mỗi TSCĐ một bản riêng để lưu vào “hồ sơ TSCĐ”. Mỗi bộ
hồ sơ TSCĐ phải bao gồm đầy đủ các chứng từ liên quan để chứng minh TSCĐ thực
sự thuộc về doanh nghiệp, giá trị được xác định một cách hợp lý và có nguồn gốc rõ
ràng bao gồm: “Hợp đồng”, “hóa đơn mua TSCĐ ”, “biên bản giao nhận”, “tài liệu kĩ
thuật”, “giấy bảo hành”…Dựa vào hồ sơ TSCĐ, kế toán TSCĐ mở “thẻ TSCĐ” để
theo dõi chi tiết từng đối tượng, thẻ TSCĐ phải có xác nhận của kế toán trưởng đơn
vị. Thẻ TSCĐ sẽ được lưu tại phòng kế toán trong suốt thời gian sử dụng TSCĐ. Thẻ
TSCĐ là cơ sở để kế toán ghi vào “ sổ TSCĐ ”, sổ TSCĐ sẽ được lập một quyển
chung cho toàn doanh nghiệp và mỗi bộ phận sử dụng TSCĐ một quyển.
1.1.62. Tài khoản sử dụng
TK 211: TSCĐ cố định hữu hình
Luận văn tốt nghiệp 14 Khoa kế toán
Bên nợ: Nguyên giá TSCĐ hữu hình tăng trong kì
Bên có: Nguyên giá TSCĐ hữu hình giảm trong kì
TSCĐ được chi tiết thành các loại TSCĐ sau:
TK 2112: Nhà cửa vật kiến trúc
TK 2113: Máy móc thiết bị
TK 2114: Phương tiện vận tải truyền dẫn
TK 2115: Thiết bị dụng cụ quản lý
TK 2116: Cây lâu năm, súc vật làm việc và cho sản phẩm
TK 2118: TSCĐ hữu hình khác
TK 212: TSCĐ thuê tài chính
Bên nợ: Nguyên giá TSCĐ thuê tài chính tăng trong kì
Bên có: Nguyên giá TSCĐ thuê tài chính giảm trong kì
TK213: TSCĐ vô hình
Bên nợ: Nguyên giá TSCĐ vô hình tăng trong kì
Bên có: Nguyên giá TSCĐ vô hình giảm trong kì
TSCĐ vô hình được chi tiết thành các loại TSCĐ sau:
TK 2131: Quyền sử dụng đất
TK 2132: Quyền phát hành
TK 2133: Bản quyền, bằng sáng chế
TK 2134: Nhãn hiệu hàng hóa
TK 2135: Phần mềm máy tính
TK 2136: Giấy phép và giấy nhượng quyền
TK 2138: TSCĐ vô hình khác
Luận văn tốt nghiệp 15 Khoa kế toán
1.1.6.3. Hạch toán TSCĐ
Sơ đồ 1.1 : Hạch toán tổng hợp tăng TSCĐ
Sơ đồ 1.2: Hạch toán tổng hợp giảm TSCĐ
Chi phí xd,lắp
đặt, triển khai
Giá mua vào và phí tổn của TSCĐ không qua lắp đặt
Thuế GTGT được khấu
trừ (nếu có)
TSCĐ hình thành qua xd
lắp đặt, triển khai
Nhận quà biếu, quả tặng, viện trợ không hoàn lại bằng TSCĐ
Nhà nước cấp hoặc nhận vốn góp liên doanh bằng TSCĐ
Thuế GTGTnằm
trong nợ gốc
TK342
Nhận TSCĐ thuê TSCĐ
TK138
Nhận lại vốn góp liên doanh bằng TSCĐ
TSCĐ thừa không rõ nguyên nhân
TK3381
TK 111,112,331,341
TK152,334,338
TK411
TK133
TK711
TK 111,212,213
TK241
TK222
Luận văn tốt nghiệp 16 Khoa kế toán
Trong đó: CL: chênh lệch đánh giá lại TSCĐ
CLCL
Trả vốn góp liên doanh
Góp vốn liên doanh bằng TSCĐ
Khấu hao TSCĐ
Giá trị còn lại của TSCĐ nhượng bán
thanh lý,trao đổi không tương tự
Giá trị hao mòn giảm
Giảm
NG
Hoặc điều chuyển đvị khác
TK811
TK627,641,642
TK411
TK222
TK211,213
TK214
TK412
Trao đổi tương tự TSCĐ
TSCĐ thiếu
TK211,212,213
TK138
Luận văn tốt nghiệp 17 Khoa kế toán
1.2. Kiểm toán khoản mục TSCĐ trong kiểm toán BCTC .
Khoản mục TSCĐ là khoản mục thường có ít nghiệp vụ phát sinh trong năm tài
chính. Tuy nhiên, quy mô của các nghiệp vụ luôn rất lớn, do vậy các biến động
TSCĐ ảnh hưởng trọng yếu đến tình hình sản xuất kinh doanh trong doanh nghiệp.
Chính vì vậy, KTV và Công ty kiểm toán luôn coi kiểm toán TSCĐ là một trong
những phần hành kiểm toán quan trọng của kiểm toán BCTC.
1.2.1. Vai trò kiểm toán TSCĐ trong kiểm toán BCTC
Kiểm toán TSCĐ là một bộ phận quan trọng trong kiểm toán BCTC trong hầu hết
các loại hình doanh nghiệp bởi giá trị lớn và thời gian sử dụng lâu dài của khoản mục
TSCĐ. Đặc biệt trong bối cảnh nước ta đã gia nhập WTO, mỗi doanh nghiệp cần
phải tích kiệm và sử dụng hiệu quả từng đồng vốn. Do vậy, KTV cần kiểm tra và
cung cấp những thông tin chính xác về tình hình sử dụng TSCĐ cho các nhà quản lý,
nhà đầu tư và đưa ra những kiến nghị hợp lý cho doanh nghiệp.
Trong một kì kế toán, số lượng các nghiệp vụ TSCĐ phát sinh không nhiều
nhưng có giá trị lớn và liên quan đến nhiều khoản mục trên BCTC. Do vậy, nếu xảy
ra sai phạm sẽ ảnh hưởng lớn đến BCTC cũng như tình hình hoạt động của doanh
nghiệp. Xây dựng quy trình kiểm toán TSCĐ rất chặt chẽ và có tính ứng dụng cao với
nhiều loại hình doanh nghiệp tuân thủ quy trình kiểm toán chung của kiểm toán
BCTC và các yêu cầu về chất lượng kiểm toán là đòi hỏi cấp thiết đối với các Công
ty kiểm toán.
Luận văn tốt nghiệp 18 Khoa kế toán
1.2.2. Mục tiêu kiểm toán TSCĐ trong kiểm toán BCTC
Kiểm toán TSCĐ là một bộ phận của kiểm toán BCTC, do vậy, mục tiêu kiểm
toán của khoản mục TSCĐ cũng hướng đến mục tiêu chung của kiểm toán BCTC là
giúp KTV và Công ty kiểm toán đưa ra ý kiến về sự trung thực và hợp lý của BCTC
trên những khía cạnh trạnh trọng yếu, sự tuân thủ pháp luật liên quan và sự tuân thủ
các chuẩn mực kế toán hiện hành. Mục tiêu kiểm toán gồm 6 mục tiêu chung, đối với
khoản mục TSCĐ 6 mục tiêu chung này được cụ thể hóa thành 6 mục tiêu đặc thù:
Luận văn tốt nghiệp 19 Khoa kế toán
Bảng 1.1: Mục tiêu kiểm toán TSCĐ
MỤC TIÊU
KIỂM TOÁN
CHUNG
MỤC TIÊU KIỂM TOÁN ĐẶC THÙ KHOẢN MỤC TSCĐ
Tình hiện hữu Các TSCĐ được ghi vào sổ là có thật
Các nghiệp vụ tăng, giảm, khấu hao TSCĐ được ghi nhận trong
kỳ đều có căn cứ ghi sổ hợp lý
Tính đầy đủ Các nghiệp vụ tăng, giảm khấu hao phát sinh trong kỳ đều được
ghi sổ
Chi phí và thu nhập từ hoạt động thanh lý, nhượng bán TSCĐ
đều được ghi sổ đầy đủ.
Quyền và
nghĩa vụ
Đơn vị thực sự sở hữu, kiểm soát các TSCĐ được ghi sổ
Các TSCĐ nhận giữ hộ, không thuộc sở hữu của doanh nghiệp
đều được theo dõi.
Tính giá và
phân bổ
Nguyên giá, giá trị còn lại của TSCĐ được tính giá đúng theo
các nguyên tắc, chuẩn mực kế toán hiện hành
Khấu hao TSCĐ được tính toán đúng, hợp lý và nhất quán giữa
các kỳ.
Trình bày và
phân loại
Trích khấu hao hay chỉ phản ánh hao mòn được tính toán và
phân loại theo đúng mục đích sử dụng TSCĐ
Phân loại TSCĐ thành TSCĐ hữu hình, TSCĐ vô hình, TSCĐ
thuê tài chính theo quy định hiện hành
Chính xác cơ
học
Các số liệu cộng sổ và chuyển sổ; các chi tiết trong số dư trên sổ
cái tài khoản TSCĐ phải trùng khớp với số liệu trên các sổ chi tiết
TSCĐ
Luận văn tốt nghiệp 20 Khoa kế toán
1.2.2. Quy trình kiểm toán khoản mục TSCĐ
Quy trình kiểm toán TSCĐ trong kiểm toán BCTC được thực hiện theo ba bước
như trong quy trình kiểm toán BCTC nói chung. Nhưng kiểm toán khoản mục TSCĐ
được tiếp cận theo khoản mục. Ba bước kiểm toán khoản mục TSCĐ bao gồm:
 Chuẩn bị kiểm toán;
 Thực hiện kiểm toán;
 Kết thúc kiểm toán.
1.2.2.1. Chuẩn bị kiểm toán
 Khảo sát đánh giá khách hàng tiềm năng và thỏa thuận cung cấp dịch vụ
Trong bước này, KTV cần thu thập các thông tin chung về khách lĩnh vực hoạt
động, loại hình kinh doanh, hình thức sở hữu, công nghệ sản xuất, tổ chức bộ máy
quản lý…Từ đó đánh giá, xem xét để đưa ra quyết định thực hiện kiểm toán. Sau khi
khảo sát, đánh giá khách hàng nếu chấp nhận khách hàng Công ty kiểm toán tiến
hành đàm phán về giá phí kiểm toán, thời gian thực hiện kiểm toán… và kí hợp đồng
với khách hàng.
 Lập kế hoạch kiểm toán
Việc lập kế hoạch kiểm toán sẽ được phân thành các bước:
• Lập kế hoạch: Dựa trên những hiểu biết về khách hàng cũng như ngành
nghề, lĩnh vực kinh doanh của khách hàng, KTV xác định mức độ ảnh hưởng của
khoản mục TSCĐ đối với BCTC. Qua đó, KTV tiến hành lập kế hoạch kiểm toán
nhằm đảm bảo chất lượng với chi phí thấp nhất.
+ Hiểu biết về hệ thống kế toán và hệ thống KSNB đối với khoản mục TSCĐ
Trong bước này, KTV thu thập các thông tin liên quan đến các bộ phận của kiểm
soát nội bộ như: các thủ tục kiểm soát, các quy định về kế toán đối với TSCĐ của
đơn vị…
+ Đánh giá ban đầu về rủi ro kiểm toán TSCĐ
Luận văn tốt nghiệp 21 Khoa kế toán
Đánh giá rủi ro là bước công việc quan trọng nhằm giới hạn các công việc cần
thực hiện của cuộc kiểm toán. Dựa trên các thông tin thu thập được từ hệ thống kiểm
soát nội bộ, hệ thống kế toán, KTV đánh giá mức rủi ro kiểm soát của đơn vị. Song
song với đó, KTV đánh giá mức độ rủi ro tiềm tàng của khoản mục TSCĐ dựa vào
các thông tin chung về khách hàng như loại hình kinh doanh, tỉ trọng TSCĐ trên tổng
tài sản... để đánh giá rủi ro tiềm tàng. Từ đó, KTV mức độ rủi ro phát hiện cần đạt
được theo mô hình đánh giá rủi ro.
+ Xác định mức trọng yếu
Việc xác định mức trọng yếu cho toàn bộ BCTC tuy thuộc vào từng loại hình
doanh nghiệp và sự phán đoán nghề nghiệp của KTV. Căn cứ để xác định mức trọng
yếu thường được lựa chọn theo chỉ tiêu về doanh thu, lợi nhuận.
Sau khi đánh giá mức trọng yếu cho toàn bộ BCTC, KTV tiến hành phân bổ mức
trọng yếu đó cho khoản mục TSCĐ. Đây là công việc đòi hỏi KTV phải có kinh
nghiệm và sự am hiểu lĩnh vực hoạt động của khách hàng. Tuy vậy, mức độ trọng
yếu chỉ là tương đối và KTV thường có xu hướng định mức trọng yếu thấp hơn mức
cần thiết để tăng khả năng phát hiện các sai sót.
• Lập chương trình kiểm toán: Là bước công việc nhằm chi tiết kế hoạch đã lập
như: bổ sung cơ sở dẫn liệu, xác định và phân bổ mức trọng yếu, phân công công
việc cụ thể cho từng người trong nhóm kiểm toán. Đây cũng là phương tiện theo dõi,
ghi chép và kiểm tra tình hình thực hiện cuộc kiểm toán.
1.2.2.2. Thực hiện kiểm toán
Đây là giai đoạn thực hiện các công việc đã nêu trong chương trình kiểm toán
bằng:
• Thử nghiệm kiểm soát;
• Thủ tục phân tích;
• Kiểm tra chi tiết.
Luận văn tốt nghiệp 22 Khoa kế toán
Thử nghiệm kiểm soát
Từ những hiểu biết về hệ thống KSNB của khách hàng và những đánh giá ban
đầu về rủi ro kiểm soát, KTV tiến hành thiết lập các thủ tục kiểm toán thích hợp cho
khoản mục TSCĐ nhằm điều chỉnh mức độ rủi ro kiểm toán và xác định phạm vi của
các trắc nghiệm trực tiếp số dư. Các thủ tục kiểm toán viên cần thực hiện:
Xem xét các chứng từ gốc với sổ nhật ký, sổ cái TSCĐ đối với những TSCĐ có
giá trị lớn hay phát sinh ngoài dự toán để đảm bảo các nghiệp vụ liên quan đến TSCĐ
thực sự phát sinh.
Đối chiếu hợp đồng, biên bản và chứng từ liên quan với sổ nhật ký để đảm bảo
các nghiệp vụ liên quan đến TSCĐ phát sinh được ghi nhận đầy đủ
Xem xét việc phê duyệt có phù hợp với các chính sách của Công ty hay không.
Xem xét dấu hiệu phê duyệt trên các chứng từ.
So sánh ngày tháng hợp đồng mua TSCĐ, hóa đơn của người bán với ngày tháng
ghi sổ của TSCĐ đó để đảm bảo các nghiệp vụ được ghi nhận kịp thời.
Thủ tục phân tích
Thủ tục phân tích được tiến hành nhằm đánh giá sự phù hợp của cơ cấu TSCĐ
trên tổng tài sản của doanh nghiệp, mức độ tăng giảm giữa các năm nhằm khoanh
vùng trọng yếu của các nghiệp vụ. Đây là bước công việc đòi hỏi trình độ cũng như
sự am hiểu của KTV về đặc thù kinh doanh của doanh nghiệp. Nếu áp dung tốt thủ
tục phân tích, KTV có thể giảm bớt các công việc cần thực hiện khi kiểm tra chi tiết.
Tùy vào từng loại hình doanh nghiệp, lĩnh vực hoạt động mà KTV sử dụng các tỷ lệ,
tỷ suất khác nhau. Ba loại phân tích cơ bản mà KTV thường dùng trong kiểm toán
TSCĐ là:
Đánh giá tính hợp lý: So sánh giữa kế hoạch đầu tư TSCĐ với thực tế tăng trong
kì, chi phí sửa chữa trích trước so với chi phí thực tế…
Phân tích xu hướng: Phân tích biến động TSCĐ, khấu hao giữa các kì kế toán,
phân tích biến động sửa chữa TSCĐ giữa các kì.
Luận văn tốt nghiệp 23 Khoa kế toán
Phân tích tỷ suất: Các tỷ suất được kiểm toán viên sử dụng tron kiểm toán TSCĐ
như: tỷ suất TSCĐ trên tổng tài sản, tỷ suất giữa chi phí khấu hao trên tổng tài sản, tỷ
suất giữa doanh thu với tổng giá trị TSCĐ, tỷ suất giữa TSCĐ với vốn chủ sở hữu…
Thủ tục kiểm tra chi tiết
Thủ tục kiểm tra chi tiết là việc KTV tiến hành thu thập các ghi chép về số sách
kế toán của doanh nghiệp, các chứng từ liên quan đến các doanh động của doanh
nghiệp từ đó KTV sẽ thực hiện các bước công việc kiểm toán tuy theo các khoản mục
cụ thể để đưa ra các kết luận cho các vấn đề kiểm toán.
Đối với khoản mục TSCĐ, KTV viên sẽ tiến hành kiểm toán theo các bước chính
sau:
 Kiểm tra tổng hợp số dư khoản mục TSCĐ
Đối với những cuộc kiểm toán khách hàng mới, KTV thu thập các thông tin về số
liệu số dư đầu kì của TSCĐ và các bằng chứng về quyền sở hữu của doanh nghiệp
đối với TSCĐ. Đối với các cuộc kiểm toán trong các năm tiếp theo, số liệu này sẽ
được KTV lấy từ hồ sơ năm trước, do vậy, KTV chỉ cần tập trung kiểm tra số phát
sinh trong năm tài chính được kiểm toán.
Công việc đầu tiên khi kiểm toán mỗi khoản mục, KTV phải đảm bảo rằng các số
liệu trên sổ chi tiết phải khớp với các số liệu trên sổ tổng hợp và các bảng khai tài
chính.
Sau đó, KTV tiến hành lập bảng tổng hợp số TSCĐ từ số dư đầu kì, số phát sinh
trong kì để tính ra số dư cuối kì và so sánh với BCTC để đảm bảo rằng khách hàng đã
phản ánh đúng số dư khoản mục TSCĐ.
 Kiểm tra các nghiệp vụ tăng TSCĐ trong kì
Luận văn tốt nghiệp 24 Khoa kế toán
Khi kiểm tra các nghiệp vụ tăng TSCĐ, KTV cần chú ý:
Kiểm tra sự phê chuẩn đối với mọi TSCĐ tăng trong kì và các chứng từ liên quan
để đảm bảo các TSCĐ được đưa vào sử dụng thực thuộc quyền sở hữu kiểm soát của
đơn vị.
Sau đó, KTV chọn mẫu để kiểm tra các chứng từ liên quan đến việc hình thành
TSCĐ nhằm phát hiện những khoản chi cần vốn hóa nhưng không được ghi nhận
hoặc ngược lại để phát hiện những khoản không được phép nhưng vẫn ghi tăng
nguyên giá TSCĐ.
Do TSCĐ được hình thành từ XDCB thường phức tạp do có nhiều nghiệp vụ như
mua nguyên vật liệu, tiền công…nên tiềm ẩn rất nhiều khả năng sai sót. Vì thế, KTV
nên chú trọng vào những TSCĐ loại này, đặc biệt là các TSCĐ có giá mua hoặc
quyết toán xây dựng cơ bản cao hơn dự toán.
Xem xét tính chính xác và hợp lý trong việc xác định nguyên giá TSCĐ
Điều tra mọi khoản ghi tăng mà không tăng hiện vật, thường là những khoản nâng
cấp TSCĐ để đảm bảo các khoản tăng thực sự nâng cao công suất máy móc thiết bị
hay kéo dài tuổi thọ TSCĐ.
Kiểm tra các nghiệp vụ giảm TSCĐ trong kì
Mục đích của bước kiểm toán này chủ yếu là xem xét khả năng TSCĐ đã thanh
lý, nhượng bán trong kì nhưng không được hạch toán vào sổ sách kế toán hay không.
KTV có thể lập hoặc sử dụng bảng kê các nghiệp vụ giảm TSCĐ trong kì và
so sánh số tổng hợp với giá trị tổng cộng các nghiệp vụ giảm trên sổ kế toán, xem xét
mức khấu hao từng TSCĐ và mức khấu hao lũy kế, từ đó tính ra giá trị còn lại của
TSCĐ.
Đối với các TSCĐ cùng loại, nếu trong kì có mua mới TSCĐ thì KTV cần xem
xét TSCĐ cũ có được đem đi thanh lý, nhượng bán hay không.
Kiểm tra các nghiệp vụ thanh lý TSCĐ có được phê duyệt đầy đủ hay không, có
thành lập hội đồng thanh lý hay không.
Luận văn tốt nghiệp 25 Khoa kế toán
 Kiểm tra khấu hao TSCĐ trong kỳ.
Trước tiên, KTV cần phải đánh giá phương pháp khấu hao của đơn vị có phù hợp
với quy định của chuẩn mực và chế độ kế toán hiện hành hay không.
Sau đó, KTV cần chọn mẫu và tính lại mức khấu hao dựa trên phương pháp khấu
hao của khách hàng và lần theo số liệu của các TSCĐ đó trên sổ sách kế toán xem nó
có được tính toán và hạch toán hợp lý hay không.
KTV cũng cần phải thực hiện việc kiểm tra các khoản ghi giảm khấu hao với các
nghiệp vụ thanh lý nhượng bán TSCĐ trong kì.
KTV cũng cần phải xem xét việc phân bổ khấu hao cho các bộ phận sử dụng
TSCĐ có hợp lý không và xem xét chi phí khấu hao có được đơn vị ghi nhận theo
đúng chế độ kế toán hiện hành hay không.
Trong trường hợp TSCĐ được nâng cấp dẫn đến thay đổi mức khấu hao, KTV
cần đánh giá tính đúng đắn của giá trị nguyên giá tăng và mức trích khấu hao thay
đổi.
1.2.2.3. Kết thúc kiểm toán
Từ những kết luận đã được đưa ra trong quá trình kiểm toán KTV sẽ tổng hợp và
đưa ra kết luận kiểm toán và phát hành báo cáo kiểm toán cho khách hàng. Nhằm
đảm bảo chất lượng của cuộc kiểm toán. Trưởng nhóm và các thành viên trong ban
lãnh đạo Công ty kiểm toán sẽ tiến hành soát xét giấy tờ làm việc của các KTV để
khẳng định các sai phạm đã có đầy đủ bằng chứng, các bước công việc đã được tiến
hành theo đúng quy trình của Công ty kiểm toán và phù hợp các chuẩn mực kiểm
toán hiện hành.

Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×