Tải bản đầy đủ

Tiểu luận Kinh tế học: Tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài đối với phát triển kinh tế Việt Nam pdf




Tiểu luận Kinh tế học
Tác động của đầu tư trực tiếp nước
ngoài đối với phát triển kinh tế Việt
Nam

















Tiểu luận Kinh tế học
Nguyễn Hùng Cường Lớp: K18 - ĐHKT - ĐHQGHN
1
LỜI NÓI ĐẦU
Từ năm 1986 đến nay, Việt Nam đang thực hiện chính sách đổi mới
toàn diện mọi mặt của đời sống kinh tế - xã hội, trọng tâm là chuyển đổi nền
kinh tế kế hoạch hóa tập trung quan liêu bao cấp sang nền kinh tế nhiều thành
phần hoạt động theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, Việt Nam
đã nhiều năm duy trì được tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, nhất là gần đây
luôn duy trì tốc độ trên 7%/năm, đời sống của nhân dân ngày càng được nâng
cao, môi trường kinh tế, chính trị được giữ vững… Để có được những thành
tựu trên đã có sự đóng góp của rất nhiều thành phần kinh tế, trong đó thành
phần kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài có vai trò hết sức quan trọng đối với sự
phát triển của nền kinh tế. Do vậy, Nghị quyết Đại biểu toàn quốc lần thứ IX
đã khẳng định kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài là một bộ phận cấu thành nền
kinh tế thị trường. Mặt khác, năm 1987 Luật đầu tư trực tiếp nước ngoài được
ban hành đã thể hiện được quan điểm mở cửa, hội nhập nền kinh tế Việt Nam
với nền kinh tế khu vực và thế giới.
Đầu tư trực tiếp nước ngoài đã đóng góp một nguồn vốn quan trọng của
toàn xã hội, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp
hoá, hiện đại hoá; góp phần nâng cao năng lực quản lý và chuyển giao công
nghệ trên thế giới, mở rộng thị trường và tạo nhiều việc làm.
Tuy nhiên bên cạnh đó hoạt động đầu tư vẫn còn nhiều bất cập, hạn chế
và cần có nhiều biện pháp để khắc phục. Cơ cấu vốn đầu tư theo lĩnh vực và
theo địa bàn chưa đáp ứng yêu cầu của phát triển kinh tế; hiệu quả tổng thể về
mặt kinh tế - xã hội do hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài chưa cao nhà
đầu tư nước ngoài đầu tư vào Việt Nam vẫn còn ít; trình độ lao động trong
các doanh nghiệp nước ngoài còn chưa cao. Nguyên nhân của tình trạng trên
do khung pháp lí về đầu tư còn nhiều phiền hà; thủ tục rườm rà; việc sử dụng
vốn đầu tư nước ngoài đối với các nội dung phát triển kinh tế còn nhiều hạn
chế.
Tiểu luận Kinh tế học
Nguyễn Hùng Cường Lớp: K18 - ĐHKT - ĐHQGHN
2
Qua những phân tích tác động tích cực và hạn chế của đầu tư trực tiếp
nước ngoài vào Việt Nam. Chính vì vậy tôi đã chọn đề tài "Tác động của đầu
tư trực tiếp nước ngoài đối với phát triển kinh tế Việt Nam".
Kết cấu của đề tài gồm 3 phần: Phần mở đầu; phần nội dung; phần kết


luận và tài liệu tham khảo. Tuy nhiên phần nội dung gồm 3 chương:
Chương I: Những vấn đề lý luận về FDI và tác động của FDI đối với
phát triển kinh tế.
Chương II: Đánh giá tác động của FDI với phát triển kinh tế.
Chương III: Một số kiến nghị.
Tiểu luận Kinh tế học
Nguyễn Hùng Cường Lớp: K18 - ĐHKT - ĐHQGHN
3
CHƯƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ FDI VÀ TÁC ĐỘNG
CỦA FDI ĐỐI VỚI PHÁT TRIỂN KINH TẾ.

I. Những vấn đề chung về FDI
1.1. Khái niệm về đầu tư trực tiếp nước ngoài
Theo Lênin cho rằng hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài là hoạt
động "xuất khẩu tư bản" từ các nước tư bản phát triển sang các nước thuộc địa
nhằm duy trì sự áp bức bóc lột và khai thác tài nguyên thiên nhiên.
Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) cũng đã đưa ra định nghĩa về đầu tư trực tiếp
nước ngoài là: "Đầu tư nước ngoài là đầu tư có lợi ích lâu dài của một doanh
nghiệp tại một nước khác (nước nhận đầu tư), không phải tại nước mà doanh
nghiệp đang hoạt động (nước đi đầu tư) với mục đích quản lý một cách có
hiệu quả doanh nghiệp.
Quan điểm về FDI của Việt Nam được quy định tại khoản 1 Điều 2 của
Luật đầu tư nước ngoài:"Đầu tư trực tiếp nước ngoài là việc nhà đầu tư nước
ngoài đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền hoặc bất kỳ tài sản nào đó để tiến hành
đầu tư theo quy định.".
Từ các quan điểm trên về FDI, có thể rút ra định nghĩa về đầu tư trực
tiếp nước ngoài như sau: "Đầu tư trực tiếp nước ngoài là sự di chuyển vốn, tài
sản, công nghệ hoặc bất kỳ tài sản nào từ nước đi đầu tư sang nước tiếp nhận
đầu tư để thành lập hoặc kiểm soát doanh nghiệp nhằm mục đích kinh doanh
có lãi.
1.2. Bản chất và đặc điểm của đầu tư nước ngoài
Bản chất của đầu tư nước ngoài là nhằm mục đích tối đa hóa lợi ích hay
tìm kiếm lợi nhuận và nước tiếp nhận đầu tư thông qua di chuyển vốn (bằng
tiền, tài sản, công nghệ và trình độ quản lý của nhà đầu tư nước ngoài) từ
nước đi đầu tư đến nước tiếp nhận đầu tư. Nhà đầu tư có thể là các tổ chức
kinh tế, cá nhân nước ngoài đầu tư. Đây cũng là đặc điểm cơ bản của FDI.
Đặc điểm của FDI. Ngoài đặc điểm trên, FDI còn có đặc điểm sau đây:
Tiểu luận Kinh tế học
Nguyễn Hùng Cường Lớp: K18 - ĐHKT - ĐHQGHN
4
- FDI mang tính lâu dài: Đầu tư trực tiếp các dòng vốn có thời gian hoạt
động dài, thời gian thu hồi vốn đầu tư ban đầu lâu.
- FDI có sự tham gia quản lý của các nhà đầu tư nước ngoài. Nhà đầu tư
nước ngoài có quyền kiểm soát và tham gia các hoạt động quản lí của các
doanh nghiệp được tiếp nhận vốn đầu tư nước ngoài.
- Đi kèm dự án FDI có 3 yếu tố: hoạt động thương mại; chuyển giao
công nghệ; di cư lao động quốc tế.
- FDI gắn liền với quá trình hội nhập kinh tế quốc tế và tự do hóa đầu
tư giữa quốc gia. Chính sách về FDI của một quốc gia tiếp nhận đầu tư thể
hiện chính sách mở cửa và quan điểm hội nhập đầu tư quốc tế.
- FDI là sự gặp gỡ về nhu cầu của một bên là nhà đầu tư và bên kia là
nước tiếp nhận đầu tư.
II. Tác động của FDI đối với phát triển kinh tế.
2.1. Tác động tích cực
2.1.1. FDI thúc đẩy tăng trưởng kinh tế
Đầu tư trực tiếp nước ngoài có vai trò quan trọng đối với tăng trưởng
kinh tế, giúp cho nước tiếp nhận đầu tư huy động mọi nguồn lực sản xuất
(vốn, lao động, tài nguyên, công nghệ…).
Hoạt động FDI đã trực tiếp đóng góp vào GDP của các nước tiếp nhận
đầu tư, tăng thu nhập của người lao động. Hoạt động FDI thông qua các hoạt
động di chuyển vốn; công nghệ; kỹ năng đã góp phần nâng cao năng suất lao
động của nước tiếp nhận đầu tư.
2.1.2. FDI bổ sung nguồn vốn cho phát triển kinh tế
Nguồn vốn đầu tư cho phát triển được lấy từ 2 nguồn là nguồn vốn
trong nước và nguồn vốn nước ngoài. Nguồn vốn trong nước được hình thành
từ tiết kiệm và đầu tư. Nguồn vốn nước ngoài được hình thành thông qua vay;
đầu tư gián tiếp; đầu tư trực tiếp. Nhưng đối với các nước nghèo và đang phát
triển thì luôn lâm vào tình trạng thiếu vốn. Theo Paul A. Samuelson, thì các
hoạt động sản xuất và đầu tư ở các nước này lâm vào một vòng luẩn quẩn:
Tiểu luận Kinh tế học
Nguyễn Hùng Cường Lớp: K18 - ĐHKT - ĐHQGHN
5
Thu nhập thấp  tiết kiệm và đầu tư thấp  khả năng phát triển của vốn và
tích tụ vốn thấp  không đủ vốn cho đầu tư  năng suất thấp và lại quay trở
lại chu kỳ bàn đầu.
Do vậy để phá vỡ được vòng luẩn quẩn kia thì nguồn vốn đầu tư trực
tiếp nước ngoài là một phương án rất thích hợp và đầu tư trực tiếp nước ngoài
có ưu thế hơn so với các nguồn vốn khác:
- Đầu tư trực tiếp nước ngoài không tạo ra khoản nợ.
- Đầu tư trực tiếp nước ngoài có tính ổn định cao và không thuận lợi
cho việc rút vốn như các khoản vay hoặc đầu tư gián tiếp.
- Lợi nhuận chỉ được chuyển về nước khi dự án tạo ra lợi nhuận và một
phần lợi nhuận được các chủ đầu tư sử dụng để tái đầu tư.
2.1.3. FDI góp phần vào quá trình phát triển công nghệ
Công nghệ có vai trò quan trọng đối với tăng trưởng kinh tế, giúp các
nước đang phát triển theo kịp tốc độ tăng trưởng kinh tế ở các nước công
nghiệp phát triển dựa vào lợi thế của nước đi sau (kế thừa những thành tựu
khoa học kỹ thuật của nhân loại). Hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài có
vai trò đặc biệt quan trọng đối với quá trình phát triển khoa học - công nghệ
nâng cao năng lực sản xuất và nâng cao năng suất lao động tại nước tiếp nhận
đầu tư.
Tác động tích cực của FDI đối với phát triển công nghệ qua:
- Chuyển giao công nghệ: để công nghệ mới và tiên tiến phục vụ hoạt
động sản xuất thì cần phải chuyển giao công nghệ từ các nước phát triển sang
các nước đang phát triển. Do hoạt động chuyển giao công nghệ ngày càng
phức tạp do vậy chuyển giao công nghệ thông qua FDI là một kênh chuyển
giao hiệu quả và chi phí thấp. Chuyển giao công nghệ thông qua FDI đã làm
cho khoảng cách công nghệ giữa nước đi đầu và nước tiếp nhận đầu tư bị thu
hẹp. Hình thức chuyển giao được thực hiện thông qua: Chuyển giao bên trong
là hình thức chuyển giao giữa công ty mẹ và công ty con (nước tiếp nhận đầu
Tiểu luận Kinh tế học
Nguyễn Hùng Cường Lớp: K18 - ĐHKT - ĐHQGHN
6
tư). Chuyển giao bên ngoài được thực hiện giữa các công ty khác nhau liên
doanh với doanh nghiệp trong nước; hỗ trợ công nghệ…
- Hoạt động phổ biến công nghệ: Hoạt động FDI tạo ra hiệu ứng tích
cực đối với các doanh nghiệp của nước tiếp nhận đầu tư (i) thông qua cạnh
tranh sẽ thúc đẩy việc cải thiện và nâng cao công nghệ trong nước; (ii) di
chuyển lao động từ nơi có trình độ công nghệ cao đến các nước đang phát
triển góp phần chuyển giao công nghệ).
2.1.4. Nâng cao chất lượng lao động
Chất lượng lao động có ảnh hưởng không nhỏ đến tốc độ tăng trưởng
kinh tế của một quốc gia. FDI tác động đến vấn đề lao động của nước tiếp
nhận đầu tư cả về số lượng lẫn chất lượng. Số lượng là việc giải quyết việc
làm cho người lao động. Còn chất lượng lao động, FDI làm thay đổi cơ bản
nâng cao năng lực và kỹ năng lao động thông qua: đào tạo trực tiếp và gián
tiếp nâng cao trình độ lao động.
- Trực tiếp đào tạo: Do các công ty nước ngoài hoặc có doanh nghiệp
có vốn FDI phải tuyển dụng lao động địa phương. Để lao động địa phương có
thể sử dụng thành thạo những công nghệ tiên tiến đã được chuyển giao,
phương thức đào tạo có thể là: đào tạo trực tiếp thông qua các khóa học do
các chuyên gia của công ty giảng dạy hoặc kết hợp với các cơ sở đào tạo
trong nước tiếp nhận đầu tư.
- Gián tiếp nâng cao chất lượng lao động của nước tiếp nhận đầu tư.
Các nước đầu tư FDI yêu cầu đầu tư vào nước có chất lượng lao động cao để
không mất nhiều thời gian và chi phí đào tạo. Do vậy, với chính sách thu hút
đầu tư nước ngoài các nước tiếp nhận đầu tư phải có chiến lược phát triển
nguồn nhân lực có hiệu quả để đáp ứng được yêu cầu tuyển dụng.
2.1.5. FDI góp phần giải quyết việc làm cho người lao động, tăng thu
nhập cho người lao động
Giải quyết việc làm tại các nước tiếp nhận đầu tư: hoạt động đầu tư đã
góp phần làm giảm tỉ lệ thất nghiệp ở những quốc gia này. Thứ nhất: trực tiếp
Tiểu luận Kinh tế học
Nguyễn Hùng Cường Lớp: K18 - ĐHKT - ĐHQGHN
7
tạo việc làm bằng cách tuyển dụng lao động địa phương vào các doanh nghiệp
có vốn FDI. Thứ hai, FDI gián tiếp tạo ra việc làm thông qua các doanh
nghiệp cung cấp hàng hoá và dịch vụ cho các doanh nghiệp có vốn FDI.
Vấn đề nâng cao thu nhập, người lao động làm việc trong các công ty
có vốn FDI thường cao hơn so với làm tại các doanh nghiệp trong nước.
Nguyên nhân là (i) sản lượng sản xuất tại các doanh nghiệp FDI thường cao
hơn với các doanh nghiệp trong nước; (ii) lao động có chất lượng cao hơn;
(iii) công ty GDI có thị trường rộng lớn và quy mô lớn.
2.1.6. FDI góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế của nước tiếp nhận đầu

Cơ cấu đầu tư của một quốc gia là cấu trúc của nền kinh tế hay nói các
khác là tổng thể các mối quan hệ hữu cơ giữa các yếu tố cấu thành nền kinh
tế.
Ba yếu tố cơ bản cấu thành nên cơ cấu kinh tế của một quốc gia là: (i)
cơ cấu thành phần kinh tế; (ii) cơ cấu ngành kinh tế; (iii) cơ cấu vùng kinh tế.
Trng số ba yếu tố đó, cơ cấu ngành kinh tế đóng vai trò quan trọng nhất quyết
định hình thức của những cơ cấu kinh tế khác. Do vậy, việc thay đổi cơ cấu
ngành kinh tế sẽ làm thay đổi cơ cấu kinh tế của một quốc gia. Một cơ cấu
kinh tế hợp lý ở nước tiếp nhận đầu tư sẽ thúc đẩy nền kinh tế phát triển. Hoạt
động đầu tư trực tiếp nước ngoài đi kèm với vốn, kỹ năng và trình độ quản lý
có tác động mạnh đến cơ cấu ngành kinh tế dẫn đến làm thay đổi và dịch
chuyển cơ bản cơ cấu kinh tế của nước tiếp nhận đầu tư.
Việc nghiên cứu hoạt động đầu tư trực tiếp của nước ngoài cho thấy
một đặc điểm là nguồn đầu tư đó chủ yếu nhằm vào cácngành công nghiệp và
dịch vụ. Đối với ngành nông nghiệp, tỷ lệ của nguồn vốn đầu tư đó là tương
đối thấp hoặc nếu có thì chủ yếu đầu tư vào lĩnh vực công nghiệp chế biến.
Như vậy, nhìn chung hoạt động FDI sẽ góp phần làm cho cơ cấu kinh tế của
nước tiếp nhận đầu tư chuyển dịch theo hướng tương đối ngành công nghiệp
và dịch vụ so với ngành nông nghiệp.
Tiểu luận Kinh tế học
Nguyễn Hùng Cường Lớp: K18 - ĐHKT - ĐHQGHN
8
2.1.7. Một số tác động tích cực khác
- FDI góp phần bảo vệ môi trường, khai thác hiệu quả tài nguyên thiên
nhiên.
- FDI góp phần vào quá trình mở rộng hợp tác kinh tế quốc tế.
2.2. Những thách thức; hạn chế của FDI
2.2.1. Vấn đề về bổ sung nguồn vốn cho phát triển kinh tế
Thứ nhất, vốn do hoạt động FDI cung cấp có chi phí vốn cao hơn so với
các nguồn vốn khác từ nước ngoài (vay thương mại hoặc vay giữa các chính
phủ).
Thứ hai, vốn do hoạt động FDI có thể ảnh hưởng đến chính sách tiền tệ
của quốc gia tiếp nhận đầu tư. Nếu vốn FDI được cung cấp là lớn sẽ giảm cầu
tiền, làm tăng lạm phát và ảnh hưởng đến kế hoạch điều chỉnh chính sách tiền
tệ.
2.2.2. Về môi trường, chuyển giao công nghệ về hiệu quả sản xuất
Về vấn đề môi trường: tốc độ tăng trưởng cao sẽ phải sử dụng nhiều tài
nguyên thiên nhiên và chất thải từ hoạt động sản xuất là nguyên nhân chính
gây tình trạng ô nhiễm môi trường. Hoạt động đầu tư trực tiếp chủ yếu được
tiến hành trong công nghiệp và những chất thải nếu không xử lí tốt sẽ gây ô
nhiễm môi trường. Ngoài nguyên nhân trên còn có việc chuyển giao công
nghệ lạc hậu từ nước đi đầu tư sang nước nhận đầu tư cũng là một nguyên
nhân gây ô nhiễm môi trường. Vì chuyển giao công nghệ mang lại lợi ích cho
nhà đầu tư và mang lại hậu quả cho nước nhận đầu tư. Thứ nhất: thải công
nghệ lạc hậu để đổi mới công nghệ nước mình. Thứ hai, việc chuyển giao
mang lại nguồn thu cho nước đi đầu tư.
Về chuyển giao công nghệ và hiệu quả sản xuất: Chuyển giao công
nghệ lạc hậu làm giảm hiệu quả sản xuất tại các nước tiếp nhận đầu tư, công
nghệ hóa học sẽ kìm hàm sự phát triển kinh tế của các nước tiếp nhận đầu tư.
2.2.3. Những thách thức, hạn chế của FDI
Tiểu luận Kinh tế học
Nguyễn Hùng Cường Lớp: K18 - ĐHKT - ĐHQGHN
9
- FDI làm gia tăng khoảng cách giàu nghèo của các nước tiếp nhận đầu

Hoạt động FDI một mặt làm tăng thu nhập cho địa phương. Mặt khác
nó chỉ ưa thích những vùng, những địa phương có điều kiện thuận lợi, đó
cũng thường là những nơi khá giả. Bởi vậy, FDI sẽ làm cho những nơi giàu
thì giàu nhanh hơn, còn những vùng khó khăn nơi khó mời gọi FDI thì thay
đổi một cách chậm chạp.
2.2.4. Tác động khác
a) Về cạnh tranh
Những công ty FDI thường sở hữu công nghệ hiện đại, trình độ tổ chức
sản xuất tiên tién, vốn lớn so với các doanh nghiệp trong nước. Đó là những
đối thủ cạnh tranh đáng sợ đối với các doanh nghiệp trong nước. Không ít
trường hợp hàng hoá và dịch vụ của các công ty đa quốc gia chiếm dần thị
trường của các doanh nghiệp bản địa, thậm chí khiến các doanh nghiệp này đi
đến phá sản hoặc bị thôn tính.
b) Về lao động
Người lao động làm trong doanh nghiệp FDI thường đòi hỏi phải có
trình độ lao động cao nếu không đáp ứng thường bị xa thải. Một trong những
nguyên nhân khác dẫn đến tình trạng người lao động bị sa thải đó là sự hợp
nhất, sáp nhập và giải thể của các công ty, tập đoàn kinh tế mạnh trên thế giới
ngày càng tăng lên.

Tiểu luận Kinh tế học
Nguyễn Hùng Cường Lớp: K18 - ĐHKT - ĐHQGHN
10

CHƯƠNG II
ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI
VỚI PHÁT TRIỂN KINH TẾ VIỆT NAM

I. Tác động tích cực đối với phát triển kinh tế
1.1. FDI thúc đẩy tăng trưởng kinh tế
Tốc độ tăng trưởng kinh tế của Việt Nam qua các thời kỳ là không ổn
định. Thời kỳ đạt tốc độ tăng trưởng kinh tế cao là 1992 - 1997 với tốc độ
tăng trưởng GDP trên 8%. Sau thời gian chịu ảnh hưởng của cuộc khủng
hoảng tiến độ của khu vực 1997-1998 tốc độ tăng GDP có xu hướng giảm
xuát đạt thấp nhất vào năm 1999 là 4,77%. Tuy nhiên trong những năm gần
đây tốc độ tăng GDP của Việt Nam tương đối ổn định 6,8% (2001); 7,12
(2002); 7,24 (2003);…
Hoạt động FDI trong thời gian vừa qua đóng góp vai trò quan trọng làm
gia tăng GDP. Từ mức đóng góp 2% của hoạt động GDI với GDP năm 1992
nhưng trong 5 năm gần đây 2002-2006, tỉ lệ này là 13,9%; 14,3%; 15,1%;
15,9%; 17. Như vậy, tốc độ tăng trưởng kinh tế Việt Nam cùng chiều với sự
đóng góp của hoạt động GDP.
1.2. FDI bổ sung nguồn vốn cho phát triển kinh tế
Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam trong những năm gần
đây đã tăng lên đặc biệt là từ khi Việt Nam gia nhập WTO năm 2006. Vốn
đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam năm 2003 đạt 4000 tỷ đồng; năm
2004 khoảng 4200 tỷ đồng; năm 2005 là 5300 tỷ đồng.
1.3. Góp phần chuyển giao công nghệ
Hoạt động FDI đã góp phần nâng cao năng lực cho các doanh nghiệp
có vốn FDI nói chung và các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế Việt
Nam nói riêng. Thông qua hoạt động FDI đã tạo ra những hiệu ứng tích cực
thúc đẩy việc nghiên cứu và áp dụng những thành tựu khoa học, công nghệ
trong hoạt động sản xuất kinh doanh. Nhiều công nghệ mới và hiện đại đã
Tiểu luận Kinh tế học
Nguyễn Hùng Cường Lớp: K18 - ĐHKT - ĐHQGHN
11

được chuyển giao thông qua hoạt động FDI, tạo ra một bước ngoặt quan trọng
trong sự phát triển một số ngành kinh tế muix nhọn của đất nước. Việc
chuyển giao những công nghệ mới, hiện đại vào Việt Nam không chỉ có lợi
cho hoạt động sản xuất của doanh nghiệp có vốn FDI mà còn có tác động phổ
biến những công nghệ này ho các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế
khác, thúc đẩy hoạt động nghiên cứu khoa học và ứng dụng công nghệ mới
trong các hoạt động khác ở Việt Nam. Đặc biệt là trong ngành công nghiệp và
xây dựng tại các dự án FDI trong lĩnh vực này đều có công nghệ hiện đại hơn
so với các công nghệ vốn có trước khi có hoạt động FDI. Cụ thể hơn là các
nhà đầu tư nước ngoài đã chuyển giao và phát triển tại Việt Nam công nghệ
khai thác dầu khí ngoài khơi; công nghệ dây chuyền lắp ráp tự động trong các
lĩnh vực lắp ráp điện tử, ô tô xe máy; công nghệ sử dụng trong lĩnh vực viễn
thông. Còn trong ngành nông - lâm - ngư nghiệp hoạt động đầu tư chủ yếu tập
trung vào những dây chuyền chế biến hàng nông sản; nhiều loại vật nuôi,
giống cây trồng mới cũng được nhập khẩu và chuyển giao vào nước ta. Mặt
khác nhiều ngành, viện nghiên cứu đã tạo ra được công nghệ hiện đại có chất
lượng tương đương với công nghệ nhập khẩu.
Như vậy việc chuyển giao công nghệ hiện đại vào Việt Nam đã góp
phần nâng cao năng lực sản xuất của nền kinh tế, gia tăng tốc độ tăng trưởng
kinh tế và góp phần vào quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở nước ta.
1.4. Giải quyết việc làm và nâng cao chất lượng lao động
1.4.1. Giải quyết việc làm cho nền kinh tế
Vấn đề giải quyết việc làm cho người lao động hiện đang được toàn xã
hội quan tâm và coi đây là yếu tố co sự phát triển bền vững xã hội. Việc giảm
tỉ lệ thất nghiệp tạo ra những hiệu ứng tích cực, giảm các tệ nạn xã hội…
Hoạt động FDI ở Việt Nam, nhà đầu tư nước ngoài không những trực tiếp thu
hút và sử dụng lao động mà còn giải quyêt được việc làm gián tiếp.
- Đối với việc giải quyết việc làm trực tiếp. Lực lượng lao động trong
các dự án có vốn FDI ngày càng tăng qua các năm. Năm 1994 là 8,8 vạn lao
Tiểu luận Kinh tế học
Nguyễn Hùng Cường Lớp: K18 - ĐHKT - ĐHQGHN
12

động. Nhưng đến năm 2001 đã thu hút thêm 6,9 vạn; năm 2002 có thêm 17,5
vạn lao động vào khu vực FDI; năm 2003 thu hút thêm 7,5 vạn lao động.
- Đối với giải quyết việc làm cho người lao động của khu vực FDI
thông qua tác động gián tiếp. Cùng với sự phát triển của khu vực FDI, một số
khu vực sản xuất và cung ứng sản phẩm dịch vụ cho khu vựcnày thuộc các
thành phần kinh tế khác cũng phát triển theo. Hiện nay với chính sách tăng tỷ
lệ nội địa hóa trong các doanh nghiệp có vốn FDI đã hình thành nên các
doanh nghiệp vệ tinh cung ứng sản phẩm và dịch vụ cho các doanh nghiệp
FDI. Chính sự thành lập các doanh nghiệp này đã thu hút được rất nhiều lao
động, làm giảm tỷ lệ thất nghiệp.
Như vậy ngài khả năng thu hút lao động trực tiếp thì khu vực FDI đã
đóng vai trò quan trọng đối với thu hút lao động gián tiếp của các doanh
nghiệp khác thuộc mọi thành phần kinh tế.
1.4.2. Nâng cao chất lượng lao động
Có thể nhận thấy rằng chất lượng lao động trong khu vực FDI cao hơn
so với khu vực thuộc các thành phần kinh tế khác. Thông qua hoạt động FDI,
người lao động đã được đào tạo nâng cao về trình độ khoa học công nghệ và
và quản lý, đủ sức thay thế được chuyên gia nước ngoài được tiếp thu kỹ
thuật, công nghệ tiên tiến, được làm việc trong môi trường thuận lợi hơn;
được rèn luyện tác phong làm việc; thu nhập ngày càng cao hơn. Sau đây là
những đánh giá cụ thể:
Thứ nhất: yêu cầu và trình độ người lao động.
Yêu cầu về trình độ lao động trong khu vực FDI cao hơn nhiều đối với
doanh nghiệp trong nước. Yêu cầu này gián tiếp nâng cao chất lượng lao động
Việt Nam. Mặt khác yêu cầu này còn khuyến khích, nâng cao ý thức rèn
luyện và trình độ của người lao động trước khi tham gia vào khu vực FDI. Có
thể đánh giá trình độ của người lao động trước khi tham gia vào khu vực FDI.
Có thể đánh giá trình độ của người lao động thông qua chỉ tiêu vốn đầu tư/lao
động. Bởi vì, trong trường hợp các yếu tố khác không thay đổi thì tỷ lệ vốn
Tiểu luận Kinh tế học
Nguyễn Hùng Cường Lớp: K18 - ĐHKT - ĐHQGHN
13

trên lao động cao thì trình độ càng cao. Trình độ công nghệ cao đòi hỏi trình
độ lao động phải tương ứng để sử dụng có hiệu quả công nghệ. Như lĩnh vực
khai thác mỏ (531.352 USD/lao động), lĩnh vực xây dựng (149.114 USD/lao
động); lĩnh vực tài chính (196.653 USD/lao động)…
Thứ hai: về điều kiện làm việc. Điều kiện làm việc tại khu vực có vốn
FDI tốt hơn nhiều so với các doanh nghiệp có vốn đầu tư trong nước của cùng
1 ngành, 1 lĩnh vực. Các điều kiện về nhà xưởng, công cụ lao động, môi
trường lao động đều tốt hơn rất nhiều.
Thứ ba: về đào tạo người lao động, chi phí đào tạo lao động trong
doanh nghiệp FDI là rất lớn. Như vậy đào tạo lao động là vấn đề quan tâm
hàng đầu của nhà đầu tư nước ngoài và người Việt Nam chưa quen với tác
phong làm việc và trình độ sử dụng công nghệ tiến tiến.
Thứ tư: nâng cao thu nhập cho người lao động. Hoạt động FDI cũng
đem lại một thu nhập đáng kể cho người lao động.
1.5. FDI góp phần chuyển dịch cơ cấu theo hướng công nghiệp hoá,
hiện đại hoá
Trong thời gian qua dòng vốn FDI chảy chủ yếu vào hai ngành là công
nghiệp và dịch vụ, với tỷ trọng vốn đăng ký và vốn thực hiện đều tăng cao
hơn nhiều so với vốn vào ngành nông nghiệp. Cụ thể:
Ngành công nghiệp: Đến cuối năm 2003, FDI trong ngành công nghiệp
và xây dựng chiếm 56% vốn đăng ký và 82% vốn thực hiện. Về giá trị sản
lượng công nghiệp, khu vực FDI chiếm gần 35%, với tốc độ tăng trưởng trên
20%/năm, góp phần đưa tốc độ tăng trưởng của ngành công nghiệp cả nước
đạt gần 13%/năm. Hiện nay, khu vực FDI chiếm 100% về khai thác dầu thô,
sản xuất ô tô, máy giặt, tủ lạnh, điều hòa nhiệt độ, thiết bị văn phòng… Ngoài
ra FDI còn chiếm khoảng 60% sản lượng thép cán, 28% về xi măng, 33% về
sản xuất máy móc thiết bị điện, điện tử, 76% dụng cụ y tế chính xác… Trong
công nghiệp nhẹ, FDI chiếm 55% về sản lượng sợi các loại, 30% vải, 49% về
da giầy dép, 18% sản phẩm may, 25% về thực phẩm và đồ uống…
Tiểu luận Kinh tế học
Nguyễn Hùng Cường Lớp: K18 - ĐHKT - ĐHQGHN
14

Ngành dịch vụ: Đến cuối năm 2003, FDI trong các ngành dịch vụ
chiếm 36% vốn đăng ký và 12% vốn thực hiện.
Ngành nông nghiệp: Đến cuối năm 2003, FDI trong các ngành nông -
lâm - ngư nghiệp chỉ chiếm 8% vốn đăng ký và 6% vốn thực hiện.
1.6. Một số tác động khác
Hoạt động FDI ngoài những tác động trên; hoạt động FDI còn có tác
dụng tích cực khác như chuyển dịch cơ cấu kinh tế; góp phần vào quá trình
mở rộng quan hệ đối ngoại và hội nhập kinh tế quốc tế, tăng thu ngân sách
Nhà nước,…
II. Những thách thức và hạn chế của FDI
Ngoài những tác động tích cực thì bên cạnh đó còn có những thách thức
hạn chế cần khắc phục.
2.1. Về bổ sung nguồn vốn cho phát triển kinh tế
Vốn FDI chiếm tỷ trọng thấp trong tổng số vốn đầu tư phát triển của
toàn xã hội. Trong thời kỳ đầu các nhà đầu tư nước ngoài chủ yếu đầu tư vào
Việt Nam dưới hình thức liên doanh. Vốn góp của bên nước ngoài trong các
doanh nghiệp liên doanh dưới nhiều hình thức tuy vậy chủ yếu vẫn là máy
móc thiết bị, công nghệ… Do đó vốn đầu tư bằng tiền là chưa cao. Mặt khác
các nước có tiềm lực như Anh, Mỹ… khi đầu tư vào Việt Nam vẫn thận trọng
nên vốn đầu tư là chưa cao.
2.2. Về chuyển giao công nghệ
Về phương thức chuyển giao công nghệ: được thực hiện thông qua các
hình thức: liên doanh, doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài; hợp tác
kinh doanh. Nhưng chủ yếu vẫn là hình thức liên doanh. Tuy vậy, phương
thức chuyển giao này vẫn gặp khó khăn.
Thứ nhất: Việc thành lập doanh nghiệp chủ yếu được thực hiện chủ yếu
giữa doanh nghiệp Nhà nước và các nhà đầu tư nước ngoài.
Tiểu luận Kinh tế học
Nguyễn Hùng Cường Lớp: K18 - ĐHKT - ĐHQGHN
15

Thứ hai: Chính sách bảo hộ của Việt Nam với việc sản xuất trong nước
khuyến khích thay thế hàng nhập khẩu cũng là một trong những nguyên nhân
làm hạn chế việc chuyển giao công nghệ.
Về đối tác chuyển giao công nghệ chủ yếu là các nước châu Á và chủ
yếu đầu tư vào công nghệ nhẹ (may mặc…); xây dựng văn phòng… nên việc
chuyển giao công nghệ vào Việt Nam còn nhiều hạn chế.
Về mặt công nghệ, công nghệ chuyển giao vào Việt Nam thường là
công nghệ cũ và lạc hậu. Do chính sách về chuyển giao công nghệ còn lỏng
lẻo, hạn chế. Lợi dụng kẽ hở này mà nước ngoài đã chuyển vào Việt Nam
những công nghệ đã khấu hao hết.
2.3. Vấn đề ô nhiễm môi trường
Một trong những nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường ở Việt Nam là
do chuyển giao công nghệ lạc hậu, máy móc thiết bị cũ hoặc đã khấu hao hết.
Việc chuyển giao công nghệ lạc hậu đã biến Việt Nam trở thành "bãi thải
công nghệ, máy móc thiết bị" do nước ngoài thải ra. Những thiết bị công nghệ
lạc hậu khi được sử dụng tại Việt Nam gây tình trạng ô nhiễm môi trường
nước, không khí và đất.
2.4. Về lao động
Bên cạnh những mặt tích cực do đầu tư nước ngoài mang lại như giải
quyết việc làm, cải thiện môi trường làm việc, tăng thu nhập cho người lao
động… thì mối quan hệ giữa người sử dụng lao động và người lao động đang
trở thành một vấn đề xã hội nhiều người quan tâm. Nhà đầu tư nước ngoài và
mục tiêu lợi nhuận cao đã không thực hiện đúng, đầy đủ các quy định của
Luật lao động: thời gian làm việc cách đối xử với người lao động, trả lương…
Những việc làm này đã gây phản ứng trong dư luận xã hội, gây nên những
cuộc đình công không cần thiết và làm mất trật tự an toàn xã hội. Đã có nhiều
cuộc đình công đã xảy ra tại các công ty đầu tư của Đài Loan, Hàn Quốc do
các ông chủ người nước ngoài ở đây ngược đãi người lao động.
2.5. Cơ cấu vốn đầu tư không hợp lý dẫn đến bóp méo cơ cấu kinh tế
Tiểu luận Kinh tế học
Nguyễn Hùng Cường Lớp: K18 - ĐHKT - ĐHQGHN
16

Trên thực tế, tác động của vốn FDI đối với cơ cấu kinh tế của Việt Nam
còn nhiều điểm bất hợp lý. Sự tác động này có thể nhìn nhận trên khía cạnh
cơ cấu vốn đầu tư theo ngành kinh tế và địa bàn đầu tư.

a) Theo ngành kinh tế
Vốn đầu tư FDI chủ yếu được đầu tư vào công nghiệp. Tỷ trọng đầu tư
tập trung vào ngành này về quy mô đầu tư cơ bản đã đáp ứng được yêu cầu
cải thiện cơ cấu kinh tế của Việt Nam. Tuy nhiên, nhìn vào chất lượng vốn
đầu tư trong từng lĩnh vực so với yêu cầu phát triển kinh tế của Việt Nam theo
hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá là chưa đạt yêu cầu. Tỷ trọng vốn đầu tư
vào ngành công nghiệp nặng thấp hơn so với vốn đầu tư vào ngành công
nghiệp nhẹ (trừ lĩnh vực dầu khí): công nghiệp chế biến chiếm 70,9% tổng số
vốn đăng ký của cả ngành công nghiệp. So với ngành công nghiệp, vốn đầu tư
vào ngành dịch vụ còn thấp, chiếm 24,22% tổng vốn thực hiện (1988-
306/2006 - nguồn: Bộ Kế hoạch đầu tư) chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển
kinh tế theo hướng hiện đại hóa. Hơn nữa, tỷ trọng vốn đầu tư cho ngành
nông - lâm - ngư còn rất hạn chế, chiếm 6,74% tổng vốn thực hiện (1988-
30/6/2006) và không ngừng giảm từ 21,6% (1988-1990) xuống 14,3% (1991-
1995) và chỉ còn 3% (1996-2000) chưa đáp ứng được nhu cầu của chiến lược
công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn trong bối cảnh toàn cầu
hóa. Mặt khác, số dự án thành công không nhiều do gặp rủi ro về thiên tai,
nguồn nguyên liệu không ổn định, chưa xây dựng được quan hệ hợp đồng dài
hạn cùng có lợi cho người nông dân.
b) Theo địa bàn đầu tư
Vốn đầu tư vấn chủ yếu tập trung vào những vùng có điều kiện kinh tế -
xã hội thuận lợi như: Thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Bình Dương, Bà
Rịa- Vũng Tàu, Hà Nội, Hải Phòng. Số vốn FDI đổ vào các tỉnh này chiếm
trên 80% tổng FDI của cả nước. Ngược lại, vốn đầu tư giành cho các vùng có
Tiểu luận Kinh tế học
Nguyễn Hùng Cường Lớp: K18 - ĐHKT - ĐHQGHN
17

điều kiện khó khăn thì rất thấp. Sự chênh lệch vốn đầu tư giữa các vùng góp
phần đào sâu thêm khoảng cách về trình đọ phát triển và thu nhập.
2.6. Hoạt động FDI làm gia tăng khoảng cách thu nhập
Hệ số GINI (phản ánh sự bất bình đẳng trong thu nhập, càng cao càng
bất bình đẳng) của cả nước tăng từ 0,34 năm 1995 lên 0,37 năm 2005; Trong
đó, thành thị tăng nhanh hơn nông thôn, vùng phát triển tăng nhanh hơn vùng
kém phát triển. Tỷ lệ nghèo giảm nhưng không đều còn 10% ở Đông Nam Bộ
so với 51,8% ở Tây Nguyên. Một cách cụ thể hơn:
- Chênh lệch giữa thành thị và nông thôn: 20% dân thành thị làm ra
70% GDP, tỷ trọng khu vực dịch vụ ở thành thị là 60%, ở nông thôn chỉ là
15%. Chênh lệch thu nhập bình quân đầu người giữa thành thị và nông thôn
tăng từ 6 lên 8 lần.
- Khoảng cách giữa vùng trọng điểm kinh tế với các vùng khó khăn
ngày càng tăng về nhiều chỉ tiêu kinh tế - xã hội: tốc độ tăng trưởng gấp 2 lần;
mức thu nhập bình quân 2 lần; thu ngân sách 4 lần; nước sạch 1,5 lần; điện,
truyền hình 1,3 lần.
- Giữa các tầng nhóm thu nhập: Chênh lệch giữa nhóm giàu nhất và
nghèo nhất là 8 lần; chỉ số về giáo dục là 6 lần; chỉ số y tế, sức khỏe 4 lần; chỉ
số về nhà ở, điện nước là 10,4 lần; thiết bị đồ dùng gia đình 7,6 lần; bưu điện
15,8 lần; vui chơi giải trí gấp 95 lần.
- Chênh lệch thu nhập giữa lao động và làm việc trong khu vực FDI với
lao động khác: Lương của lao động trong khu vực FDI gấp 1,2-2 lần so với
lao động khác.
Tất nhiên, không thể hoàn toàn đổ lỗi gây ra hậu quả trên là do khu vực
FDI, nhưng ở một mức độ nào đó là có cơ sở. Bởi vì, một mặt FDI sẽ góp
phần làm giàu lên cho địa phương hay lĩnh vực mà nó đầu tư. Mặt khác nó lại
chỉ ưa thích những địa phương, lĩnh vực có điều kiện hấp dẫn, đó phần lớn lại
rơi vào những nơi đã sẵn khá giả. Những vùng khó khăn thì mãi trong vòng
Tiểu luận Kinh tế học
Nguyễn Hùng Cường Lớp: K18 - ĐHKT - ĐHQGHN
18

luẩn quẩn: vì nghèo nên không được đầu tư và vì không được đầu tư nên vẫn
hoàn nghèo.

Tiểu luận Kinh tế học
Nguyễn Hùng Cường Lớp: K18 - ĐHKT - ĐHQGHN
19

CHƯƠNG III
MỘT SỐ KIẾN NGHỊ

Mục tiêu thu hút và sử dụng có hiệu quả nguồn vốn FDI cho phát triển
kinh tế ở Việt Nam trong thời gian tới phải phù hợp với mục tiêu đặt ra trong
chiến lược phát triển kinh tế xã hội đến năm 2010. Đưa Việt Nam ra khỏi tình
trạng kém phát triển, nâng cao rõ rệt đời sống vật chất, tinh thần cho nhân
dân, tạo nền tảng đưa nước ta trở thành nước công nghệp. Nguồn lực con
người, an ninh, công nghệ, kết cấu hạ tầng được nâng cao; giữ vững vị thế của
Việt Nam trên trường quốc tế. Trên cơ sở đó, mục đích của giải pháp nhằm
thu hút và sử dụng hiệu quả FDI trong thời gian tới là phải thu hút đầu tư từ
các nước công nghiệp phát triển, những tập đoàn kinh tế lớn, các công ty đa
quốc gia lớn mạnh trên thế giới.
Với mục tiêu như vậy, thì sau đây là một số giải pháp được sử dụng:
1. Thủ tục đăng ký và thành lập doanh nghiệp FDI
Hiện nay thủ tục đăng ký và thành lập doanh nghiệp FDI còn gây trở
ngại đối với nhà đầu tư nước ngoài. Khi thành lập doanh nghiệp nhà đầu tư
hải qua nhiều cửa, làm rất nhiều thủ tục để có giấy phép thành lập doanh
nghiệp. Do vậy, trong thời gian tới cần phải có chính sách "một cửa" đối với
các thủ tục thành lập doanh nghiệp nghĩa là sẽ giải quyết hồ sơ xin thành lập
doanh nghiệp trong thời gian ngắn.
Về thời gian cấp phép thành lập doanh nghiệp FDI rút ngắn thời gian
cấp giấy phép đầu tư cho các doanh nghiệp FDI để đáp ứng yêu cầu của nhà
đầu tư.
2. Đa dạng hóa các hình thức đầu tư
Cần đa dạng hóa các hình thức đầu tư để tăng cường mức độ tham gia
của nhà đầu tư nước ngoài. Cần mở rộng các danh mục của dự án cho phép
nhà đầu tư nước ngoài chủ động lựa chọn lĩnh vực kinh doanh ngoại trừ lĩnh
vực an ninh quốc phòng, lĩnh vực dân sinh quan trọng.
Tiểu luận Kinh tế học
Nguyễn Hùng Cường Lớp: K18 - ĐHKT - ĐHQGHN
20

3. Hoàn thiện tổ chức bộ máy, nâng cao hiệu quả quản lý Nhà nước đối
với đầu tư trực tiếp nước ngoài.
- Cần loại bỏ tình trạng chồng chéo, trùng lắp thậm chí mâu thuẫn trong
quản lý đối với các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài ở các vùng, miền. Tập
trung nguồn vốn FDI vào những địa bàn trọng điểm.
4. Thu hút lao động nước ngoài có trình độ cao và đảm bảo sự tham gia
các bên trong việc giải quyết các vấn đề lao động.
Cần có biện pháp tạo điều kiện tự do đi lại cho các nhà đầu tư nước
ngoài tiến tới xóa bỏ thị thực lưu trú ngắn hạn cho người lao động và nhà đầu
tư nước ngoài.
5. Hoàn thiện hệ thống pháp quy về bảo vệ môi trường áp dụng chung
cho cả doanh nghiệp trong nước và nước ngoài.
Cần cụ thể hóa các quy định về môi trường, hợp lí hóa các qui định và
tiêu chuẩn hóa môi trường. Cơ quan quản lý liên quan cần cung cấp đầy đủ
thông tin về quy định bảo vệ môi trường, tư vấn cho các doanh nghiệp nước
ngoài rong quá trình thực hiện. Một mặt hạn chế việc gây khó dễ một cách
không cần thiết trong quá trình thực hiện công tác quản lý. Mặt khác cần kiên
quyết xử lý các trường hợp vi phạm.
Ngoài ra, cần tăng cường áp dụng các công cụ kinh tế trong quản lý ô
nhiễm. Có hai biện pháp thường sử dụng: Thứ nhất, thu phí đối với người gây
ô nhiễm, đảm bảo rằng người gây ô nhiễm phải trả tiền và phải trả số tiền cao
hơn chi phí cho việc tuân thủ quy định về tiêu chuẩn môi trường. Thứ hai quy
định hạn ngạch gây ô nhiễm.
6. Nâng cao tác động của FDI đối với tăng trưởng kinh tế
Thứ nhất: đối với lĩnh vực công nghiệp
- Sử dụng vốn FDI vào các ngành công nghiệp có khả năng phát huy lợi
thế cạnh tranh trên thị trường quốc tế, nhằm đẩy mạnh xuất khẩu như may
mặc, giầy da.
Tiểu luận Kinh tế học
Nguyễn Hùng Cường Lớp: K18 - ĐHKT - ĐHQGHN
21

- Sử dụng vốn FDI trong lĩnh vực phát triển công nghiệp phụ trợ. Để
phát triển các ngành công nghiệp phụ trợ cần phải: xây dựng các trung tâm
đào tạo kinh doanh và công nghệ, xây dựng các khu công nghiệp.
- Sử dụng vốn FDI vào các ngành công nghiệp nặng và những công
nghệ có hàm lượng công nghệ cao: điện tử, tự động hóa, sản xuất vật liệu
mới.
Thứ hai: đối với lĩn vực dịch vụ
- Xây dựng quy hoạch tổng thể về mức độ tham gia của nhà đầu tư
nước ngoài.
- Sử dụng các dự án đầu tư nước ngoài vào phát triển cơ sở hạ tầng
ngành du lịch; phát triển hạ tầng kỹ thuật - kinh tế; ngành dịch vụ công nghệ
thông tin…
Thứ ba, đối với lĩnh vực nông nghiệp
Sử dụng vốn FDI vào các ngành như: chế biến các sản phẩm từ nông
nghiệp để phục vụ xuất khẩu và tiêu dùng; khuyến khích các dự án công
nghiệp phục vụ nông nghiệp; sử dụng giống và kỹ thuật mới áp dụng vào
nông nghiệp để nâng cao sản lượng.
7. Sử dụng hiệu quả nguồn vốn FDI vào việc giải quyết vấn đề thất
nghiệp
Khuyến khích thu hút và sử dụng có hiệu quả nguồn vốn FDI vào
những ngành, lĩnh vực sử dụng nhiều lao động như các ngành công nghệ may
mặc, giầy da, chế biến sản phẩm từ nông nghiệp (nông, lâm, thủy sản).
8. Tập trung nguồn vốn FDI vào những khu vực có nhiều lợi thế (như Hà
Nội, Hải Phòng, Hồ Chí Minh…)
nhằm phát huy được lợi thế của các khu vực này như: (i) khu vực này
tập trung nhiều lao động có kỹ thuật cao; (ii) đường giao thông thuận lợi…
Mặt khác, tập trung nguồn vốn FDI vào những khu vực này tạo điều
kiện liên kết phát triển các vùng khác trên cơ sở phát huy thế mạnh của các
Tiểu luận Kinh tế học
Nguyễn Hùng Cường Lớp: K18 - ĐHKT - ĐHQGHN
22

vùng khác trên cơ sở phát huy thế mạnh của các vùng phụ cận về nguyên liệu,
lao động và các nguồn lực khác.
Hơn nữa, cũng phải có những chính sách ưu đãi đối với những khu vực
có điều kiện kinh tế - xã hội giữa các khu vực.
9. Một số giải pháp khác như:
Thứ nhất: nâng cao chất lượng đào tạo và chú trọng vào đào tạo nguồn
nhân lực, nhằm đáp ứng và thay thế lao động nước ngoài.
Thứ hai: giữ vững môi trường kinh tế - xã hội: nhằm tạo môi trường an
ninh, an toàn cho các hoạt động đầu tư nước ngoài thông qua việc tăng cường
an ninh, quốc phòng.
Thứ ba: hoàn thiện cơ sở vật chất, xây dựng các công trình trọng điểm
phục vụ giao thông, liên lạc, Tạo những điều kiện thuận lợi để các doanh
nghiệp FDI tham gia vào xây dựng cơ sở hạ tầng.
Tiểu luận Kinh tế học
Nguyễn Hùng Cường Lớp: K18 - ĐHKT - ĐHQGHN
23

KẾT LUẬN
Đầu tư trực tiếp nước ngoài có vai trò quan trọng đối với phát triển kinh
tế của các nước đang phát triển, nâng cao năng lực sản xuất của một quốc gia
thông qua cung cấp về vốn công nghệ sản xuất, kỹ năng và trình độ quản lý;
góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế; góp phần mở rộng
quan hệ hợp tác kinh tế quốc tế.
Với chính sách mở cửa, làm bạn với tất cả quốc gia trên thế giới Việt
Nam đã từng bước đạt được những thành công nhất định trong việc thu hút và
sử dụng vốn FDI, phục vụ vào quá trình phát triển kinh tế Việt Nam.
Cũng phải thừa nhạn rằng tác đọng của hoạt động đầu tư nước ngoài
vào nền kinh tế Việt Nam chủ yếu là tác động tích cực. Hoạt động đầu tư
nước ngoài nhiều tác động đến kinh tế như: thúc đẩy tăng trưởng kinh tế;
chuyển dịch cơ cấu theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa; góp phần nâng
cao khả năng cạnh tranh của nền kinh tế Việt Nam. Như vậy có thể nói hoạt
động đầu tư nước ngoài là một phương thức rút ngắn khoảng cách phát triển
giữa các nước đang phát triển và các nước phát triển.
Tuy vậy, ngoài những tác đọng tích cực vẫn còn những hạn chế của
hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài. Đó là vấn đề ô nhiễm môi trường do
nhập khẩu những công nghệ lạc hậu ở nước ngoài; do sản xuất quá nhiều
nhưng chưa chú ý đến việc xử lý chất thải. Tóm lại, những tác động của hoạt
động đầu tư nước ngoài chưa chú ý đến việc phát triển bền vững.
Trong thời gian tới, Việt Nam cần phải có những giải pháp thay đổi
những tác động của FDI đối với phát triển kinh tế. Cần tìm ra những biện
pháp công cụ mang tính hợp lí để ngăn ngừa những tác động tiêu cực; phát
huy những tác động tích cực nhiều hơn đối với phát triển kinh tế Việt Nam.

Tiểu luận Kinh tế học
Nguyễn Hùng Cường Lớp: K18 - ĐHKT - ĐHQGHN
24

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Các trang Web:
- Trang Web của Tổng cục Thống kê Việt Nam
- Trang Web của Bộ Kế hoạch và Đầu tư
2. Luật Đầu tư trực tiếp nước ngoài.
3. Giáo trình Kinh tế Quốc tế; Chính sách kinh tế - xã hội của trường
Đại học Kinh tế Quốc dân.
4. Một số tài liệu khác.

Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×