Tải bản đầy đủ

Hoàn thiện công tác lập kế hoạch sản xuất kinh doanh tại Công ty Cổ phần Cơ khí Xây dựng số 5.DOC

Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
KHOA KHOA HỌC QUẢN LÝ
----
CHUYÊN ĐỀ
THỰC TẬP TỐT NGHIỆP
Đề tài :
Hoàn thiện công tác lập kế hoạch sản xuất kinh doanh
tại Công ty Cổ phần Cơ khí Xây dựng số 5
Giáo viên hướng dẫn : Th.S Bùi Thị Hồng Việt
Sinh viên thực hiện : Đậu Thị Hải Hà
Lớp : Quản lý công 48
MSSV : CQ483572
Sinh viên: Đậu Thị Hải Hà Lớp: QLC 48
1
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
LỜI MỞ ĐẦU
Với sự chuyển mình của nền kinh tế hiện nay ở nước ta, môi trường kinh doanh
có rất nhiều biến động; do đó để có thể đối phó được với những thay đổi này một trong
những biện pháp mà doanh nghiệp nào cũng chú trọng đến là phải tiến hành xây dựng kế
hoạch sản xuất kinh doanh. Lập kế hoạch có một vai trò hết sức quan trọng, có thể nói đó

là nền tảng trong kinh doanh, là chức năng đầu tiên của quá trình quản lý. Lập kế hoạch
gắn liền với việc lựa chọn mục tiêu và chương trình hành động trong tương lai, là cơ
sở để xác định và triển khai các chức năng còn lại là tổ chức, lãnh đạo, kiểm tra. Một
kế hoạch tốt sẽ tạo điều kiện thúc đẩy tổ chức phát triển theo con đường định trước.
Trong quá trình thực tập tại Công ty Cổ phần Cơ khí Xây dựng số 5 em đã có
điều kiện nghiên cứu về công tác lập kế hoạch sản xuất kinh doanh của công ty. Do
đó, em chọn đề tài: “Hoàn thiện công tác lập kế hoạch sản xuất kinh doanh tại
Công ty Cổ phần Cơ khí Xây dựng số 5”. Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, em
xin trình bày thực trạng công tác lập kế hoạch sản xuất kinh doanh của công ty,
những kết quả đạt được và một số vấn đề còn tồn tại, đồng thời em xin đưa ra một số
kiến nghị nhằm hoàn thiện hơn nữa công tác này.
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của
chuyên đề gồm 3 phần sau :
Chương I: Lý luận chung về công tác lập kế hoạch
Chương II: Thực trạng công tác lập kế hoạch sản xuất kinh doanh tại Công
ty Cổ phần Cơ khí Xây dựng số 5
Chương III: Một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác lập kế hoạch sản
xuất kinh doanh tại công ty Cổ phần Cơ khí Xây dựng số 5
Dù đã có nhiều cố gắng, song do khả năng phân tích và trình độ nhận thức còn
hạn chế nên bài viết chắc chắn còn nhiều thiếu sót. Em kính mong nhận được sự
đóng góp ý kiến của cô giáo hướng dẫn để hoàn thiện hơn bài viết của mình..
Em xin chân thành cảm ơn cô giáo Bùi Thị Hồng Việt cùng các cán bộ trong
phòng tài chính- kế toán của Công ty Cổ phần Cơ khí Xây dựng số 5 đã trực tiếp giúp
Sinh viên: Đậu Thị Hải Hà Lớp: QLC 48
2
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
đỡ, tạo điều kiện cho em hoàn thành chuyên đề tốt nghiệp này. Đồng thời, em xin
chân thành cảm ơn các thầy cô trong khoa Khoa học quản lý đã giúp em có được kiến
thức trong suốt quá trình học tập.
Sinh viên: Đậu Thị Hải Hà
Lớp: Kinh tế và quản lý công 48


Sinh viên: Đậu Thị Hải Hà Lớp: QLC 48
3
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
CHƯƠNG I
LÝ LUẬN CHUNG VỀ CÔNG TÁC LẬP KẾ HOẠCH
I. KHÁI NIỆM LẬP KẾ HOẠCH VÀ HỆ THỐNG KẾ HOẠCH TRONG TỔ CHỨC
1. Khái niệm lập kế hoạch


Chúng ta biết rằng quản lý có bốn chức năng cơ bản là lập kế hoạch, tổ chức,
lãnh đạo và kiểm tra. Có thể thấy lập kế hoạch là chức năng đầu tiên của quản lý, là
nền tảng cho việc thực hiện các chức năng khác của quản lý. Công tác lập kế hoạch
gắn liền với việc lựa chọn mục tiêu và chương trình hành động trong tương lai, giúp
nhà quản lý xác định được các chức năng khác còn lại nhằm đảm bảo đạt được các
mục tiêu đề ra.
Có nhiều khái niệm khác nhau về công tác lập kế hoạch tùy thuộc vào từng
góc độ nghiên cứu. Chúng ta xem xét một số khái niệm sau:
Trên góc độ ra quyết định thì: Lập kế hoạch là một loại ra quyết định đặc thù
để xác định một tương lai cụ thể mà các nhà quản lý mong muốn cho tổ chức của họ.
“Trong bốn chức năng cơ bản của quản lý là lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo và kiểm
tra thì lập kế hoạch là chức năng khởi đầu và trọng yếu đối với mỗi nhà quản lý. Có
thể hình dung lập kế hoạch bắt đầu từ rễ cái của một cây sồi đồ sộ, rồi từ đó mọc lên
các “ nhánh” tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra”.
(1)
Với cách tiếp cận theo quá trình thì: “ Lập kế hoạch là một quá trình tiếp diễn
phản ánh và thích ứng được với những biến động diễn ra trong môi trường của mỗi tổ
chức”
12)
Lập kế hoạch được xem là quá trình thích ứng với sự không chắc chắn của
môi trường bằng việc xác định trước các phương án hành động để đạt được mục tiêu
cụ thể của tổ chức.

Trong đó kế hoạch sản xuất kinh doanh có thể coi là quá trình liên
tục xoáy trôn ốc với chất lượng ngày càng tăng lên kể từ khi chuẩn bị xây dựng kế
hoạch cho tới lúc chuẩn bị tổ chức thực hiện kế hoạch nhằm đưa hoạt động của
doanh nghiệp theo đúng mục tiêu đã đề ra.
(3)

(1,2)
Khoa học quản lý tập I –Khoa khoa học quản lý –NXB khoa học và kỹ thuật 2004 –Trang 333
1
Sinh viên: Đậu Thị Hải Hà Lớp: QLC 48
4
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Với cách tiếp cận theo nội dung và vai trò
(4)
:
Theo RONNER: “Hoạt động của công tác lập kế hoạch là một trong những
hoạt động nhằm tìm ra con đường để huy động và sử dụng các nguồn lực của doanh
nghiệp một cách có hiệu quả nhất để phục vụ cho các mục tiêu kinh doanh”.
Theo HENRYPAYH: “Lập kế hoạch là một trong những hoạt động cơ bản
của quá trình quản lý cấp công ty, xét về mặt bản chất thì hoạt động này nhằm mục
đích xem xét các mục tiêu, các phương án kinh doanh, bước đi trình tự và cách tiến
hành các hoạt động sản xuất kinh doanh.”
Trên đây là những quan điểm khác nhau nhưng tất cả đều hướng về bản chất
của chức năng này: Lập kế hoạch là quá trình xác định các mục tiêu và lựa chọn các
phương thức để đạt được các mục tiêu đó. Như vậy công tác lập kế hoạch giải quyết
hai nhiệm vụ cơ bản là: thứ nhất là xác định, xây dựng mục tiêu mà tổ chức hướng
đến và cần đạt được trong tương lai; thứ hai là tìm ra phương thức để đạt được mục
tiêu với hiệu quả cao nhất. Thực hiện tốt công tác lập kế hoạch sẽ tạo điều kiện thúc
đẩy tổ chức phát triển đúng hướng theo con đường đã chọn.
2. Vai trò của công tác lập kế hoạch
Có thể thấy lập kế hoạch có một vai trò đặc biệt quan trọng và là công việc
không thể thiếu ở mọi tổ chức. Kế hoạch là công cụ của nhà quản lý, là vật truyền
dẫn tác động của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý. Lập kế hoạch có chức năng
định hướng cho mọi hoạt động của tổ chức thông qua việc thiết lập các mục tiêu và
phương thức thực hiện chúng, định hướng tổ chức đi theo con đường đã chọn. Kế
hoạch là một trong những công cụ quan trọng trong việc liên kết, thống nhất mọi hoạt
động của tổ chức. Các hoạt động sẽ vận hành theo kế hoạch định sẵn, tránh sự chồng
chéo lên nhau, từ đó giảm được các hoạt động lãng phí. Bên cạnh đó lập kế hoạch
còn sắp xếp thứ tự ưu tiên các mục tiêu, đưa ra các chương trình, các kế hoạch tác
nghiệp cụ thể trong từng giai đoạn, tiến từng bước đến mục tiêu chiến lược của tổ
chức.

(3)
Lý thuyết quản trị kinh doanh – TS Nguyễn Thị Hồng Thuỷ - Nguyễn Thị Ngọc Huyền – NXB KHKT –
1997
Sinh viên: Đậu Thị Hải Hà Lớp: QLC 48
5
Sứ mệnh
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
(4)
Những vấn đề cốt yếu của quản lý – Harold koontz, cyril odonnell, Heinz weihrich – NXB khoa học và kỹ
thuật – 1992
Trong xu thế hội nhập hiện nay, môi trường kinh doanh ngày càng biến động,
các doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển cần nâng cao hơn nữa khả năng lập kế
hoạch sản xuất kinh doanh. Lập kế hoạch là quá trình thích ứng với những thay đổi
trong môi trường kinh doanh của doanh nghiệp. Một kế hoạch tốt sẽ giúp doanh
nghiệp đánh giá được đối thủ và nguồn lực hiện có của mình, đưa ra những phương
án có độ an toàn cao nhất nhằm tránh được những tổn thất có thể mang lại.
Nhờ có kế hoạch mà người quản lý có thể tổ chức và khai thác con người
cũng như các nguồn lực một cách hiệu quả nhất. Kế hoạch thiết lập nên những tiêu
chuẩn tạo điều kiện cho công tác kiểm tra, kiểm soát đạt được kết quả cao, đồng thời
phối hợp và thúc đấy nỗ lực của các nhân viên nhằm đạt được mục tiêu tối cao của tổ
chức.
Như vậy lập kế hoạch là chức năng đầu tiên, là điểm khởi đầu của mọi quá
trình quản lý. Việc so sánh giữa kết quả thực hiện và kế hoạch cho phép tổ chức đánh
giá được hiệu quả hoạt động, qua đó rút kinh nghiệm, tìm ra những điểm mạnh, điểm
yếu và đưa ra được những kế hoạch, phương án tốt hơn trong kỳ kế tiếp.
3. Hệ thống kế hoạch của tổ chức
(5)
Hệ thống kế hoạch của một tổ chức là tổng hợp của nhiều loại kế hoạch khác
nhau nhưng có mối quan hệ chặt chẽ với nhau theo một định hướng nhất định nhằm
thực hiện mục tiêu tối cao của tổ chức. Tùy theo từng cách tiếp cận ta có thể phân
chia hệ thống kế hoạch theo các tiêu thức khác nhau. Sau đây là một số tiêu thức cơ
bản:
3.1. Theo thời gian thực hiện kế hoạch
Theo thời gian thực hiện, kế hoạch được chia thành 3 loại sau:
- Kế hoạch dài hạn: Là kế hoạch cho thời kỳ từ 5 năm trở lên nhằm xác định
mục tiêu dài hạn của tổ chức, được thể hiện qua chiến lược, chính sách… Đây là
những mục tiêu quan trọng, định hướng cho việc thiết lập các mục tiêu trung hạn và
ngắn hạn. Kế hoạch dài hạn được lập nên bởi những nhà quản lý cấp cao, mang tính
tập trung cao và linh hoạt.
(5)
Khoa học quản lý tập I -PGS.TS. Đoàn Thị Thu Hà - Nguyễn Thị Ngọc Huyền - NXB KH & KT 2004
Sinh viên: Đậu Thị Hải Hà Lớp: QLC 48
6
Sứ mệnh
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
- Kế hoạch trung hạn: Là loại kế hoạch cụ thể hóa của kế hoạch dài hạn, được
thực hiện cho thời kỳ từ 1 đến 5 năm nhằm phác thảo các chính sách, chương trình
trung hạn để thực hiện các mục tiêu được hoạch định trong chiến lược của tổ chức.
Kế hoạch trung hạn được lập bởi các chuyên gia quản lý cấp cao, tính tập trung và
linh hoạt không cao như kế hoạch dài hạn.
- Kế hoạch ngắn hạn: Là kế hoạch có thời gian thực hiện ngắn ( < 1 năm),
thường là những kế hoạch tác nghiệp. Nó là sự cụ thể hoá nhiệm vụ sản xuất kinh
doanh dựa vào mục tiêu chiến lược, luôn đi theo định hướng của kế hoạch dài hạn và
trung hạn, được thể hiện qua các kế hoạch hàng năm, bản kế hoạch sản xuất kinh
doanh hàng năm. Kế hoạch ngắn hạn do các chuyên gia quản lý điều hành lập nên,
không mang tính chất tập trung và thường rất cứng nhắc, ít linh hoạt .
Có thể thấy kế hoạch dài hạn giữ vai trò trung tâm, là kim chỉ nam định hướng
triển khai các kế hoạch trung hạn và ngắn hạn.
3.2. Theo mức độ tổng quát

Sinh viên: Đậu Thị Hải Hà Lớp: QLC 48
7
Kế hoạch đơn dụng:
Chương trình
Dự án
Ngân quỹ
Kế hoạch thường trực:
Chính sách
Quy tắc
Thủ tục
Kế hoạch chiến lược
Kế hoạch tác nghiệp
Sứ mệnh
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
3.2.1. Sứ mệnh
Sứ mệnh nêu lên lý do và mục đích tồn tại của tổ chức, là cơ sở đầu tiên để xác
định mục tiêu chiến lược của tổ chức, là phương hướng phấn đấu của tổ chức trong
suốt thời gian tồn tại của mình và nó là cơ sở để xác định phương thức hành động cơ
bản của tổ chức. Sứ mệnh sẽ trả lời cho câu hỏi: Tổ chức tồn tại vì mục đích nào? Sứ
mệnh của một tổ chức được đặt ra trên cơ sở xác định những lĩnh vực hoạt động của
tổ chức đó, những giả định về mục đích, sự thành đạt và vị trí của tổ chức trong môi
trường hoạt động của nó .
3.2.2. Kế hoạch chiến lược
Kế hoạch chiến lược là kế hoạch đưa ra những mục tiêu tổng thể và phương
thức cơ bản để thực hiện nó trên cơ sở phân tích môi trường và vị trí của tổ chức
trong môi trường đó. Đây thường là kế hoạch dài hạn do nhà quản lý cấp cao định ra,
có vai trò định hướng cho sự phát triển của tổ chức. Có thể chia chiến lược theo 3 cấp
như mô hình sau:
Chiến lược cấp tổ chức là chiến lược do bộ phận quản lý cao nhất lập ra nhằm
nắm bắt được những mối quân tâm và hoạt động trong một tổ chức, cho biết lĩnh vực
hoạt động của tổ chức, mục tiêu và kỳ vọng trong mỗi lĩnh vực đó ..., định hướng cho
kế hoạch cấp dưới.
Chiến lược cấp ngành quan tâm đến một lĩnh vực, một ngành nhất định của tổ
chức, xác định loại sản phẩm, dịch vụ, định hướng khách hàng và các nguồn lực bổ
sung cần thiết cho lĩnh vực đó.
Chiến lược cấp chức năng là sự chi tiết hóa của chiến lược cấp ngành trong quá
trình phát triển của tổ chức gồm các chiến lược về nhân sự, tài chính, marketing...
Đây là cấp chiến lược thấp nhất trong một tổ chức.
Sinh viên: Đậu Thị Hải Hà Lớp: QLC 48
8
Chiến lược cấp tổ chức
Chiến lược cấp ngành
Chiến lược cấp chức năng
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
3.2.3. Kế hoạch tác nghiệp
Trong các cấp kế hoạch thì kế hoạch tác nghiệp là kế hoạch chi tiết nhất. Đó là
những kế hoạch cụ thể hoá cho các kế hoạch chiến lược, điều hành, phối hợp và phân
bổ nguồn lực của tổ chức để giải quyết các công việc có tính chất ngắn hạn và những
công việc hàng ngày của tổ chức. Các kế hoạch tác nghiệp được chia thành hai loại là
kế hoạch tác nghiệp đơn dụng và kế hoạch tác nghiệp thường trực.
Các kế hoạch tác nghiệp đơn dụng được xây dựng một lần sử dụng một lần
cho những hoạt động không lặp lại. Bao gồm:
- Chương trình: gồm các chính sách, thủ tục, qui tắc và các nguồn lực cần thiết
có thể huy động nhằm thực hiện các mục tiêu nhất định mang tính độc lập tương đối.
Chương trình được hỗ trợ bằng những ngân quỹ cần thiết. Một chương trình quan
trọng thường ít khi đứng một mình, nó thường là một bộ phận của một hệ thống phức
tạp các chương trình.
- Dự án: thường có mục tiêu cụ thể, quan trọng và mang tính độc lập tương đối.
Nguồn lực để thực hiện mục tiêu của dự án phải rõ ràng bao gồm cả nguồn lực theo
thời gian và không gian.
- Ngân quỹ: Là kế hoạch tác nghiệp được thể hiện bằng số. Ngân quỹ có thể là
tiền, nguồn nhân lực, máy móc, thiết bị…
Các kế hoạch tác nghiệp thường trực, xây dựng một lần sử dụng nhiều lần cho
những hoạt động thường xuyên lặp lại. Bao gồm:
- Chính sách: Là quan điểm, phương hướng và cách thức chung để ra quyết
định trong tổ chức. Chính sách bảo đảm sự phối hợp hành động và giúp cho việc
thống nhất các kế hoạch khác nhau trong tổ chức.
- Quy tắc: Là loại hình kế hoạch đơn giản nhất cho biết những hành động nào có
thể làm, những hành động nào không được làm. Đây là loại kế hoạch hướng dẫn hành
động trong tổ chức nhưng không theo một trình tự thời gian nhất định và có tính chất
điển hình, lâu dài.
- Thủ tục: Là các kế hoạch chỉ ra một cách chính xác và chi tiết chuỗi các hành
động cần thiết phải thực hiện theo trình tự thời gian hoặc cấp bậc quản lý để đạt được
mục tiêu nhất định. Thủ tục thiết lập nên một phương pháp cần thiết cho việc điều
hành công việc trong tương lai.
Sinh viên: Đậu Thị Hải Hà Lớp: QLC 48
9
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Trên thực tế việc phân loại các kế hoạch theo các tiếp cận trên chỉ mang tính
tương đối vì các loại kế hoạch có mối quan hệ mật thiết với nhau. Một kế hoạch có
thể thuộc nhiều loại khác nhau tùy theo tiêu chí đánh giá.
II. NỘI DUNG CÔNG TÁC LẬP KẾ HOẠCH
Nội dung công tác lập kế hoạch được thể hiện qua mô hình sau:
Sinh viên: Đậu Thị Hải Hà Lớp: QLC 48
10
- môi trường vĩ mô
Nghiên cứu và dự báo - môi trường vi mô
- môi trường ngành
Khẳng định kế hoạch bậc cao hơn
Xác định mục tiêu ưu tiên cho từng giai đoạn
kế hoạch
Xây dựng các phương án kế hoạch
Đánh giá các phương án và lựa chọn phương
án tối ưu
Quyết định và thể chế hóa kế hoạch
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
1. Nghiên cứu và dự báo
Nghiên cứu và dự báo là công việc đầu tiên của bất cứ công tác lập kế hoạch nào
trong doanh nghiệp. Để nắm bắt được cơ hội và phát hiện ra những thách thức thì
doanh nghiệp cần phải có những hiểu biết về môi trường, thị trường, về điểm mạnh,
điểm yếu của mình so với các đối thủ cạnh tranh khác. Doanh nghiệp phải dự đoán
trước các yếu tố không chắc chắn có thể xảy ra từ đó đưa ra phương án đối phó thích
hợp. Nghiên cứu và dự báo phải được tiến hành trên cả môi trường vĩ mô, môi trường
vi mô và môi trường bên trong của tổ chức.
Việc tìm hiểu môi trường vĩ mô giúp doanh nghiệp trả lời câu hỏi: Hiện nay
doanh nghiệp đang đối phó với vấn đề gì? Có 5 yếu tố quan trọng trong môi trường
vĩ mô có tác động tới quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Đó là: yếu tố
kinh tế, yếu tố chính trị và pháp lý, yếu tố xã hội, yếu tố công nghệ, yếu tố tự nhiên.
Trong đó yếu tố kinh tế là yếu tố rất quan trọng và ảnh hưởng lớn đến mọi mặt hoạt
động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, bao gồm các yếu tố chính sau: lãi suất
ngân hàng, tỷ lệ lạm phát, chu kỳ kinh tế, cán cân thanh toán, chính sách tiền tệ, mức
độ thất nghiệp, thu nhập quốc dân,… Yếu tố chính trị và pháp lý là yếu tố có ý nghĩa
đặc biệt đối với doanh nghiệp muốn vươn ra thị trường thế giới, bao gồm: các chính
sách, qui chế, định chế, luật lệ, chế độ tiền lương, thủ tục hành chính,…do chính phủ
đề ra. Yếu tố xã hội là cơ sở hình thành thị trường tiêu dùng. Ngoài ra sự thay đổi về
công nghệ, khí hậu, tài nguyên… cũng tác động rất lớn đến hoạt động sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp.Việc phân tích các yếu tố trên giúp cho nhà quản lý tiến
hành các dự báo về những xu thế chính của sự biến đổi môi trường tương lai nhằm có
sự điều chỉnh thích hợp và kịp thời cho các chiến lược kinh doanh của mình.
Môi trường vi mô có tác động trực tiếp đến hoạt động sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp. Nó không những quyết định tính chất mà còn quyết định mức độ cạnh
tranh của doanh nghiệp trong một ngành, một lĩnh vực hoạt động. Nghiên cứu môi
trường vi mô cho ta cái nhìn tổng quan về đối thủ tiềm năng, sản phẩm thay thế, sự
cạnh tranh của các doanh nghiệp trong ngành, sự thay đổi trong nhu cầu của khách
hàng cũng như quyền lực của họ…Khi phân tích môi trường vi mô cần xác định
được vị thế của doanh nghiệp trên thị trường. Qua đó doanh nghiệp tiến hành xây
Sinh viên: Đậu Thị Hải Hà Lớp: QLC 48
11
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
dựng, điều chỉnh kế hoạch sản xuất kinh doanh phù hợp với vị thế và sự thay đổi của
môi trường ngành.
Nếu như việc phân tích các nhân tố của môi trường vĩ mô, vi mô giúp chúng ta
xác định cơ hội và thách thức của doanh nghiệp thì việc phân tích các nhân tố nội bộ
doanh nghiệp sẽ cho thấy những điểm mạnh, điểm yếu của bản thân doanh nghiệp so
với yêu cầu nhiệm vụ hoạt động sản xuất kinh doanh và so với đối thủ cạnh tranh.
Những điểm mạnh, điểm yếu của doanh nghiệp được thể hiện thông qua các chức
năng sản xuất, marketing, nhân sự, tài chính kế toán, quản lý vật tư, hệ thống kho
hàng, mạng phân phối,…Khi tiến hành lập kế hoạch cần thu thập đầy đủ thông tin về
kết quả hoạt động của kỳ trước và khả năng nguồn lực của doanh nghiệp.
Khi tiến hành nghiên cứu và dự báo cần chú trọng đến tính chính xác của
thông tin, tránh những thông tin sai do đối thủ cố ý bày sẵn. Bên cạnh đó cần sàng
lọc, lựa chọn thông tin, tránh tình trạng nhiễu thông tin.
2. Khẳng định kế hoạch bậc cao hơn
Kế hoạch bậc cao hơn là những kế hoạch định hướng, khẳng định cơ hội, thách
thức cho hệ thống mà chúng ta tiến hành lập kế hoạch. Việc phân tích kế hoạch bậc
cao hơn cần đảm bảo tính thống nhất trong hoạt động của tổ chức nhằm làm cho việc
xây dựng và thực hiện các kế hoạch bậc thấp hơn trở thành công cụ thực hiện mục
tiêu chung của tổ chức.
3. Xác định mục tiêu
Với những kết quả nghiên cứu và dự báo thu thập được, người lập kế hoạch cần
thiết lập một hệ thống các mục tiêu. Đó là những công việc, nhiệm vụ, hành động mà
tổ chức cần đạt được nhằm tận dụng các cơ hội và hạn chế những thách thức. Các
mục tiêu đưa ra phải xác định rõ thời hạn để thực hiện và được lượng hoá đến mức
cao nhất có thể. Có hai loại mục tiêu là mục tiêu định tính và mục tiêu định lượng.
Việc định lượng góp phần làm cho mục tiêu dễ dàng thực hiện hơn và các mục tiêu
định lượng cho phép đánh giá kết quả thực hiện chính xác hơn.
Trong quá trình thiết lập mục tiêu cần sắp xếp các mục tiêu theo thứ tự ưu tiên
nhất định. Qua đó cho thấy mức độ quan trọng của từng mục tiêu, đưa ra thứ tự giải
quyết các mục tiêu nhằm phân bổ hợp lý nguồn lực trong tổ chức. Một tổ chức hay
Sinh viên: Đậu Thị Hải Hà Lớp: QLC 48
12
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
doanh nghiệp đều có thể có hai loại mục tiêu là mục tiêu hàng đầu và mục tiêu hàng
thứ hai. Những mục tiêu hàng đầu thường liên quan đến sự sống còn và phát triển của
tổ chức. Đối với một doanh nghiệp, đó là những mục tiêu về lợi nhuận, doanh thu
hay thị phần. Những mục tiêu hàng thứ hai lại liên quan đến tính hiệu quả của doanh
nghiệp. Chúng không ảnh hưởng lớn đến sự sống còn của doanh nghiệp như các mục
tiêu hàng đầu nhưng cũng rất quan trọng đối với sự thành công của doanh nghiệp. Đó
là những mục tiêu về sự phát triển của sản phẩm mới, tính hiệu quả trong công tác
quản lý nhân sự…Bên cạnh đó, nhà quản lý luôn phải lưu ý rằng mục tiêu không
được xa rời với thực tiễn và cần xác định rõ trách nhiệm thực hiện và thời hạn thực
hiện các mục tiêu.
4. Xây dựng phương án kế hoạch
Dựa trên hệ thống mục tiêu đã định nhà quản lý tiến hành nghiên cứu các
phương án hành động. Trong mỗi phương án cần phải xác định được hai nội dung cơ
bản là: Phải xác định được giải pháp của kế hoạch và phải xác định được các công cụ và
nguồn lực cần thiết để thực hiện các giải pháp đó. Một mục tiêu có thể có nhiều phương
án thực hiện. Khi xây dựng các phương án cần chú ý đến nguồn lực hiện tại của tổ chức,
tránh các phương án vượt quá khả năng, không khả thi. Người lập kế hoạch cần phải
thực hiện bước khảo sát sơ bộ lựa chọn ra các phương án có triển vọng nhất để đưa ra
phân tích và giảm bớt các phương án lựa chọn .
5. Đánh giá các phương án và lựa chọn phương án tối ưu
Để đánh giá các phương án người lập kế hoạch phải đưa ra một hệ thống các
tiêu chí phù hợp với mục tiêu đã định và trung thành với các tiền đề đã được xác
định. Các tiêu chí nên được định lượng nhằm tạo được sự rõ ràng, dễ dàng trong việc
đánh giá. Việc đánh giá các phương án cần được tiến hành kỹ lưỡng, chi tiết để đưa
ra sự so sánh chính xác nhất. Sau khi đánh giá thì một vài phương án tối ưu nhất sẽ
được lựa chọn. Đó là phương án đem lại hiệu quả cao nhất và phù hợp với nguồn lực
của tổ chức.
6. Quyết định và thể chế hóa kế hoạch
Sinh viên: Đậu Thị Hải Hà Lớp: QLC 48
13
Ngôi sao Dấu hỏi

Con bò sữa Con chó
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Các phương án được lựa chọn sẽ được đưa ra hội đồng quản trị, ban giám đốc
và các phòng ban liên quan xem xét, từ đó ra quyết định phân bổ con người và các
nguồn lực khác của tổ chức cho việc thực hiện kế hoạch. Đây là bước cuối cùng của
công tác lập kế hoạch và cũng là cơ sở pháp lý cho việc thực hiện kế hoạch.
III. MỘT SỐ MÔ HÌNH LẬP KẾ HOẠCH SẢN XUẤT KINH DOANH
Trong thực tế doanh nghiệp có thể sử dụng nhiều phương pháp để lập kế hoạch,
tuỳ thuộc vào mục đích, yêu cầu mà doanh nghiệp sử dụng các phương pháp khác
nhau. Sau đây là một số phương pháp được áp dụng rộng rãi trong các tổ chức hiện
nay:
1. Mô hình PEST
Mô hình PEST nghiên cứu các tác động của các yếu tố trong môi trường vĩ
mô. Các yếu tố đó là:
 Political (Thể chế- Luật pháp)
 Economics (Kinh tế)
 Sociocultrural (Văn hóa- Xã Hội)
 Technological (Công nghệ)
Đây là bốn yếu tố có ảnh hưởng trực tiếp đến các ngành kinh tế, các yếu tố này
là các yếu tố bên ngoài của doanh nghiệp và ngành, ngành phải chịu các tác động của
nó đem lại như một yếu tố khách quan. Các doanh nghiệp dựa trên các tác động sẽ
đưa ra những chính sách, hoạt động kinh doanh phù hợp.
Sinh viên: Đậu Thị Hải Hà Lớp: QLC 48
14
Ngôi sao Dấu hỏi

Con bò sữa Con chó
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Mô hình PEST hiện nay đã được mở rộng thành các ma trận PESLT ( Bao gồm
yếu tố Legal- pháp luật ) và STEEPLE(Socical/Demographic-Nhân khẩu học,
Techonogical, Economics,Envirnomental, Policy, Legal, Ethical- Đạo đức ) và càng
ngày càng hoàn thiện trở thành một chuẩn mực không thể thiếu khi nghiên cứu môi
trường bên ngoài của doanh nghiệp.
2. Mô hình BCG
Mô hình nêu lên mối quan hệ giữa tăng trưởng và thị phần. Công ty sẽ xác định
tốc độ tăng trưởng của từng sản phẩm cũng như thị phần của nó và đặt vào trong ma
trận.
25%
20%
Tỷ lệ 10%
Tăng trưởng


Thị phần 0% 1 0.5 0.2 0.1
Dựa vào ma trận này để đưa ra 4 chiến lược cơ bản là:
- Xây dựng: Đầu tư, củng cố cho các sản phẩm nằm trong phần dấu hỏi. Trong
chiến lược này đôi khi phải lợi nhuận trước mắt để nhằm đến mục tiêu dài hạn.
- Giữ: áp dụng cho sản phẩm nằm trong vùng Bò sữa nhằm tối đa hóa khả năng
sinh lời.
- Thu hoạch: tập trung vào mục tiêu đạt được lợi nhuận ngay trong ngắn hạn
thông qua cắt giảm chi phí, tăng giá, cho dù nó có ảnh hưởng tới mục tiêu lâu dài của
sản phẩm hay công ty. Chiến lược này phù hợp với sản phẩm trong phần Bò Sữa
nhưng thị phần hoặc tăng trưởng thấp hơn bình thường hoặc Bò Sữa nhưng tương lai
không chắc chắn. Ngoài ra, có thể sử dụng cho sản phẩm trong Dấu hỏi nhưng không
thể chuyển sang Ngôi sao hay Con chó.
Sinh viên: Đậu Thị Hải Hà Lớp: QLC 48
15
Ngôi sao Dấu hỏi

Con bò sữa Con chó
B
C
C
A
B
C
A
A
B
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
- Từ bỏ: Mục tiêu là từ bỏ sản phẩm hoặc bộ phận kinh doanh nào không có khả
năng sinh lời để tập trung nguồn lực vào những sản phẩm hay bộ phận có khả năng
sinh lời lớn hơn. Chiến lược này áp dụng cho sản phẩm nằm trong phần Dấu hỏi và
chắc chắn không thể trở thành Ngôi sao và cho sản phẩm nằm trong phần Con chó.
3. Mô hình McKinsey
Mô hình McKinsey giúp các doanh nghiệp phân khúc hoạt động, xác định vị
trí của mình trong khúc hoạt động, từ đó xác định chiến lược, xây dựng kế hoạch
cạnh tranh. Phân khúc hoạt động chỉ áp dụng cho các hoạt động có tính đồng nhất về
mặt kinh tế và kỹ thuật như nhóm sản phẩm sử dụng cùng loại nguyên liệu, nhằm
cùng nhóm khách hàng, tiêu thụ bởi cùng mạng phân phối,…
Vị trí của doanh nghiệp trên khúc chiến lược được xác định theo ma trận sau:

Lớn
Sinh viên: Đậu Thị Hải Hà Lớp: QLC 48
16
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Trung bình

Nhỏ

Kém Trung bình Lớn Ưu thế của doanh nghiệp
Dựa vào vị trí của mình trên ma trận, doanh nghiệp sẽ lựa chọn chiến lược
tương ứng như sau:
Vùng A: Chiến lược tấn công, đầu tư để tăng thị phần.
Sinh viên: Đậu Thị Hải Hà Lớp: QLC 48
17
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Vùng B: Chiến lược phòng thủ, đầu tư một cách có lựa chọn và nghiên cứu
một cách có hệ thống để tăng lợi nhuận.
Vùng C: Chiến lược thu hẹp đầu tư thường được ứng dụng.
Ma trận vị trí ABC cho thấy tỷ lệ tăng trưởng của ngành chỉ là một cách đánh
giá đặc biệt lợi ích của ngành, tương tự mức sản xuất tích luỹ của doanh nghiệp so
với mức sản xuất của nhà cạnh tranh lớn nhất cũng chỉ là một cùng với các chỉ tiêu
khác để thể hiện ưu thế cạnh tranh của doanh nghiệp mà thôi.
4. Mô hình “ Năm lực lượng “ của M.Porter
Đây là mô hình thường được dùng trong lập kế hoạch cấp tổ chức, đánh giá
khả năng cạnh tranh của một tổ chức qua việc xem xét năm lực lượng trong môi
trường hoạt động của tổ chức đó: nhà cung cấp, đối thủ cạnh tranh, khách hàng,
những sản phẩm và dịch vụ thay thế, tính cạnh tranh khốc liệt giữa các đối thủ. Mô
hình này được xem là công cụ hữu dụng và hiệu quả để tìm hiểu nguồn gốc lợi
nhuận. Quan trọng hơn cả, mô hình này cung cấp các chiến lược cạnh tranh để doanh
nghiệp duy trì hay tăng lợi nhuận.
Sinh viên: Đậu Thị Hải Hà Lớp: QLC 48
18
Đối thủ tiềm ẩn
Đe dọa của các đối
thủ chưa xuất hiện
Quyền lực đàm phán
Khách hàng
Nhà phân phối
Nhà cung cấp
Cạnh tranh nội bộ ngành
Cạnh tranh giữa các doanh nghiệp
đang có mặt trên thị trường
Thách thức của sản phẩm,
dịch vụ thay thế
Sản phẩm, dịch vụ
thay thế
Quyền lực đàm phán
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
5. Mô hình SWOT
Đây là mô hình dùng để đánh giá những điểm mạnh, điểm yếu của tổ chức
qua việc đáng giá tổng thể tổ chức về công nghệ, nhân sự, tài chính… so sánh với
mặt bằng chung của ngành. Từ đó đưa ra những cơ hội cũng như thách thức hiện tại
và trong thời gian tới. Như vậy việc lập ra ma trận SWOT giúp tổ chức đưa ra được
các biện pháp nhằm nắm bắt cơ hội và đối phó với những mối đe dọa có thể xảy ra.
Mô hình này thường được sử dụng trong kế hoạch cấp ngành.
Cơ hội Đe dọa
O
1
O
h
t
1
t
k
S
1
S
1
O
1
S
1
O
h
S
1
t
1
S
1
t
k

Điểm
Mạnh S
i
O
j
S
i
t
j

S
n
S
n
O
1
S
n
O
h
S
n
t
1
S
n
t
k

W
1
W
1
O
1
W
1
O
h
W
1
t
1
W
1
t
k
Điểm
Yếu W
i
O
j
W
i
t
j

W
m
W
m
O
1
W
m
O
h
W
m
t
1
W
m
t
k

Ma trận SWOT
6. Mô hình nghiên cứu môi trường bên trong theo chức năng hoạt động của tổ
chức
Hoạt động của tổ chức gồm các hoạt động hỗ trợ và các hoạt động chính được
thể hiện qua mô hình chuỗi gía trị sau:
Sinh viên: Đậu Thị Hải Hà Lớp: QLC 48
19
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Khi nghiên cứu môi trường bên trong cần tiến hành trên tất cả các hoạt động
trên nhằm có được cái nhìn tổng quan nhất về tình hình hoạt động sản xuất của doanh
nghiệp. Từ đó tìm ra được mục tiêu của donah nghiệp trong từng giai đoạn cụ thể,
xây dựng được kế hoạch phù hợp nhất với nguồn lực hiện có.
Ngoài các mô hình trên còn có rất nhiều mô hình và phương pháp để hoạch
định kế hoạch như: sơ đồ mạng PERT, phương pháp tổ hợp kinh doanh, phương pháp
phân tích chu kỳ sống của sản phẩm…Việc sử dụng các mô hình trên một cách linh
hoạt sẽ góp phần xây dựng ngày càng tốt hơn kế hoạch sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp.
Sinh viên: Đậu Thị Hải Hà Lớp: QLC 48
20
Quản

Các
hoạt
động
hỗ trợ
Các
hoạt
động
chính
Nghiên
cứu và
dự báo
môi
trường
Thiết
kế sp

dịch
vụ
Thu hút
nguồn
nhân
lực
Sản
xuất
Phân
phối
sp và
dịch
vụ
Dịch
vụ sau
bán
hàng
- Xây dựng kết cấu hạ tầng
- Dịch vụ pháp lý
- Quản lý nguồn nhân lực
- Nghiên cứu thị trường
- Dịch vụ đối ngoại….
Mục
đích,
mục
tiêu
của tổ
chức
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
CHƯƠNG II
THỰC TRẠNG CÔNG TÁC LẬP KẾ HOẠCH SẢN XUẤT KINH
DOANH TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN CƠ KHÍ XÂY DỰNG SỐ 5
I. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ CÔNG TY CỔ PHẦN CƠ KHÍ XÂY DỰNG SỐ 5
1. Lịch sử hình thành và phát triển Công ty
Tên gọi đầy đủ bằng tiếng Việt Nam: Công ty Cổ phần cơ khí Xây dựng số 5.
Tên giao dịch quốc tế: Join Stock Construction Machinery Company No-5.
Tên viết tắt: COMA – 5 .
Trụ sở công ty: Xã Tây Mỗ - Từ Liêm - Hà Nội.
Điện thoại: 84.4.8349980.
Fax: 84.4.8349981.
Công ty Cổ phần Cơ khí Xây dựng số 5 tiền thân là Nhà máy Cơ khí Xây
dựng số 5, được thành lập theo quyết định số 165/BKT-TLĐ ngày 12/09/1968 của Bộ
trưởng Bộ kiến trúc (nay là Bộ Xây dựng), có chức năng đại tu sửa chữa ôtô phục vụ
trong và ngoài ngành xây dựng với công suất thiết kế là 250 xe/1 năm cùng hơn 150
cán bộ công nhân viên. Công ty có trụ sở tại Xã Tây Mỗ, Huyện Từ Liêm, Thành phố
Hà Nội.
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường và quá trình công nghiệp hóa
hiện đại hóa đất nước đặt ra cho ngành sản xuất vật liệu xây dựng và cơ khí một cơ
hội lớn. Trong thời gian đó ngành sản xuất xi măng cũng rất phát triển, vì thế Nhà
máy đã mạnh dạn nghiên cứu sản xuất các loại phụ tùng phục vụ cho ngành sản xuất
xi măng như: đúc và gia công các loại bulông, răng cào bằng thép hợp kim chịu nhiệt
và mài mòn cao. Bên cạnh đó Công ty còn thiết kế các loại răng gầu xúc bằng hợp
kim phục vụ cho các ngành khai thác than, mía đường, thủy lợi.
Đầu năm 1995, Nhà máy Cơ khí Xây dựng số 5 đổi tên thành Công ty Cơ khí
Xây dựng số 5 thuộc Tổng công ty Cơ khí xây dựng. Ngoài những sản phẩm hợp kim
Công ty đã đầu tư công nghệ, kỹ thuật sản xuất các mặt hàng kết cấu thép phục vụ
Sinh viên: Đậu Thị Hải Hà Lớp: QLC 48
21
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
cho nghành xây dựng và sản xuất các loại dầm siêu trường siêu trọng đạt chất lượng
cao, được khách hàng chấp nhận và tin tưởng.
Thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước về việc chuyển đổi sở hữu các
doanh nghiệp Nhà nước, Công ty đã chuyển đổi từ doanh nghiệp Nhà nước thành
Công ty Cổ phần theo quyết định số 1451/QĐ- ĐMQLDN ngày 31/12/1998 của Bộ
trưởng Bộ Xây dựng. Đại hội cổ đông thành lập Công ty được tiến hành vào ngày
27/3/1999 và Công ty bắt đầu hoạt động theo mô hình Công ty Cổ phần từ ngày
1/4/1999. Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh số 055922 ngày 17/2/1999 do Sở kế
hoạch và Đầu tư hà Nội cấp.
2. Chức năng, nhiệm vụ của công ty
Công ty Cổ phần Cơ khí Xây dựng số 5 kinh doanh trên lĩnh vực cơ khí và xây
dựng, với các sản phẩm chính là:
• Sản xuất, lắp dựng kết cấu thép:
- Chế tạo, lắp dựng kết cấu thép các công trình công nghiệp và dân dụng, các
thiết bị phi tiêu chuẩn, khung nhà có khẩu độ lớn, các kết cấu dầm, sàn, silo, băng tải,
xe goòng, đốt cần trục tháp…
- Thiết kế, chế tạo, lắp dựng các thiết bị nâng hạ như cầu trục, cổng trục tải
trọng đến 15T, khẩu độ đến 28m.
- Thiết kế, chế tạo, lắp đặt, chuyển giao công nghệ các dây chuyền sản xuất đá,
gạch nền; sản xuất cột điện li tâm; sản xuất ống cống bằng phương pháp li tâm và
rung cưỡng bức…
- Thiết kế chế tạo các thiết bị phục vụ ngành xây dựng như: cốp pha, cột chống,
giàn giáo…
- Chế tạo, lắp dựng các loại cột điện cao thế, cột thu phát sóng cho ngành viễn
thông…
• Gia công cơ khí:
- Gia công cắt gọt tiện, phay, bào các chi tiết cơ khí.
- Tiện được các chi tiết có đường kính đến 1,8m; dài đến 2m; nặng 500Kg
Sinh viên: Đậu Thị Hải Hà Lớp: QLC 48
PHÓ TỔNG GIÁM ĐỐC
PHỤ TRÁCH KINH DOANH
SƠ ĐỒ TỔ CHỨC
CÔNG TY CỔ PHẦN CƠ KHÍ XÂY DỰNG SỐ 5
22
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
• Đúc luyện kim:
- Sản xuất phụ tùng cho ngành xi măng như: Bi nghiền clinker, tấm lót, cánh
nâng, các chi tiết chịu nhiệt, chịu mài mòn và các chi tiết khác.
- Chế tạo các chi tiết cho ngành khai thác mỏ, giao thông, nông nghiệp như:
răng gầu xúc, hàm nghiền vỏ bơm các loại.
- Các loại chi tiết đúc khác có trọng lượng đến 1500 Kg.
• Xây dựng
- Nhận thầu xây lắp các công trình công nghiệp, dân dụng, giao thông, thủy lợi,
kết cấu xây dựng.
Mục tiêu của Công ty là sử dụng vốn và lao động cho hoạt động sản xuất kinh
doanh, tạo ra lợi nhuận lớn nhất để hoàn thành nghĩa vụ ngân sách cho nhà nước,
nâng cao chất lượng dịch vụ tạo thương hiệu uy tín trên thị trường, đảm bảo đời sống
cho người lao động, xây dựng công ty ngày càng phát triển về mọi mặt.
3. Cơ cấu tổ chức
Từ khi thành lập đến nay, Công ty không ngừng cải tiến bộ máy quản lý cho
phù hợp với yêu cầu kinh doanh. Với bộ máy quản lý được phân bố như sơ đồ sau,
Công ty đã phát huy được khả năng nội tại đồng thời xây dựng được mối quan hệ
mật thiết, rõ ràng giữa các phòng ban và các đơn vị trực thuộc trực thuộc.
Xuất phát từ đặc điểm, nhiệm vụ kinh doanh, Công ty đã xây dựng bộ máy
theo cơ chế trực tuyến, các chức năng được chia cụ thể cho từng phòng ban và lãnh
đạo các đơn vị trực thuộc.
Sau đây là sơ đồ tổ chức của công ty:
Sinh viên: Đậu Thị Hải Hà Lớp: QLC 48
PHÓ TỔNG GIÁM ĐỐC
PHỤ TRÁCH KINH DOANH
SƠ ĐỒ TỔ CHỨC
CÔNG TY CỔ PHẦN CƠ KHÍ XÂY DỰNG SỐ 5
23
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp

Chức năng, nhiệm vụ của Đại hội đồng cổ đông
Đại hội đồng cổ đông gồm tất cả các cổ đông có quyền biểu quyết, là cơ quan
quyết định cao nhất của Công ty, có nhiệm vụ thông qua định hướng phát triển của
Công ty, quyết định các loại cổ phần và tổng số cổ phần, quyết định mức cổ tức hàng
năm; bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm thành viên hội đồng quản trị; quyết định sửa đổi
Điều lệ Công ty; thông qua báo cáo tài chính hàng năm và các quyền khác theo quy
định.
• Chức năng, nhiệm vụ của Hội đồng quản trị Công ty
Sinh viên: Đậu Thị Hải Hà Lớp: QLC 48
PHÓ TỔNG GIÁM ĐỐC
PHỤ TRÁCH SẢN XUẤT
TỔNG GIÁM ĐỐC CÔNG TY
XÍ NGHIỆP ĐÚC
XÍ NGHIỆP CƠ KHÍ
PHÒNG TỔNG HỢP
HỘI ĐỒNG QUẢN TRỊ
XÍ NGHIỆP XÂY DỰNG
PHÓ TỔNG GIÁM ĐỐC
PHỤ TRÁCH KINH DOANH
PHÒNG TÀI CHÍNH KT
PHÒNG ĐẦU TƯ VÀ
PTTT
ĐẠI HỘI ĐỒNG CỔ ĐÔNG
BAN KIỂM SOÁT
SƠ ĐỒ TỔ CHỨC
CÔNG TY CỔ PHẦN CƠ KHÍ XÂY DỰNG SỐ 5
24
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Hội đồng quản trị là cơ quan quản lý Công ty, quyết định chiến lược và kế hoạch
phát triển kinh doanh hàng năm của Công ty, quyết định phương án đầu tư và dự án đầu
tư của Công ty, có toàn quyền nhân danh Công ty để quyết định thực hiện các quyền và
nghĩa vụ của Công ty không thuộc thẩm quyền của Đại hội đồng cổ đông.
• Chức năng, nhiệm vụ của Ban kiểm soát Công ty
Ban kiểm soát có nhiệm vụ thay mặt Đại hội đồng Cổ đông giám sát, đánh giá
công tác điều hành, quản lí của Hội đồng quản trị và Ban Giám đốc theo đúng các qui
định trong Điều lệ Công ty, các Nghị quyết, Quyết định của Đại hội đồng Cổ đông;
kiểm tra tính hợp lý, hợp pháp, tính trung thực và mức độ cẩn trọng trong quản lý,
điều hành hoạt động kinh doanh, trong tổ chức công tác kế toán, thống kê và lập báo
cáo tài chính. Ban kiểm soát chịu trách nhiệm trước Đại hội đồng cổ đông trong việc
thực hiện các nhiệm vụ được giao.
• Chức năng, nhiệm vụ của Tổng giám đốc Công ty
Tổng giám đốc công ty do Hội đồng quản trị bổ nhiệm, là người đại diện theo
pháp luật của Công ty. Tổng giám đốc là người điều hành công việc kinh doanh hàng
ngày của Công ty, tổ chức thực hiện các quyết định của Hội đồng quản trị, tổ chức
thực hiện kế hoạch kinh doanh và các phương án đầu tư của Công ty và chịu sự giám
sát của Hội đồng quản trị, chịu trách nhiệm trước Hội đồng quản trị và trước pháp
luật về việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ được giao.
• Chức năng, nhiệm vụ của các Phó Tổng giám đốc
- Phó Tổng Giám đốc phụ trách sản xuất giúp việc Tổng Giám đốc điều hành
việc tổ chức sản xuất, cung cấp dịch vụ sửa chữa theo hợp đồng Công ty ký với
khách hàng.
- Phó Tổng Giám đốc phụ trách kinh doanh giúp việc Tổng Giám đốc trong
công tác kế hoạch sản xuất kinh doanh, kế hoạch đầu tư, nghiên cứu và mở rộng thị
trường cung cấp dịch vụ.
• Chức năng, nhiệm vụ của Phòng Tổng hợp
Phòng Tổng hợp là đơn vị nghiệp vụ - phục vụ tổng hợp trong Công ty, có
chức năng tham mưu cho Ban Giám đốc Công ty và có nhiệm vụ tổ chức thực hiện
các công việc trong các lĩnh vực công tác như:
Sinh viên: Đậu Thị Hải Hà Lớp: QLC 48
25

Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×