Tải bản đầy đủ

THỰC TRẠNG và giải pháp giúp tăng cường QUẢN TRỊ VỐN KINH DOANH TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN LILAMA 691

BỘ TÀI CHÍNH
HỌC VIỆN TÀI CHÍNH

Nguyễn Thu Hiền
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI:
MỘT SỐ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU GIÚP TĂNG
CƯỜNG QUẢN TRỊ VỐN KINH DOANH TẠI
CÔNG TY CỔ PHẦN LILAMA 69-1
Chuyên ngành: Tài chính Doanh nghiệp
Mã số: 11
NGƯỜI HƯỚNG DẪN: PGS., TS Nguyễn Trọng Cơ
Hà Nội - Năm 2014
1
BỘ TÀI CHÍNH
HỌC VIỆN TÀI CHÍNH

Nguyễn Thu Hiền
Lớp: CQ48/11.10
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI:

MỘT SỐ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU GIÚP TĂNG
CƯỜNG QUẢN TRỊ VỐN KINH DOANH TẠI
CÔNG TY CỔ PHẦN LILAMA 69-1
Chuyên ngành: Tài chính Doanh nghiệp
Mã số: 11
NGƯỜI HƯỚNG DẪN: PGS., TS Nguyễn Trọng Cơ
Hà Nội - Năm 2014
2
LỜI CAM ĐOAN
Em xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân.
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực xuất phát từ thực tế của
đơn vị thực tập.
Tác giả luận văn tốt nghiệp
(Ký và ghi rõ họ tên)
Nguyễn Thu Hiền
3
MỤC LỤC
MỤC LỤC 4
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT 5
DANH MỤC BẢNG BIỂU 7
LỜI MỞ ĐẦU 8
CHƯƠNG 1 10
LÝ LUẬN CHUNG VỀ VỐN KINH DOANH VÀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG
VỐN KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP 10
1.1 Vốn kinh doanh và nguồn vốn kinh doanh của Doanh nghiệp 10
1.1.1 Khái niệm, thành phần và đặc trưng của vốn kinh doanh 10
1.1.2. Nguồn hình thành vốn kinh doanh của Doanh nghiệp 15
1.2. Quản trị vốn kinh doanh của doanh nghiệp 18
1.2.1 Khái niệm và mục tiêu quản trị vốn kinh doanh 18
1.2.2 Nội dung quản trị vốn kinh doanh 19
1.2.3. Các chỉ tiêu đánh giá tình hình quản trị vốn kinh doanh của DN.
29
1.2.4. Các nhân tố ảnh hưởng đến quản trị vốn kinh doanh của DN 34
1.2.5.Giải pháp chung nhằm tăng cường quản trị vốn kinh doanh 36
CHƯƠNG 2 37
THỰC TRẠNG QUẢN TRỊ VỐN KINH DOANH TẠI CÔNG TY CỔ
PHẦN LILAMA 69-1 37
2.1. Khái quát tình hình đơn vị thực tập 37
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của công ty 37
2.1.2. Tổ chức hoạt động kinh doanh của công ty 39


2.1.3. Tình hình tài chính chủ yếu của Công ty cổ phần LILAMA 69-1
50
2.2. Thực trạng quản trị vốn kinh doanh tại Công ty Lilama 69-1 trong thời
gian qua 52
4
2.2.1. Tình hình vốn kinh doanh và nguồn vốn kinh doanh của Công
ty Cổ phần Lilama 69-1. 53
2.2.2. Thực trạng quản trị vốn kinh doanh tại Công ty Lilama 69-1 58
2.2.3. Đánh giá chung về tình hình quản trị vốn kinh doanh của công
ty cổ phần Lilama 69-1 70
CHƯƠNG 3 73
CÁC GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHẰM TĂNG CƯỜNG QUẢN TRỊ VỐN
KINH DOANH TẠI CÔNG TY LILAMA 69-1 73
3.1. Mục tiêu và định hướng phát triển của Công ty Lilama 69-1 trong thời
gian tới 73
3.1.1. Bối cảnh kinh tế- xã hội 73
3.1.2. Mục tiêu và định hướng phát triển của Công ty 74
3.2 Yêu cầu và nguyên tắc quán triệt khi xây dựng giải pháp 75
3.3. Một số giải pháp chủ yếu nhằm tăng cường quản trị vốn kinh doanh ở
Công ty Lilama 69-1 75
3.3.1 Nhóm giải pháp chung 75
3.3.2 Nhóm giải pháp cụ thể 80
3.4 Một số kiến nghị 89
3.4.1 Một số kiến nghị với Nhà Nước 89
3.4.2. Một số kiến nghị đối với Công ty 90
KẾT LUẬN 92
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Chữ viết tắt Ý nghĩa chữ viết tắt
CBCNV Cán bộ công nhân viên
DN Doanh nghiệp
ĐVT Đơn vị tính
HTK Hàng tồn kho
LNST Lợi nhuận sau thuế
LNTT Lợi nhuận trước thuế
5
SXKD Sản xuất kinh doanh
TSCĐ Tài sản cố định
TSLĐ Tài sản lưu động
VCĐ Vốn cố định
VCSH Vốn chủ sở hữu
VKD Vốn kinh doanh
VLĐ Vốn lưu động
VNĐ Việt Nam đồng
6
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Số Nội dung Trang phụ lục
Bảng 2.1 Tình hình biến động tài sản, nguồn vốn 1
Bảng 2.2 Tình hình biến động doanh thu, chi phí và lợi nhuận 2
Bảng 2.3 Tình hình biến động vốn kinh doanh năm 2013 3
Bảng 2.4
Tình hình biến động nguồn vốn kinh doanh năm
2013
5
Bảng 2.5 Tình hình tự tài trợ 6
Bảng 2.6 Tình hình phân bổ vốn lưu động 7
Bảng 2.7
Các chỉ tiêu phản ánh khả năng thanh toán của Nhà
máy
8
Bảng 2.8
Tình hình biến động các chỉ tiêu trong khoản phải
thu ngắn hạn
9
Bảng 2.9 Chỉ tiêu phản ánh tình hình nợ phải thu 9
Bảng 2.10 Cơ cấu hàng tồn kho 10
Bảng 2.11 Các chỉ tiêu phản ánh tình hình hàng tồn kho 11
Bảng 2.12 Tình hình quản lý, sử dụng vốn lưu động 12
Bảng 2.13
Cơ cấu và sự biến động tài sản cố định của doanh
nghiệp
13
Bảng 2.14 Tình hình quản lý, sử dụng VCĐ và TSCĐ 14
Bảng 2.15 Hiệu quả sử dụng VKD 15
7
LỜI MỞ ĐẦU
1. Lý do lựa chọn đề tài:
Như chúng ta đã biết, vốn kinh doanh là một yếu tố quan trọng bậc nhất
của mọi doanh nghiệp, không doanh nghiệp nào có thể tiến hành hoạt động
sản xuất kinh doanh mà không có vốn.
Trong cơ chế bao cấp trước đây, vốn của doanh nghiệp hầu hết được
Nhà Nước tài trợ, số còn lại được Ngân hàng cho vay với lãi suất ưu đãi. Do
được bao cấp về vốn nên các doanh nghiệp đã sinh ra sự ỷ lại vào Nhà Nước
trong việc tổ chức nguồn vốn, dẫn tới hiệu quả sử dụng vốn thấp, nhiều doanh
nghiệp không bảo toàn và phát triển được vốn.
Chuyển sang nền kinh tế thị trường, cùng với sự gia tăng mạnh mẽ cả
về số lượng lẫn loại hình doanh nghiệp mới, sự cạnh tranh của thị trường ngày
càng trở nên khốc liệt. Các doanh nghiệp giờ đây không thể thụ động trông
chờ Nhà Nước cấp vốn hay lên kế hoạch kinh doanh nữa, họ phải tự tính toán
nhu cầu vốn, lên kế hoạch huy động và sử dụng vốn sao cho hiệu quả thì mới
có thể tồn tại và phát triển được.
Tuy nhiên, công tác quản trị vốn kinh doanh không hề đơn giản, vẫn
còn không ít các doanh nghiệp đang rất lúng túng trong việc quản lý và sử
dụng vốn. Nhiều doanh nghiệp không thể tái sản xuất giản đơn, vốn sản xuất
bị mất dần đi sau mỗi chu kỳ kinh doanh. Do đó, việc làm thế nào để tăng
cường hiệu quả quản trị vốn kinh doanh luôn là một trong những mối quan
tâm hàng đầu của các doanh nghiệp.
Xuất phát từ tầm quan trọng của công tác quản trị vốn kinh doanh trong
doanh nghiệp, em đã chọn đề tài: “Một số giải pháp chủ yếu giúp tăng
cường quản trị vốn kinh doanh tại công ty cổ phần LILAMA 69-1”
8
2. Mục đích nghiên cứu
Mục tiêu của đề tài là làm rõ những ưu, nhược điểm về quản trị vốn
kinh doanh của công ty. Từ đó đề ra các biện pháp khắc phục và hạn chế
những nhược điểm, đẩy mạnh những ưu điểm nhằm nâng cao quản trị vốn của
công ty.
3. Đối tượng nghiên cứu:
Đề tài nghiên cứu một số vấn đề quản trị vốn kinh doanh của doanh
nghiệp xây lắp.
Đề tài chọn điểm nghiên cứu là Công ty cổ phần Lilama 69-1. Thời
gian nghiên cứu là từ năm 2011 đến 2013.
4. Phương pháp nghiên cứu
Nhằm tìm hiểu một cách toàn diện và đánh giá một cách chính xác hiệu
quả quản trị vốn kinh doanh tại Công ty cổ phần Lilama 69-1, các phương
pháp nghiên cứu được sử dụng để nghiên cứu và giải quyết vấn đề gồm:
phương pháp duy vật biện chứng, phương pháp Logic, phương pháp so sánh
và đối chiếu.
5. Kết cấu của đề tài:
Bố cục của đề tài được chia làm 3 phần:
Chương 1: Những vấn đề lý luận chung về vốn kinh doanh và quản trị
vốn kinh doanh của công ty cổ phần LILAMA 69-1
Chương 2: Thực trạng quản trị vốn kinh doanh tại Cty công ty cổ phần
LILAMA 69-1 trong thời gian qua
Chương 3: Các giải pháp chủ yếu nhằm tăng cường quản trị vốn kinh
doanh tại công ty cổ phần LILAMA 69-1
9
CHƯƠNG 1
LÝ LUẬN CHUNG VỀ VỐN KINH DOANH VÀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG
VỐN KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP
1.1 Vốn kinh doanh và nguồn vốn kinh doanh của Doanh nghiệp
1.1.1 Khái niệm, thành phần và đặc trưng của vốn kinh doanh
1.1.1.1 Khái niệm vốn kinh doanh
Trong nền kinh tế thị trường, để tiến hành hoạt động SXKD, doanh
nghiệp phải có những yếu tố cơ bản là: Tư liệu lao động, đối tượng lao động
và sức lao động.
Để có được các yếu tố cần thiết trên, đòi hỏi các doanh nghiệp phải có
một lượng vốn nhất định ứng trước để đầu tư cho những yếu tố đó, gọi là vốn
kinh doanh của doanh nghiệp.
Từ đó, ta có thể rút ra khái niệm về vốn kinh doanh như sau:
“Vốn kinh doanh của doanh nghiệp là toàn bộ số tiền ứng trước mà
doanh nghiệp bỏ ra để đầu tư hình thành các tài sản cần thiết cho hoạt động
sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
1.1.1.2 Đặc trưng của vốn kinh doanh
Vốn kinh doanh (VKD) có 7 đặc trưng cơ bản sau:
- Vốn được hiểu bằng giá trị của toàn bộ tài sản thuộc quyền quản lý và
sử dụng của doanh nghiệp tại một thời điểm nhất định, bao gồm cả tài sản
hữu hình và vô hình.
- Vốn phải được tích tụ tập trung đến một lượng nhất định mới có thể
phát huy được tác dụng. Để đầu tư sản xuất kinh doanh, vốn của doanh
nghiệp được tích tụ thành một lượng tiền lớn tới mức ít nhất bằng vốn pháp
định mà nhà nước đã qui định cho mỗi ngành nghề, lĩnh vực hoạt động.
10
- Vốn không đồng nhất với tiền tệ. Tiền tệ là hình thái vốn ban đầu của
các doanh, để biến thành vốn thì tiền phải được đưa vào SXKD và sinh lời.
- VKD của Doanh nghiệp thường xuyên vận động và chuyển hóa từ
hình thái ban đầu là tiền sang hình thái hiện vật và cuối cùng lại trở về hình
thái ban đầu là tiền. Sự vận động này gọi là sự tuần hoàn của vốn.
- Vốn có giá trị về mặt thời gian: Điều này thể hiện rất rõ trong nền
kinh tế thị trường hiện nay.Vốn của doanh nghiệp tại các thời điểm khác nhau
có giá trị khác nhau, vì vốn luôn chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố như lạm
phát, giá cả, tiến bộ khoa học kỹ thuật, rủi ro tỷ giá hối đoái
- Vốn phải gắn liền với chủ sở hữu nhất định: Do quyền sở hữu và
quyền sử dụng vốn có sự tách biệt vì vậy mà người sử dụng vốn chưa chắc là
người sở hữu vốn. Chính vì vậy, đòi hỏi người sử dụng phải có trách nhiệm
với đồng vốn mình nắm giữ và sử dụng.
- Vốn được quan niệm là một loại hàng hoá đặc biệt, nó có thể được
mua hay bán quyền sử dụng trên thị trường.
1.1.1.3 Thành phần của vốn kinh doanh
Căn cứ vào đặc điểm chu chuyển của vốn, có thể chia VKD thành 2
loại là: Vốn cố định(VCĐ) và Vốn lưu động(VLĐ).
1.1.1.3.1 Vốn cố định
VCĐ của doanh nghiệp là một bộ phận của vốn đầu tư ứng trước về tài
sản cố định (TSCĐ) mà đặc điểm của nó là luân chuyển dần từng phần trong
nhiều chu kỳ sản xuất và hoàn thành một vòng tuần hoàn khi TSCĐ hết thời
gian sử dụng. VCĐ của doanh nghiệp là bộ phận quan trọng của vốn đầu tư
nói riêng và VKD nói chung.
Quy mô của VCĐ sẽ quyết định đến quy mô của TSCĐ.Nhưng đặc
điểm vận động của TSCĐ lại quyết định đến đặc điểm tuần hoàn và chu
chuyển giá trị của VCĐ. TSCĐ trong các doanh nghiệp là những tư liệu lao
động chủ yếu mà đặc điểm của chúng là tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất.
11
Trong quá trình đó, giá trị của TSCĐ không bị hao mòn hoàn toàn trong lần
sử dụng đầu tiên mà nó được chuyển dịch dần dần từng phần vào giá thành
sản phẩm và nhiều chu kỳ sản xuất tiếp theo. Sự vận động của TSCĐ trong
thời gian tham gia vào quá trình sản xuất được cụ thể hoá như sau:
Về mặt hiện vật: TSCĐ tham gia hoàn toàn và nhiều lần trong quá trình
sản xuất và bị hao mòn dần (bao gồm hao mòn hữu hình và hao mòn vô hình).
Hay nói cách khác, giá trị sử dụng sẽ giảm dần cho đến khi TSCĐ bị hư hỏng
hoàn toàn và phải loại khỏi quá trình sản xuất.
Về mặt giá trị: Giá trị của TSCĐ được biểu hiện dưới hình thái ban đầu
là bản thân hiện vật TSCĐ, trong quá trình sản xuất, một bộ phận giá trị
chuyển vào giá trị sản phẩm mà TSCĐ đó sản xuất ra và bộ phận này sẽ
chuyển hoá thành tiền khi tiêu thụ được sản phẩm.
Như vậy, TSCĐ là một hàng hoá, thông qua mua bán trao đổi nó có thể
được chuyển quyển sở hữu và quyền sử dụng từ chủ thể này sang chủ thể
khác trên thị trường tư liệu sản xuất. Việc quản lý VCĐ và TSCĐ trên thực tế
là công việc phức tạp bởi đặc điểm vận động về hiện vật và giá trị của TSCĐ
đã quyết định đến đặc điểm chu chuyển của VCĐ như sau:
Một là :VCĐ tham gia nhiều chu kỳ sản xuất: Có được điểm này là do
TSCĐ tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp và phát huy tác dụng trong nhiều chu
kỳ sản xuất. Vì thế VCĐ là hình thái biểu hiện bằng tiền của TSCĐ được
tham gia vào các chu kỳ sản xuất tương ứng.
Hai là :VCĐ được lưu chuyển giá trị dần dần từng phần trong các chu
kỳ sản xuất khi tham gia vào quá trình sản xuất, TSCĐ không bị thay đổi hình
thái hiện vật ban đầu nhưng tính năng và công suất của nó bị giảm dần về giá
trị sử dụng thì giá trị của nó cũng bị giảm đi. Theo đó giá trị của VCĐ được
tách ra làm 2 bộ phận:
12
Bộ phận thứ nhất: Tương ứng với giá trị hao mòn được chuyển vào giá
trị của sản phẩm dưới hình thức chi phí khấu hao và được tích luỹ lại thành
quỹ khấu hao sau khi sản phẩm hàng hoá được tiêu thụ. Quỹ khấu hao dùng
để tái sản phẩm cố định nhằm duy trì năng lực sản xuất của doanh nghiệp.
Bộ phận thứ 2: Là phần giá trị còn lại của VCĐ được "cố định" trong
tài sản.Trong chu kỳ sản xuất tiếp theo nếu phần giá trị còn lại của TSCĐ
ngày càng giảm đi thì phần vốn luân chuyển lại càng tăng lên tương ứng với
sự suy giảmdần giá trị sử dụng của TSCĐ. Kết thúc quá trình vận động đó
cũng chính là lúc TSCĐ hết thời hạn sử dụng và VCĐ cũng hoàn thành một
vòng luân chuyển.
Như vậy, VCĐ là một bộ phận quan trọng chiếm tỷ lệ lớn trong toàn bộ
VKD của doanh nghiệp, đặc điểm của nó lại tuân theo quy luật riêng. Do đó
việc tổ chức và sử dụng VCĐ có ảnh hưởng lớn trực tiếp đến hiệu quả VKD
của doanh nghiệp.
1.1.1.3.2 Vốn lưu động
VLĐ là số tiền ứng trước về tài sản lưu động (TSLĐ) sản xuất và tài
sản lưu thông nhằm đảm bảo cho quá trình SXKD diễn ra một cách thường
xuyên, liên tục mà đặc điểm của nó là luân chuyển không ngừng, luôn thay
đổi hình thái biểu hiện và chuyển dịch toàn bộ giá trị một lần trong toàn bộ
chu kỳ sản xuất.
Với các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh thì TSLĐ gồm 2 loại:TSLĐ
sản xuất và TSLĐ lưu thông. TSLĐ sản xuất bao gồm các loại nguyên vật
liệu, phụ tùng thay thế, sản phẩm dở dang đang trong quá trình dự trữ sản
xuất hoặc chế biến. Còn TSLĐ lưu thông bao gồm các sản phẩm, thành phẩm
chờ tiêu thụ, các loại vốn bằng tiền,vốn trong thanh toán
13
TSLĐ nằm trong quá trình sản xuất và TSLĐ nằm trong quá trình lưu
thông luôn vận động, thay thế và chuyển hoá lẫn nhau đảm bảo cho quá trình
SXKD được tiến hành liên tục.
Khác với TSCĐ, TSLĐ luôn luôn thay đổi hình thái biểu hiện để tạo ra
sản phẩm. Đặc điểm của VLĐ trong quá trình SXKD là luân chuyển toàn bộ
giá trị ngay một lần và hoàn thành một vòng tuần hoàn sau mỗi chu kỳ sản
xuất, nó được coi là điều kiện vật chất không thể thiếu được của quá trình sản
xuất. Đặc điểm này đã quyết định sự vận động của VLĐ - hình thái giá trị của
TSLĐ.
Khởi đầu của vòng tuần hoàn, doanh nghiệp dùng tiền để mua hàng
hoá, nguyên vật liệu nhằm dự trữ SXKD. Lúc này VLĐ chuyển từ hình thái
tiền tệ sang hình thái vật tư hàng hoá (T - H).
Giai đoạn II: Là giai đoạn sản xuất: Hàng hoá, nguyên vật liệu trải qua
quá trình bảo quản sơ chế được đưa vào dây chuyền công nghệ. Trong qúa
trình này, vốn chuyển từ hình thái hàng hoá, vật tư dự trữ sang hình thái sản
phẩm dở dang, bán thành phẩm, thành phẩm (H - SX - H').
Giai đoạn III: Doanh nghiệp bán hàng thu được tiền. Vốn được chuyển
từ hình thái thành phẩm sang hình thái tiền tệ tức là trở về hình thái ban đầu
(H' - T').
Quá trình SXKD diễn ra một cách thường xuyên liên tục nên cùng một
thời điểm VLĐ thường tồn tại dưới nhiều hình thái khác nhau trong lĩnh vực
sản xuất và lưu thông, các giai đoạn vận động của vốn được đan xen vào nhau
và các chu kỳ sản xuất được lặp đi lặp lại. Sau mỗi chu kỳ sản xuất VLĐ hoàn
thành 1 vòng tuần hoàn.
Từ đặc điểm về phương thức chuyển dịch giá trị và vận động của VLĐ
đã xem xét ở trên, đòi hỏi công tác tổ chức quản lý và sử dụng VLĐ cần giải
quyết một số vấn đề sau:
14
Phải xác định được số VLĐ thường xuyên cần thiết cho hoạt động
SXKD của doanh nghiệp. Đây là nhiệm vụ trọng tâm của công tác quản lý
vốn bởi vì việc xác định nhu cầu VLĐ cần thiết tối thiểu cho SXKD sẽ bảo
đảm đủ VLĐ cho quá trình này được liên tục, tránh hiện tượng ứ đọng vốn.
Cần tổ chức khai thác các nguồn tài trợ lưu động, đảm bảo đầy đủ kịp
thời cho SXKD.Đồng thời phải có các giải pháp thích ứng nhằm quản lý và sử
dụng VLĐ một cách hiệu quả, đẩy mạnh tốc độ luân chuyển vốn.
1.1.2. Nguồn hình thành vốn kinh doanh của Doanh nghiệp
Nguồn VKD của doanh nghiệp là toàn bộ các nguồn tài chính mà
doanh nghiệp có thể khai thác và sử dụng trong một thời kỳ nhất định để đáp
ứng nhu cầu SXKD của doanh nghiệp.
Trong nền kinh tế thị trường có rất nhiều nguồn hình thành lên vốn
SXKD của doanh nghiệp. Tài chính doanh nghiệp có vai trò khai thác, thu hút
các nguồn tài chính đảm bảo đầy đủ và kịp thời vốn cho hoạt động kinh doanh
của doanh nghiệp đồng thời phải lựa chọn được phương pháp, hình thức huy
động vốn hợp lý, phù hợp đặc điểm, tình hình của doanh nghiệp.
Để làm được điều trên, cần phân loại nguồn vốn cũng như nắm được
những đặc điểm cơ bản của từng loại nguồn vốn. Có thể phân loại nguồn vốn
của Doanh nghiệp như sau:
1.1.2.1 Theo quan hệ sở hữu
VKD được chia thành hai loại:Vốn chủ sở hữu và Nợ phải trả
- Vốn chủ sở hữu (VCSH): Phản ánh số vốn thuộc quyền sở hữu của
chủ doanh nghiệp vì vậy doanh nghiệp được quyền chi phối và sử dụng lâu
dài vào các hoạt động kinh doanh của mình. Tuỳ theo từng loại hình doanh
nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác nhau mà VCSH là vốn nhà nước,
vốn tự bổ sung từ LNST và từ các quỹ của doanh nghiệp. Loại vốn này được
15
đánh giá là ổn định và mang lại hiệu quả kinh tế rất cao cho người nắm giữ
nếu biết sử dụng hợp lý.
- Nợ phải trả (NPT): Là loại vốn thuộc quyền sở hữu của người khác,
doanh nghiệp được quyền sử dụng trong một thời gian nhất định. NPT bao
gồm nợ vay và các khoản phải trả.Nợ vay được hình thành từ các khoản vay
ngân hàng và các tổ chức tín dụng khác, sử dụng khoản nợ này doanh nghiệp
phải hoàn trả cả gốc và lãi đúng hạn.Các khoản phải trả cho người bán, phải
trả cho các bộ công nhân viên, thuế và các khoản phải nộp nhà nước.
Tác dụng của cách phân loại này cho ta thấy kết cấu VKD được hình
thành bằng vốn bản thân doanh nghiệp và các nguồn vốn huy động từ bên
ngoài.Từ đó giúp cho doanh nghiệp tìm biện pháp tổ chức quản lý, sử dụng
vốn hợp lý, có hiệu quả biết được khả năng của doanh nghiệp trong việc huy
động vốn là cao hay thấp. Hơn nữa doanh nghiệp có thể tính toán tìm ra kết
cấu vốn hợp lý với chi phí sử dụng vốn thấp nhất.
1.1.2.2 Theo thời gian huy động và sử dụng vốn
VKD được hình thành từ hai nguồn: Nguồn vốn thường xuyên và
nguồn vốn tạm thời
- Nguồn vốn thường xuyên bao gồm: VCSH và các khoản vay dài hạn.
Đây là nguồn vốn có tính chất ổn định mà doanh nghiệp có thể sử dụng.
Thông thường nguồn vốn này đựơc đầu tư cho TSCĐ và một bộ phận nhỏ cho
TSLĐ thường xuyên cần thiết cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
- Nguồn vốn tạm thời: là nguồn vốn có tính chất ngắn hạn mà doanh
nghiệp có thể sử dụng để đáp ứng nhu cầu về vốn có tính chất tạm thời, bất
thường phát sinh trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Nguồn vốn
này gồm các khoản vay ngắn hạn ngân hàng, các tổ chức tín dụng và các
khoản nợ ngắn hạn khác
16
Việc phân loại nguồn vốn theo cách này giúp cho người quản lý xem
xét huy động các nguồn vốn một cách phù hợp với thời gian sử dụng, đáp ứng
đầy đủ kịp thời vốn cho SXKD và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn doanh
nghiệp. Cách phân loại này còn giúp các nhà quản lý doanh nghiệp lập các kế
hoạch tài chính, hình thành nên những dự định về tổ chức nguồn vốn trong
trong lai trên cơ sở xác định quy mô về số lượng vốn cần thiết, lựa chọn
nguồn vốn và quy mô thích hợp cho từng nguồn vốn.
1.1.2.3 Theo phạm vi huy động vốn
Nguồn vốn của doanh nghiệp đựơc chia thành hai nguồn: Nguồn vốn
bên trong và Nguồn vốn bên ngoài doanh nghiệp
- Nguồn vốn bên trong doanh nghiệp: Là nguồn vốn có thể huy động
được từ hoạt động của bản thân doanh nghiệp. Nguồn vốn này có ý nghĩa rất
quan trọng đối với sự phát triển của doanh nghiệp. Huy động vốn và sử dụng
nguồn vốn bên trong tạo điều kiện cho doanh nghiệp tự chủ trong SXKD.
Nguồn vốn này gồm khấu hao TSCĐ, lợi nhuận để lại của doanh nghiệp, các
quỹ dự phòng, các khoản thu do nhượng bán thanh lý TSCĐ
- Nguồn vốn bên ngoài doanh nghiệp: Là nguồn vốn mà doanh nghiệp
có thể huy động từ bên ngoài đáp ứng nhu cầu SXKD của đơn vị mình. Bao
gồm nhồn vốn liên doanh, liên kết vốn vay ngân hàng và các tổ chức tín dụng,
phát hành trái phiếu và các khoản nợ khác.
Đối với nguồn vốn này doanh nghiệp cần phải lựa chọn sao cho hiệu
quả kinh tế mang lại là lớn nhất với chi phí sử dụng vốn là thấp nhất. Việc
huy động và sử dụng vốn từ bên ngoài có ưu điểm lớn là nó tạo ra cho doanh
nghiệp một cơ cấu tổ chức linh hoạt hơn, nó sẽ làm khuếch đại VCSH nếu
hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp có hiệu quả và khi doanh lợi VCSH
lớn hơn chi phí sử dụng vốn thì việc huy động vốn từ bên ngoài sẽ dễ dàng
17
hơn và ngược lại.Tuy nhiên việc sử dụng nguồn vốn này cũng mang lại nhiều
rủi ro, Doanh nghiệp cần thận trọng khi sử dụng nguồn vốn này.
Tóm lại, vốn SXKD của doanh nghiệp được hình thành bởi tổ hợp của
nhiều loại nguồn vốn khác nhau có ưu nhược điểm riêng. Mục tiêu của mỗi
doanh nghiệp là phải xác lập được một cơ cấu nguồn vốn thích hợp, chủ động
khai thác các nguồn vốn nhằm đáp ứng nhu cầu vốn của doanh nghiệp trong
quá trình SXKD, trên cơ sở tăng cường và nâng cao hiệu quả sử dụng đồng
vốn hiện có. Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn SXKD là yêu cầu tiên quyết của
mỗi doanh nghiệp trong nền kinh tế, đặc biệt là trong nền kinh tế thị trường.
1.2. Quản trị vốn kinh doanh của doanh nghiệp
1.2.1 Khái niệm và mục tiêu quản trị vốn kinh doanh
1.2.1.1 Khái niệm quản trị vốn kinh doanh
Bất cứ một doanh nghiệp nào tham gia vào hoạt động sản xuất, kinh
doanh đều mong muốn tối đa hoá lợi nhuận để tái sản xuất mở rộng, mang lại
thu nhập cho cán bộ công nhân viên và nâng cao vị thế của doanh nghiệp trên
thương trường. Để đạt được điều đó, mỗi doanh nghiệp phải có kế hoạch và
chiến lược quản trị vốn kinh doanh, doanh nghiệp không thể hoạt động một
cách hiệu quả nếu các nguồn tài chính của doanh nghiệp không được quản lý
đúng mức và có hiệu quả.
Quản trị vốn kinh doanh là việc huy động, phân phối và sử dụng vốn
kinh doanh sao cho chúng được sử dụng một cách hiệu quả và tốt nhất phục
vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
1.2.1.2 Mục tiêu quản trị vốn kinh doanh
Mục tiêu của quản trị vốn kinh doanh là xác định nhu cầu Vốn kinh
doanh và tìm các nguồn tài trợ để phân bổ và sử dụng vốn vào các hoạt động
18
sản xuất kinh doanh. Tiếp đó phân tích, đánh giá hiệu quả sử dụng Vốn, từ đó
tìm ra nguyên nhân và đưa ra giải pháp giữ vững phát huy những điệm mạnh
và khắc phục những điểm vẫn còn tồn tại.
1.2.2 Nội dung quản trị vốn kinh doanh
1.2.2.1 Quản trị vốn cố định của doanh nghiệp
 Nội dung quản trị vốn cố định
a. Khấu hao TSCĐ của doanh nghiệp
* Hao mòn TSCĐ
• Hao mòn hữu hình: Là sự hao mòn về mặt vật chất, về giá trị sử
dụng và giá trị của TSCĐ trong quá trình sử dụng.
Nguyên nhân của hao mòn hữu hình trước hết là do các yếu tố liên
quan đến quá trình sử dụng TSCĐ như thời gian và cường độ sử dụng TSCĐ;
việc chấp hành các quy trình, quy phạm kỹ thuật trong sử dụng và bảo dưỡng,
sửa chữa TSCĐ. Tiếp đến là các yếu tố thuộc môi trường tự nhiên và điều
kiện sử dụng TSCĐ như thời tiết, nhiệt độ, độ ẩm không khí, tải trọng, tác
động của hóa chất…Ngoài ra chất lượng nguyên vật liệu, trình độ kỹ thuật
công nghệ chế tạo TSCĐ cũng ảnh hưởng rất lớn đến mức độ hao mòn hữu
hình của TSCĐ trong quá trình sử dụng
• Hao mòn vô hình: Là sự giảm sút thuần túy về giá trị của TSCĐ,
biểu hiện ở sự giảm sút giá trị trao đổi của TSCĐ do ảnh hưởng của tiến bộ
khoa học – kỹ thuật và công nghệ sản xuất. Do tiến bộ khoa học – kỹ thuật và
công nghệ sản xuất. Do tiến bộ khoa học – kỹ thuật và công nghệ sản xuất
làm cho TSCĐ cũ bị mất giá so với TSCĐ mới.
Nguyên nhân của hao mòn vô hình là sự phát triển không ngừng của
tiến bộ khoa học – kỹ thuật và công nghệ sản xuất. Do đó biện pháp chủ yếu
19
để hạn chế hao mòn vô hình là các doanh nghiệp phải thường xuyên đổi mới,
ứng dụng kịp thời các thành tựu tiến bộ khoa học – kỹ thuật, công nghệ vào
sản xuất của doanh nghiệp.
* Khấu hao TSCĐ
Khấu hao TSCĐ là việc phân bổ một cách có hệ thống giá trị phải thu
hồi của TSCĐ vào chi phí sản xuất kinh doanh trong suốt thời gian sử dụng
hữu ích của TSCĐ
Các phương pháp khấu hao:
• Phương pháp khấu hao đường thẳng
Theo phương pháp này, mức khấu hao và tỷ lệ khấu hao hàng năm
được tính bình quân trong suốt thời gian sử dụng hữu ích của TSCĐ.
Công thức xác định:
M
KH
=
T
KH =
100% = 100%
Trong đó:
M
KH
: Mức khấu hao hàng năm
T
KH
: Tỷ lệ khấu hao hàng năm
NG
KH
: Nguyên giá TSCĐ phải khấu hao
T: Thời gian sử dụng hữu ích của TSCĐ (năm)
Nếu doanh nghiệp tính khấu hao theo tháng thì lấy mức khấu hao hàng
năm hoặc tỷ lệ khấu hao hàng năm chia cho 12 tháng để xác định mức khấu
hao và tỷ lệ khấu hao theo từng tháng.
Nguyên giá TSCĐ là toàn bộ các khoản chi phí mà doanh nghiệp phải ỏ
ra để có được TSCĐ tính đến thời điểm đưa TSCĐ vào trạng thái sẵn sàng sử
dụng.
20
Thời gian sử dụng hữu ích của TSCĐ là thời gian sử dụng dự tính còn
đem lại lợi ích kinh tế cho doanh nghiệp. Thông thường được xác định dựa
trên tuổi thọ kỹ thuật và tuổi thọ kinh tế của TSCĐ.
Tỷ lệ khấu hao TSCĐ có thể được xác định riêng cho từng TSCĐ, từng
nhóm, loại TSCĐ hoặc cho toàn bộ các loại TSCĐ của doanh nghiệp.
Phương pháp khấu hao theo đường thẳng có ưu điểm là tính toán đơn
giản; chi phí khấu hao được phân bổ vào giá thành sản phẩm ổn định nên
không gây đột biến về giá thành; cho phép doanh nghiệp dự kiến trước được
thời hạn thu hồi đủ vốn đầu tư vào các loại TSCĐ
• Phương pháp khấu hao nhanh
Phương pháp khấu hao nhanh là đẩy nhanh việc thu hồi vốn trong
những năm đầu sử dụng TSCĐ
- Phương pháp khấu hap theo số dư giảm dần
Mức khấu hao hàng năm được xác định bằng cách lấy giá trị còn lại của
TSCĐ phải tính khấu hao nhân với tỷ lệ khấu hao nhanh.
M
KHt
= G
Ct
T
KHđ
Trong đó:
M
KHt
: Mức khấu hao năm t
G
Ct
: Giá trị còn lại của TSCĐ ở đầu năm thứ t
T
KHđ
: Tỷ lệ khấu hao nhanh của TSCĐ
T: Thứ tự năm sử dụng TSCĐ (t=1 n)
Tỷ lệ khấu hao nhanh được xác định bằng cách lấy tyt lệ khấu hao bình
quân nhân với hệ số điều chỉnh khấu hao nhanh.
- Phương pháp khấu hao theo tổng số thứ tự năm sử dụng
Mức khấu hao hàng năm được xác định bằng nguyên giá TSCĐ cần
tính khấu hao nhân với tỷ lệ khấu hao của từng năm.
M
KHt
= NG
KH
T
KHt
Trong đó:
M
KHt
: Mức khấu hao năm t
NG
KH
: Nguyên giá TSCĐ phải tính khấu hao
T
KH
: Tỷ lệ khấu hao của năm thứ t cần tính khấu hao
Tỷ lệ khấu hao của năm cần tính khấu hao có thể tính theo 2 cách:
Cách 1: Lấy số năm sử dụng còn lại của TSCĐ cho đến khi hết thời hạn
sử dụng chia cho tổng số thứ tự năm sử dụng
21
Cách 2: Áp dụng công thức sau:
T
KHt
=
Trong đó:
T
KHt
: Tỷ lệ khấu hao của năm cần tính khấu hao
T: Thời hạn sử dụng TSCĐ (năm)
T: Thời điểm (năm t) cần tính khấu hao
Phương pháp khấu hao theo sản lượng
Theo phương pháp này mức khấu hao hàng năm được xác định bằng
cách lấy sản lượng dự kiến sản xuất hàng năm nhân với mức trích khấu hao
tính cho một đơn vị sản phẩm hoặc khối lượng công việc hoàn thành.
M
KHt
= Q
SPt
M
KHsp
Trong đó:
M
KHt
: Mức khấu hao TSCĐ ở năm t
Q
SPt
: Số lượng sản phẩm sản xuất trong năm t
MKHsp: Mức khấu hao đơn vị sản phẩm
Mức khấu hao đơn vị sản phẩm được tính bằng cách lấy nguyên giá
TSCĐ phải tính khấu hao chia cho số lượng (hoặc khối lượng) sản phẩm sản
xuất theo công suất thiết kế trong suốt thời gian hoạt động hữu ích của TSCĐ.
Trường hợp tính khấu hao theo sản lượng từng tháng thì lấy số lượng (hoặc
khối lượng) sản phẩm sản xuất trong tháng nhân với mức khấu hao bình quân
cho 1 đơn vị sản phẩm.
Phương pháp khấu hao theo sản lượng thích hợp với những TSCĐ hoạt
động có tính chất thời vụ trong năm và có liên quan trực tiếp đến việc sản
xuất sản phẩm. Tuy nhiên, phương pháp này đòi hỏi việc thống kê khối lượng
sản phẩm, công việc do TSCĐ thực hiện trong kỳ phải được rõ ràng, đầy đủ.
22
1.2.2.2 Quản trị vốn lưu động của doanh nghiệp
 Nội dung quản trị vốn lưu động của doanh nghiệp
a. Xác định nhu cầu vốn lưu động của doanh nghiệp
Nhu cầu vốn lưu động thường xuyên cần thiết là số vốn lưu động tối
thiểu cần thiết phải có để đảm bảo cho hoạt động sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp được tiến hành bình thường, liên tục.
Dưới mức này sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp sẽ khó khăn,
thậm chí bị đình trệ, gián đoạn. Nhưng nếu trên mức cần thiết lại gây nên tình
trạng vốn bị ứ đọng, sử dụng vốn lãng phí, kém hiệu quả.
Để xác định nhu cầu vốn lưu động của doanh nghiệp có thể sử dụng 2
phương pháp trực tiếp và gián tiếp:
- Phương pháp trực tiếp
Phương pháp này căn cứ vào những yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến
lượng vốn lưu động ứng ra để xác định nhu cầu vốn lưu động của doanh
nghiệp.
Công thức xác định:
Nhu cầu
VLĐ
=
Vốn hàng
tồn kho
+
Nợ phải thu
KH
-
Nợ phải trả nhà
cung cấp
Trong đó:
Vốn hàng tồn kho = V
HTK
=
M
ij
: Chi phí sử dụng bình quân một ngày của hàng tồn khoi
N
ij
: Số ngày dự trữ của hàng tồn kho i
n: Số loại hang tồn kho cần dự trữ
m: số khâu (giai đoạn) cần dự trữ hang tồn kho
23
Các khoản phải thu khách hàng
= x x = x
=
Các khoản phải trả nhà cung cấp
Nợ phải trả
nhà cung cấp
=
Kỳ trả tiền
trung bình
x
Giá trị NVL mua chịu bình quân
1 ngày kỳ kế hoạch
XD = X
Giá trị NVL mua chịu
bình quân 1 ngày kỳ
kế hoạch
= Tổng giá trị vật tư hàng hóa dự kiến trong kỳ
Số ngày trong kỳ
Ưu điểm: Nhu cầu vốn lưu động được xác định theo phương pháp này
tương đối sát và phù hợp với các doanh nghiệp trong điều kiện hiện nay. Xác
định được nhu cầu cụ thể từng loại vốn trong từng khâu kinh doanh, tạo điều
kiện nâng cao hiệu quả việc quản lý sử dụng từng loại vốn.
Nhược điểm: Việc tính toán tương đối phức tạp, khối lượng tính toán
nhiều và mất nhiều thời gian, đặc biệt khi doanh nghiệp sử dụng nhiều vật tư
trong sản xuất.
24
Doanh thu bán hàng BQ một ngày kỳ
kế hoạch
Tổng doanh thu kỳ kế hoạch
360
Kỳ thu tiền trung bình =
Nợ phải thu kỳ báo cáo
Doanh thu bình quân 1 ngày trong kỳ
Kỳ trả tiền trung bình
Các khoản phải trả
Tiền mua chịu bình quân 1 ngày
Vốn Nợ phải thu KH
Kỳ thu tiền trung
bình
Doanh thu bán hàng bình
quân một ngày kỳ kế hoạch
=
- Phương pháp gián tiếp
Dựa vào số vốn lưu động bình quân kỳ báo cáo, nhiệm vụ sản xuất kinh
doanh kỳ kế hoạch và tốc độ luân chuyển vốn lưu động năm kế hoạch để xác
định nhu cầu vốn lưu động của doanh nghiệp năm kế hoạch.
Công thức:
Nhu cầu
VLĐ
năm
=
Số dư
bình quân
VLD năm
x
Tổng mức luân chuyển VLĐ
năm kế hoach
Tổng mức luân chuyển VLĐ
năm báo cáo
Trong đó: t% = x 100%
K
kh
; K
bc
: kỳ luân chuyển VLĐ năm kế hoạch và năm báo cáo.
Ưu điểm: Việc xác định nhu cầu vốn lưu động theo phương pháp này
tương đối đơn giản, giúp doanh nghiệp có thể ước tính nhanh chóng nhu cầu
vốn lưu động.
Nhược điểm: Độ chính xác của kết quả còn hạn chế.
b. Quản trị vốn tồn kho dự trữ
Tồn kho dự trữ là những tài sản mà doanh nghiệp dự trữ để đưa vào sản
xuất hoặc bán ra sau này.
Quy mô vốn tồn kho dự trữ chịu ảnh hưởng trực tiếp bởi mức tồn kho
dự trữ của doanh nghiệp. Tuy nhiên, từng loại tồn kho dự trữ lại có các nhân
tố ảnh hưởng khác nhau. Đối với tồn kho dự trữ nguyên vật liệu thường chịu
ảnh hưởng bởi yếu tố quy mô sản xuất, khả năng sẵn sàng cung ứng vật tư của
thị trường, giá cả vật tư hàng hóa, khoảng cách vận chuyển từ nơi cung ứng
25

Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×