Tải bản đầy đủ

Chính sách lãi suất và tác động của chính sách lãi suất đến nền kinh tế thị trường giai đoạn từ năm 2000 đến nay tại Việt Nam

MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU
........03
CHƯƠNG I. NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ LÃI SUẤT VÀ CHÍNH
SÁCH LÃI SUẤT
........04
........
I. KHÁI NIỆM LÃI SUẤT
........04
........
1. Khái niệm
........04
2. Đặc điểm
........04
II. CÁC LOẠI HÌNH LÃI SUẤT VÀ CHÍNH SÁCH LÃI SUẤT
........05
1. Các loại hình lãi suất
05
2. Các loại chính sách lãi suất
05
III. CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI LÃI SUẤT

06
1. Mức lạm phát kỳ vọng
........06
2. Đầu tư
........07
3. Thuế thu nhập
........07
1
4. Ngân sách của chính phủ
........07
5. Các yếu tố khác của đời sống xã hội
........08
IV. VAI TRÒ CỦA LÃI SUẤT ĐỐI VỚI NÊN KINH TẾ
........08
1 Vai trò Vĩ mô
........08
2 Vai trò Vi mô
........10
CHƯƠNG II. SỰ ẢNH HƯỞNG CỦA CHÍNH SÁCH LÃI SUẤT TỚI
NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG VIỆT NAM
........11
1. Thực trạng chính sách lãi suất và diễn biến lãi suất tại Việt Nam thời kỳ từ
năm 2000 đến nay
........11
2. Sự ảnh hưởng của chính sách lãi suất tới nền kinh tế thị trường Việt Nam
giai đoạn từ năm 2000 đến nay
........14
3. Dự báo ảnh hưởng và thay đổi của chính sách lãi suất tới nền kinh tế thị
trường Việt Nam sau khi gia nhập WTO
........17
CHƯƠNG III. GIẢI PHÁP ĐỂ HOÀN THIỆN CHÍNH SÁCH LÃI
SUẤT TRONG THỜI GIAN TỚI
........18
I. GIẢI PHÁP ĐIỀU HÀNH VÀ KIỂM SOÁT LÃI SUẤT THỊ
TRƯỜNG TIỀN TỆ
18
1. Hoàn thiện cơ chế tự do hoá lãi suất bằng VNĐ
........19
2
2. Nâng cao hiệu quả của các công cụ lãi suất


........20
II. GIẢI PHÁP TẠO ĐIỀU KIỆN VÀ CƠ SỞ CHO VIỆC THỰC HIỆN
CHÍNH SÁCH VÀ CƠ CHẾ ĐIỀU HÀNH LÃI SUẤT
22
III. KINH NGHIỆM THỰC TIỄN CỦA MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ
GIỚI VÀ BÀI HỌC RÚT RA ĐỐI VỚI VIỆT NAM
22
1. Từ thất bại của Hàn Quốc từ năm 1988
23
2. Bài học đối với Việt Nam
........24
KẾT LUẬN
........25
LỜI MỞ ĐẦU
3
Lãi suất là một yếu tố rất nhạy cảm đối với nền kinh tế của các nước. Ở Việt
Nam Ngân hàng Nhà nước đã rất linh hoạt trong việc sử dụng công cụ lãi suất
nhắm tác động tích cực đến nền kinh tế trong quá trình chuyển đổi. Sau những thất
bại kinh tế giai đoạn từ năm 1998 đến trước năm 2004, việc hạ lãi suất để kích
thích đầu tư cũng hầu như không có hiệu quả. Cho đến năm 2004, sau những nỗ lực
vực dậy nền kinh tế Việt Nam đã bắt đầu có những bước phục hồi tạo cơ sở cho
việc tiếp tục phát triển, đổi mới hệ thống tài chính, cải cách chính sách lãi suất.
Hiện nay, chúng ta đã nhận thức rõ tầm quan trpjng của công cụ lãi suất trong
nền kinh tế, tác động và ảnh hưởng của nó đến sự phát triển kinh tế trong bối cảnh
đất nước đang tham gia ngày càng xâu rộng hơn và liên kết khu vực và hội nhập
quốc tế. Với đề tài “Chính sách lãi suất và tác động của chính sách lãi suất đến
nền kinh tế thị trường giai đoạn từ năm 2000 đến nay tại Việt Nam” nhằm
nghiên cứu sâu hơn về lãi suất và chiều hướng diễn biến của nó. Những thực trạng
và tác động của nó đến nền kinh tế, để từ đó cố gắng đưa ra những giải pháp và
những bài học kinh nghiệm cho Việt Nam trong công cuộc phát triển hệ thống tài
chính nói chung và cải cách chính sách lãi suất nói riêng.
Nội dung đề tài gồm ba phần:
Chương I: Những vấn đề cơ bản về lãi suất và chính sách lãi suất.
Chương II: Sự ảnh hưởng của chính sách lãi suất đến nền kinh tế thị trường tại
Việt Nam giai đoạn từ năm 2000 đến nay.
Chương III: Giải pháp để hoàn thiện chính sách lãi suất trong thời gian sắp tới.
Đề tài cố gắng phác thảo một cách chung nhất về những gì liên quan đến lãi suất
và những vấn đề cần thiết đặt ra trong hoàn thiện chính sách lãi suất tại Việt Nam.
Em rất mong có được ý kiến của các thầy, cô giáo để đề tài được hoàn thiện hơn.
Em xin chân thành cám ơn!
CHÍNH SÁCH LÃI SUẤT VÀ TÁC ĐỘNG CỦA CHÍNH SÁCH LÃI
SUẤT ĐẾN NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG
GIAI ĐOẠN TỪ NĂM 2000 ĐẾN NAY TẠI VIỆT NAM
4
CHƯƠNG I.
NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ LÃI SUẤT
VÀ CHÍNH SÁCH LÃI SUẤT
I. KHÁI NIỆM VÀ ĐẶC ĐIỂM CỦA LÃI SUẤT
1. Khái niệm:
Lãi suất bắt đầu suất hiện từ khi quan hệ mua bán, trao đổi hàng hoá bắt đầu
hình thành. Lãi suất là một trong những biến số được theo dõi một cách chặt chẽ
nhất trong nền kinh tế. Diễn biến của nó được đưa tin hầu như hàng ngày trên báo
chí, vì trực tiếp ảnh hướng đến đới sống hàng ngày của mỗi người chúng ta. Lãi
suất (hay lãi suất tín dụng) là một công cụ kinh tế cực kỳ quan trọng và nhạy cảm
đối với mọi nền kinh tế, nó đóng vai trò quan trọng đặc biệt khi nền kinh tế ngày
càng phát triển, đó là vai trò ổn định và góp phần hoàn thiện chính sách tiền tệ tạo
ra sự kích thích cần thiết để phát triển nền kinh tế mỗi quốc gia và toàn thế giới.
Đã có rất nhiều quan điểm khác nhau khi đưa ra khái niệm về lãi suất. Lãi suất
được hiểu theo một nghĩa chung nhất là giá cả của tín dụng – giá cả của quan hệ
vay mượn hoặc cho thuê những dịch vụ về vốn dưới hình thức tiền tệ hoặc các dạng
thức tài sản khác nhau. Khi đến hạn, người đi vay sẽ phải trả cho người cho vay
một khản tiền dôi ra ngoài số tiền vốn gọi là tiền lãi. Tỷ lệ phần trăm của số tiền lãi
trên số tiền vốn gọi là lãi suất. Theo Sammuelson: “Lãi suất là giá của người đi
vay phải trả cho người cho vay để sử dụng một khoản tiền trong một khoản thời
gian xác định”.
2. Đặc điểm:
Tính cạnh tranh: Lãi suất huy động vốn hình thành trên cơ sở cạnh tranh giữa
các Ngân hàng thương mại(NHTM), Tổ chức tín dụng(TCTD)… Tính cạnh tranh
của lãi suất càng được thể hiện rõ khi hệ thống các tổ chức tham gia và cung cấp tín
dụng ngày càng nhiều. Mức lãi suất phải hấp dẫn thì mới thu hút được khách hàng
tham gia. Do vậy, mỗi NHTM, TCTD muốn phát triển được hệ thống của mình đều
phải đưa ra được một mức lãi suất có khả năng cạnh tranh đối với các NHTM,
TCTD khác nhằm lôi kéo khách hàng về phía mình.
Tính linh hoạt: Lãi suất tín dụng hình thành một cách linh hoạt, nhạy bén, thích
ứng với mọi hoàn cảnh, đối tượng. Sự thay đổi thường xuyên của chính sách tín
dụng phù hợp với sự biến đổi của cung, cầu về vốn vay, tỷ lệ lạm phát, thu chi
5
Ngân sách Nhà nước, yếu tố tâm lý của người đi vay và người cho vay trên thị
trường tài chính.
II. CÁC LOẠI HÌNH LÃI SUẤT VÀ CHÍNH SÁCH LÃI SUẤT
1. Các loại hình lãi suất:
Lãi suất có thể có nhiều cách phân chia khác nhau như phân loại theo nội tệ và
ngoại tệ, phân theo nghiệp vụ kinh doanh của các TCTD, phân loại theo thời gian
hay phân loại theo nội dung kinh tế...Ở đây, ta chia lãi suất trên thị trường theo các
nhân tố tác động thành 2 nhóm:
Lãi suất thị trường tự do, thay đổi do ảnh hưởng của quan hệ cung - cầu
trên thị trường: Bao gồm lãi suất các loại tín phiếu kho bạc, tiền gửi, chứng chỉ
tiển gửi (L/C), lãi suất trên thị trường liên Ngân hàng, lãi suất của các khoản tín
dụng ngắn hạn của các NHTM cho các doanh nghiệp vay, là mức lãi suất cao nhất
trên thị trường tiền tệ, lãi suất của các NHTM lớn áp dụng cho các doanh nghiệp có
uy tín là mức lãi suất thấp nhất trên thị trường này và thường gọi là lãi suất cho vay
cơ bản(Prime Rate Bank Loans).
Lãi suất do Ngân hàng Nhà nước công bố: Được xác định dựa trên quan hệ
cung cầu vốn trên thị trường tiền tệ do Ngân hàng Nhà nước xác định tuỳ thuộc vào
mục tiêu chính sách tiền tệ, chính sách kinh tế vĩ mô… Bao gồm: lãi suất chiết
khấu, lãi suất tái cấp vốn, lãi suất cho vay qua đêm, lãi suất định hướng trên thị
trường liên Ngân hàng, lãi suất nghiệp vụ thị trường mở…
2. Các loại chính sách lãi suất:
Chính sách lãi suất trần: Chính sách lãi suất trần là chính sách chỉ ấn định lãi
suất cho vay tối đa. Chính sách này khuyến khích việc huy động vốn và tăng khả
năng kiểm soát của chính phủ. Chính phủ đưa ra một mức lãi suất nhất định và áp
đặt chung cho toàn bộ hệ thống Ngân hàng và cho toàn bộ nền kinh tế.
Chính sách lãi suất cố định: Lãi suất cố định là lãi suất mà Ngân hàng Nhà
nước khống chế NHTM cả về lãi suất huy động và lãi suất cho vay. Theo chính
sách này thì sẽ không có sự cạnh tranh về lãi suất trên thị trường tài chính tín dụng
và do đó không thúc đẩy sự phát triển kinh tế.
Chính sách lãi suất tự do: Chính sách tự do hóa lãi suất là chính sách mà chính
phủ sẽ can thiệp khi mức lãi suất vượt quá mức lãi suất chung.Lãi suất tăng giảm
hoàn toàn do những biến đổi trong cung và cầu về vốn vay trên thị trường.Tuy
nhiên, nó chỉ thực hiện được trong môi trường cạnh tranh hoàn hảo. Như Việt Nam
thì hiện tại chúng ta đang sử dụng chính sách lãi suất thoả thuận.
6
Các TCTD được sử dụng cơ chế lãi suất thoả thuận trong hoạt động thương mại,
thay thế cơ chế điều hành lãi suất cơ bản bằng VNĐ. Về dài hạn thì việc xoá bỏ
“trần” lãi suất cho vay khiến các TCTD có thể mở rộng phương thức huy động vốn,
cho vay và huy động với mức lãi suất phù hợp với cung cầu trên thị trường tín
dụng. Điều này đặc biệt có lợi đối với các tổ chức kinh tế và người sản xuất ở khu
vực nông thôn, nhất là trong bối cảnh tăng trưởng tín dụng đang nhanh hơn nhiều
so với tăng trưởng huy động vốn. Theo như NHNN, cơ chế lãi suất này sẽ tạo ra
điều kiện thuận lợi cho công cuộc cải cách hệ thống Ngân hàng theo định hướng thị
trường. Theo đó sẽ xoá bỏ những “dị biệt” trong hệ thống Ngân hàng Việt Nam để
dần tiến tới hội nhập thị trường tín dụng Quốc tế.
Chính sách lãi suất ưu đãi: Chính sách lãi suất ưu đãi là chính sách dành cho
một số đối tượng đặc biệt như người nghèo, gia đình chính sách...với lãi suất thấp.
Việc thực hiện chính sách này làm người đi vay không hoặc ít chú ý đến hiệu quả
dẫn đến việc dùng vốn đổ vào những dự án không mấy hiệu quả.Điều đó không
giúp tăng trưởng vốn và phần lớn chính sách này lấy từ Ngân sách nhà nước.Các
đối tượng được vay vốn với lãi suất ưu đãi thường là những hộ nghèo,các khu vực
ở vùng sâu vùng xa, hải đảo, miền núi... Việc vay vốn với lãi suất ưu đãi tuy tạo
điều kiện cho người vay, nhưng lại hạn chế phát triển thị trường vốn vay.
III. CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI LÃI SUẤT
Trong các nền kinh tế thị trường, nhà nhà nước chỉ đóng vai trò là người điều
tiết vĩ mô, thị trường tài chính và các tổ chức tài chính trung gian. Các nước có nền
kinh tế thị trường chủ yếu theo đuổi chính sách tự do hoá tài chính, do vậy cơ chế
hình thành lãi suất chủ yếu dựa trên cơ chế thị trường. Đó là sự thay đổi về cung-
cầu của vốn vay ảnh hưởng tới sự hình thành và biến đổi lãi suất trên thị trường.
Cung về vốn vay bắt nguồn từ những người có thu nhập dôi ra mà họ muốn tiết
kiệm và cho vay kiếm lời, qua đó cho thấy rằng tiết kiệm là nguồn cung về vốn
vay. Còn cầu về vốn vay bắt nguồn từ các hộ gia đình và các doanh nghiệp muốn
vay tiền để đầu tư, mua nhà đất hay xây dựng nhà máy...Như vậy, đầu tư là nguồn
gốc làm phát sinh nhu cầu về vốn vay.
Trên thị trường có rất nhiều tác nhân ảnh hưởng đến sự thay đổi về cung và cầu
vốn vay, dưới dây ta chỉ phân tích những tác nhân có ảnh hưởng quan trọng đến
đường cung và đường cầu về vốn vay, qua đó tác động đến lãi suất.
1. Mức lạm phát kỳ vọng
Khi mức lạm phát được dự đoán sẽ tăng lên trong một thời kỳ nào đó, lãi suất sẽ
có xu hướng tăng.
7
Ta thấy rằng : Lãi suất danh nghĩa = Lãi suất thực tế + Tỷ lệ lạm phát
Do đó, để duy trì lãi suất thực tế không giảm, khi tỷ lệ lạm phát tăng thì lãi suất
danh nghĩa cũng phải tăng lên tương ứng.
Bên cạnh đó, khi lạm phát tăng, công chúng sẽ chuyển phần tiết kiệm của mình
sang dự trữ hàng hóa hoặc các dạnh thức tài sản phi tài chính khác như vàng, ngoại
tệ mạnh hơn là cho vay. Điều đó làm giảm cung về vốn vay, qua đó làm dịch
chuyển đường cung sang trái và làm lãi suất tăng lên.
Ngược lại, ta thấy rằng, nếu lạm phát dự tính có xu hướng giảm thì sẽ làm cho
lãi suất giảm xuống.
2. Đầu tư
Đầu tư là nhân tố tác động trực tiếp đến lượng cầu về vốn vay. Khi Nhà nước có
các chính sách khuyến khích về đầu tư, ví dụ như nhà nước giảm thuế lợi tức công
ty, nó có khuyến khích doanh nghiệp vay tiền và đầu tư nhiều hơn vào tư bản mới.
Qua đó làm thay đổi đầu tư tại mọi mức lãi suất và làm thay đổi đến cầu về vốn
vay. Nhu cầu vay vốn tăng lên, đường cầu về vốn vay dịch chuyển sang bên phải
và làm cho lãi suất tăng lên. Ngược lại, các chính sách của chính phủ làm kìm hãm
đầu tư sẽ là nhân tố làm giảm lãi suất.
3. Thuế thu nhập
Thuế thu nhập luôn tác động đến lãi suất giống như khi thuế tác động đến giá cả
hàng hóa. Thông thường người ta quan tâm nhiều đến lợi nhuận sau thuế hơn là thu
nhập danh nghĩa. Nên khi thuế thu nhập tăng lên, nó làm giảm đi một phần thu
nhập của những cá nhân và tổ chức cung cấp dịch vụ tín dụng hay những người
tham gia chứng khoán. Nghĩa là khi thuế thu nhập tăng, phần tiết kiệm của các cá
nhân và tổ chức sẽ giảm đi, do đó lượng tiền cho vay trên thị trường sẽ giảm đi.
Qua đó làm giảm cung về vốn vay, đường cung vốn vay dịch chuyển sang trái, lãi
suất tăng lên. Ngược lại, khi thuế thu nhập giảm đi sẽ là nhân tố làm giảm lãi suất.
4. Ngân sách của chính phủ
Ta biết rằng :
Tiết kiệm quốc dân = Tiết kiệm tư nhân + Tiết kiệm Chính phủ.
Khi Chính phủ chi tiêu nhiều hơn thu nhập từ thuế, tình trạng thâm hụt ngân
sách làm giảm tiết kiệm quốc dân, cung về vốn vay giảm, đường cung vốn vay dịch
chuyển sang trái và làm tăng lãi suất cân bằng. Bên cạnh đó, Chính phủ bội chi
8
ngân sách như vậy sẽ tác động đến tâm lý dân chúng về sự gia tăng của lạm phát và
nó sẽ gây sức ép làm tăng lãi suất.
5. Các yếu tó khác của đời sống xã hội
Ngoài những yếu tố trên, sự thay đổi của lãi suất trên thị trường còn chịu ảnh
hưởng của nhiều yếu tố về đời sống xã hội khác như: sự đa dạng của các công cụ
tài chính, sự thay đổi trong cơ cấu chứng khoán, sự phát triển của các thể chế tài
chính trung gian, hiệu suất sử dụng vốn trong các thời kỳ khác nhau do những thay
đổi trong công nghệ và sự phát triển mang tính chu kỳ của nền kinh tế, và cả các
biến động về kinh tế, chính trị,... cũng ít nhiều ảnh hưởng đến lãi suất.
IV. VAI TRÒ CỦA LÃI SUẤT ĐỐI VỚI NÊN KINH TẾ
Lãi suất là một trong những biến số được quan tâm chặt chẽ nhất trong nền kinh
tế,bởi lãi suất không chỉ ảnh hưởng trực tiếp tới đời sống của mỗi chúng ta mà còn
là một chỉ số đo lường sức khỏe của nền kinh tế. Có thể khái quát vai trò của lãi
suất qua 2 nội dung là vai trò vĩ mô và vai trò vi mô:
1. Vai trò Vĩ mô:
Đối với Ngân hàng Nhà nước thì lãi suất là công cụ điều tiết kinh tế vĩ mô. Sự
biến động của lãi suất trong quá trình điều chỉnh của Ngân hàng Nhà nước tác động
đến nhiều mặt của nền kinh tế như đầu tư,tiêu dùng ,tiết kiệm,tỷ giá…qua đó ảnh
hưởng trực tiếp đến các mục tiêu kinh tế vĩ mô của đất nước.
Trong nền kinh tế thị trường, người tiêu dùng và các doanh nghiệp có thể tiến
hành bất cứ việc gì nếu họ muốn trong khuôn khổ pháp luật,miễn là họ có phương
tiện thanh toán.Vì vậy bằng cách kiểm soát giá bán và mua quyền sử dụng tiền tức
lãi suất, Ngân hàng Nhà nước ở bất kì quốc gia nào cũng có thể chi phối dược sự
tăng trưởng nền kinh tế. Bằng cách tăng lãi suất, Ngân hàng Nhà nước có thể làm
yếu đi khả năng cho vay của các Ngân hàng thương mại và do đó thực hiện chính
sách tiền tệ, giảm bớt khối lượng tiền cần thiết cho việc mở rộng sản xuất kinh
doanh và chi tiêu của người tiêu dùng. Cũng như vậy, bằng cách sử dụng lãi suất,
Ngân hàng Nhà nước có thể tạo điều kiện cho nền kinh tế phát triển. Hoặc muốn
kìm hãm tốc độ phát triển hay đẩy mạnh phát triển một ngành nào đó,Ngân hàng
Nhà nước có thể tăng hoặc giảm lãi suất cho vay để thu hẹp hay mở rộng đầu tư ở
ngành này.
Bên cạnh vai trò hướng dẫn điều hành nền kinh tế, lãi suất tín dụng còn đóng vai
trò tích cực trong kìm chế lạm phát. Tháng 3 năm 1989, Việt Nam chủ trương áp
9
dụng chế độ siêu lãi suất tiền gửi đã nhanh chóng đem lại kết quả là chặn đứng lạm
phát: từ 7% trong tháng 1; 9,2% trong tháng 2 đã giảm xuống 4,5% trong tháng 3;
3,5% trong tháng 4 và tiếp tục giảm trong những tháng sau. Điều này khẳng định
sức mạnh của công cụ lãi suất trong điều tiết nền kinh tế ở tầm vĩ mô dù có gây nên
hiệu ứng tiêu cực đến hoạt động kinh tế. Từ năm 1989 đến nay, chính sách lãi suất
luôn được sử dụng để điều chỉnh nền kinh tế ở Việt Nam. Sau khi đã kiềm chế và
giữ được lạm phát ở mức độ ổn định, Ngân hàng Nhà nước đang thực hiện hạ thấp
dần khung lãi suất để khuyến khích hoạt động đầu tư mở rộng sản xuất kinh
doanh,khôi phục kinh tế.
Có thể nói chính sách lãi suất là một bộ phận của chính sách tiền tệ của nhà
nước nhằm điều hòa lưu thông tiền tệ, kích thích, điều tiết và hướng dẫn sản suất
kinh doanh của các đơn vị kinh tế. Lãi suất cho vay được sử dụng để mở rộng cung
ứng tiền tệ, thu hẹp đầu tư và kiềm chế lạm phát.
Thực hiện vai trò đòn bẩy kinh tế, lãi suất sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với
mục tiêu kinh tế ở những giai đoạn khác nhau. Những ưu đãi về lãi suất, về điều
kiện cung ứng tín dụng và thanh toán là công cụ của nhà nước nhằm khuyến khích
các doanh nghiệp vào các loại sản phẩm cần ưu tiên trong chiến lược phát triển
kinh tế. Điều này có ý nghĩa quan trọng đối với các nước chậm phát triển muốn có
những bước nhảy vọt để đi ngay vào công nghệ hiện đại trong thời đại hiện nay.
Như vậy, có thể coi lãi suất là công cụ trực tiếp của chính sác tiền tệ. Nó ảnh hưởng
trực tiếp hoặc gián tiếp đến khối lượng tiền cung ứng trong lưu thông, từ đó đạt
được các mục tiêu của chính sách tiền tệ. Một sự điều chỉnh trong cơ chế điều hành
lãi suất sẽ tác động đến lượng tiền trong lưu thông, đặc biệt là lượng tiền cung ứng
của các ngân hàng vào lưu thông vì lãi suất ảnh hưởng trực tiếp đến lợi nhuận kinh
doanh của các ngân hàng.Việc mở rộng khung lãi suất, hoặc tăng trần lãi suất đối
với cơ chế điều hành lãi suất cũ hoặc tăng lãi suất cơ bản trong cơ chế điều hành lãi
suất mới đều có tác dụng làm tăng lượng tiền trong lưu thông và ngược lại.
Một tác động khác của lãi suất đó là ảnh hưởng của nó tới đầu tư,tiết kiệm. Có
nhiều ý kiến khác nhau về tác động của lãi suất đến sự hình thành tiết kiệm, nhưng
hầu hết các nhà kinh tế đều cho rằng mức lãi suất có tác động đến quy mô tiết kiệm
của nhân dân. Nếu lãi suất thực tế càng cao thì số tiền gửi vào ngân hàng càng
lớn.Việc này sẽ tác động đến quy mô mua sắm tài sản của nhân dân. Khi lãi suất
dương,nó sẽ kích thích người dân gửi tiết kiệm tại ngân hàng vì nó có khả năng
sinh lời cao và an toàn hơn việc tích trữ tài sản, nhờ đó nguồn vốn nói chung của
ngân hàng tăng lên và khối lượng tiền tệ phục vụ cho nền kinh tế quốc dân cũng
tăng lên, ảnh hưởng của lãi suất thực tế dương đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc
tiết kiệm tài chính.
Tóm lại, lãi suất tác có tác động đến nhiều mặt đến nền kinh tế, đến sự phát triển
và tăng trưởng kinh tế. Một chính sách lãi suất hợp lý sẽ vừa là điều kiện thu hút
10

Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×