Tải bản đầy đủ

Thực trạng lập kế hoạch sản xuất kinh doanh tại Công ty cổ phần may Thăng Long

Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
LỜI MỞ ĐẦU
Lộ trình gia nhập WTO của Việt Nam không còn xa , điều này đặt cho
nền kinh tế Việt Nam trước những thời cơ , vận hội và thách thức mới.
Với vai trò là con chim đâù đàn của ngành dệt may Việt Nam .Công ty
cổ phần may Thăng Long đã và đang thực hiện nhiều chương trình , kế hoạch
và chiến lược mới để bắt nhịp với xu thế hội nhập kinh tế quốc tế của nước
nhà .Một trong những công tác quan trọng phải kể đến là nâng cao chất lượng
của công tác lập kế hoạch sản xuất kinh doanh của công ty .
Đối với một doanh nghiệp bất kỳ thì hoạt động lập kế hoạch là chức năng
đầu tiên của quá trình quản lý , có vai trò rất quan trọng . Lập kế hoạch gắn
liền với việc lựa chọn mục tiêu và chương trình hành động trong tương lai , là
cơ sở để xác định và triển khai các chức năng còn lại là tổ chức , lãnh đạo ,
kiểm tra .Bởi vậy chất lượng của công tác lập kế hoạch sản xuất kinh doang
được nâng cao sẽ là điều kiện cần thiết để đảm bảo quá trinh kinh doanh của
doanh nghiệp đạt hiệu quả cao.
Xuất phát từ vai trò quan trọng của việc lập kế hoạch và trên cơ sở
nghiên cứu thực trạng hoạt động lập kế hoạch tại Công ty cổ phần may Thăng
Long nên em đã chọn đề tài : “Thực trạng lập kế hoạch sản xuất kinh
doanh tại Công ty cổ phần may Thăng Long “ làm chuyên đề tốt nghiệp
của mình .

Ngoài phần mở đầu , kết luận và danh mục tài liệu tham khảo , nội dung
của chuyên đề gồm 3 phần sau :
Phần I : Lý luận chung về kế hoạch , lập kế hoạch trong quản lý.
Phần II : Thực trạng lập kế hoạch tại Công ty cổ phần may Thăng
long.
Phần III : Các giải pháp nhằm nâng cao khả năng lập kế hoạch tại
công ty .
Sinh viên: Trần Bình Minh Lớp : QLKT 44A
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Em xin chân thành cảm ơn Khoa khoa học quản lý – Trường Đại học
Kinh tế quốc dân , Phòng kế hoạch vật tư Công ty cổ phần may Thăng
Long và cô giáo hướng dẫn – Th.s Nguyễn Thị Lệ Thuý đã giúp đỡ ,
hướng dẫn và tạo điều kiện thuận lợi để em hoàn thành chuyên đề tốt nghiệp
này .
Sinh Viên : Trần Bình Minh
Lớp : Quản lý kinh tế 44A
Sinh viên: Trần Bình Minh Lớp : QLKT 44A
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
CHƯƠNG I
LÝ LUẬN CHUNG VỀ KẾ HOẠCH
LẬP KẾ HOẠCH TRONG QUẢN LÝ
I. KHÁI NIỆM VÀ VAI TRÒ CỦA LẬP KẾ HOẠCH
1. Khái niệm
Lập kế hoạch là chức năng đầu tiên trong bốn chức năng của quản lý là
lập kế hoạch , tổ chức , lãnh đạo và kiểm tra. Lập kế hoạch là chức năng rất
quan trọng đối với mỗi nhà quản lý bởi vì nó gắn liền với việc lựa chọn mục
tiêu và chương trình hành động trong tương lai, giúp nhà quản lý xác định
được các chức năng khác còn lại nhằm đảm bảo đạt được các mục tiêu đề ra.
Cho đến nay thì có rất nhiều khái niệm về chức năng lập kế hoạch. Với
mỗi quan điểm , mỗi cách tiếp cận khác nhau đều có khái niệm riêng nhưng
tất cả đều cố gắng biểu hiện đúng bản chất của phạm trù quản lý này.
Nếu đứng trên góc độ ra quyết định thì : “ Lập kế hoạch là một loại ra
quyết định đặc thù để xác định một tương lai cụ thể mà các nhà quản lý mong
muốn cho tổ chức của họ “. Quản lý có bốn chức năng cơ bản là lập kế hoạch,
tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra . Lập kế hoạch có thể ví như là bắt đầu từ rễ cái
của một cây sồi lớn , rồi từ đó mọc lên các “ nhánh” tổ chức , lãnh đạo và
kiểm tra. Xét theo quan điểm này thì lập kế hoạch là chức năng khởi đầu và
trọng yêú đối với mỗi nhà quản lý.
(1)
Với cách tiếp cận theo quá trình :


(2)

Kế hoạch sản xuất kinh doanh có thể coi là quá trình liên tục xoáy trôn
ốc với chất lượng ngày càng tăng lên kể từ khi chuẩn bị xây dựng kế hoạch
cho tới lúc chuẩn bị tổ chức thực hiện kế hoạch nhằm đưa hoạt động của
doanh nghiệp theo đúng mục tiêu đã đề ra .
(1)
Khoa học quản lý tập II –Khoa khoa học quản lý –NXB khoa học và kỹ thuật 2004 –Trang 333
(2,3)
Những vấn đề cốt yếu của quản lý – Harold koontz , cyril odonnell , Heinz weihrich – NXB khoa học và
kỹ thuật - 1992
Sinh viên: Trần Bình Minh Lớp : QLKT 44A
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Theo STEYNER thì :”Lập kế hoạch là một quá trình bắt đầu từ việc
thiết lập các mục tiêu , quyết định các chiến lược , các chính sách , kế hoạch
chi tiết để đạt được mục tiêu đã định .Lập kế hoạch cho phép thiết lập các
quyết định khả thi và bao gồm cả chu kỳ mới của việc thiết lập mục tiêu và
quyết định chiến lược nhằm hoàn thiện hơn nữa.”
2
Theo cách tiếp cận này thì lập kế hoạch được xem là một quá trình tiếp
diễn phản ánh và thích ứng được với những biến động diễn ra trong môi
trường của mỗi tổ chức, đó là quá trình thích ứng với sự không chắc chắn của
môi trường bằng việc xác định trước các phương án hành động để đạt được
mục tiêu cụ thể của tổ chức.
Với cách tiếp cận theo nội dung và vai trò
(3)
:
Theo RONNER :”Hoạt động của công tác lập kế hoạch là một trong
những hoạt động nhằm tìm ra con đường để huy động và sử dụng các nguồn
lực của doanh nghiệp một cách có hiệu quả nhất để phục vụ cho các mục tiêu
kinh doanh .”
Theo HENRYPAYH : “Lập kế hoạch là một trong những hoạt
động cơ bản của quá trình quản lý cấp công ty , xét về mặt bản chất thì hoạt
động này nhằm mục đích xem xét các mục tiêu , các phương án kinh doanh ,
bước đi trình tự và cách tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh.”
Như vậy , Lập kế hoạch là quá trình xác định các mục tiêu và lựa chọn
các phương thức để đạt được các mục tiêu đó . Lập kế hoạch nhằm mục đích
xác định mục tiêu cần phải đạt được là cái gì ?và phương tiện để đạt được các
mục tiêu đó như thế nào ? Tức là , lập kế hoạch bao gồm việc xác định rõ các
mục tiêu cần đạt được , xây dựng một chiến lược tổng thể để đạt được các
mục tiêu đã đặt ra , và việc triển khai một hệ thống các kế hoạch để thống
nhất và phối hợp các hoạt động.
2
Lý thuyết quản trị kinh doanh – TS Nguyễn Thị Hồng Thuỷ -Nguyễn Thị Ngọc Huyền – NXB KHKT -
1997
Sinh viên: Trần Bình Minh Lớp : QLKT 44A
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
2. Vai trò của lập kế hoạch
3
Xét trong phạm vi toàn bộ nền kinh tế quốc dân thì kế hoạch là một
trong những công cụ điều tiết chủ yếu của Nhà nước.Còn trong phạm vi một
doanh nghiệp hay một tổ chức thì lập kế hoạch là khâu đầu tiên , là chức năng
quan trọng của quá trình quản lý và là cơ sở để thúc đẩy hoạt động sản xuất
kinh doanh có hiêụ quả cao , đạt được mục tiêu đề ra.
Các nhà quản lý cần phải lập kế hoạch bởi vì lập kế hoạch cho biết
phương hướng hoạt động trong tương lai , làm giảm sự tác động của những
thay đổi từ môi trường , tránh được sự lãng phí và dư thừa nguồn lực , và thiết
lập nên những tiêu chuẩn thuận tiện cho công tác kiểm tra . Hiện nay , trong
cơ chế thị trường có thể thấy lập kế hoạch có các vai trò to lớn đối với các
doanh nghiệp. Bao gồm :
-Kế hoạch là một trong những công cụ có vai trò quan trọng trong
việc phối hợp nỗ lực của các thành viên trong một doanh nghiệp . Lập kế
hoạch cho biết mục tiêu , và cách thức đạt được mục tiêu của doanh nghiệp .
Khi tất cả nhân viên trong cùng một doanh nghiệp biết được doanh nghiệp
mình sẽ đi đâu và họ sẽ cần phải đóng góp gì để đạt được mục tiêu đó , thì
chắc chắn họ sẽ cùng nhau phối hợp , hợp tác và làm việc một cách có tổ
chức. Nếu thiếu kế hoạch thì quĩ đạo đi tới mục tiêu của doanh nghiệp sẽ là
đường ziczăc phi hiệu quả .
-Lập kế hoạch có tác dụng làm giảm tính bất ổn định của doanh
nghiệp, hay tổ chức . Sự bất ổn định và thay đổi của môi trường làm cho công
tác lập kế hoạch trở thành tất yếu và rất cần thiết đối với mỗi doanh nghiệp ,
mỗi nhà quản lý .Lập kế hoạch buộc những nhà quản lý phải nhìn về phía
trước , dự đoán được những thay đổi trong nội bộ doanh nghiệp cũng như môi
trường bên ngoài và cân nhắc các ảnh hưởng của chúng để đưa ra những giải
pháp ứng phó thích hợp.
3
Lý thuyết quản trị kinh doanh - TS. Nguyễn Thị Hồng Thuỷ- Nguyễn Thị Ngọc Huyền - NXB KHKT -
1997
Sinh viên: Trần Bình Minh Lớp : QLKT 44A
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
-Lập kế hoạch làm giảm được sự chồng chéo và những hoạt động
làm lãng phí nguồn lực của doanh nghiệp . Khi lập kế hoạch thì những mục
tiêu đã được xác định , những phương thức tốt nhất để đạt mục tiêu đã được
lựa chọn nên sẽ sử dụng nguồn lực một cách có hiệu quả , cực tiểu hoá chi phí
bởi vì nó chủ động vào các hoạt động hiệu quả và phù hợp.
-Lập kế hoạch sẽ thiết lập được những tiêu chuẩn tạo điều kiện cho
công tác kiểm tra đạt hiệu quả cao . Một doanh nghiệp hay tổ chức nếu không
có kế hoạch thì giống như là một khúc gỗ trôi nổi trên dòng sông thời gian.
Một khi doanh nghiệp không xác định được là mình phải đạt tới cái gì và đạt
tới bằng cách nào , thì đương nhiên sẽ không thể xác định đựợc liệu mình có
thực hiện được mục tiêu hay chưa , và cũng không thể có được những biện
pháp để điều chỉnh kịp thời khi có những lệch lạc xảy ra . Do vậy, có thể nói
nếu không có kế hoạch thì cũng không có cả kiểm tra .
Như vậy , lập kế hoạch quả thật là quan trọng đối với mỗi doanh
nghiệp , mỗi nhà quản lý . Nếu không có kế hoạch thì nhà quản lý có thể
không biết tổ chức , khai thác con người và các nguồn lực khác của doanh
nghiệp một cách có hiệu quả , thậm chí sẽ không có được một ý tưởng rõ ràng
về cái họ cần tổ chức và khai thác . Không có kế hoạch , nhà quản lý và các
nhân viên của họ sẽ rất khó đạt được mục tiêu của mình , họ không biết khi
nào và ở đâu cần phải làm gì .
Còn đối với mỗi cá nhân chúng ta cũng vậy , nếu chúng ta không biết
tự lập kế hoạch cho bản thân mình thì chúng ta không thể xác định được rõ
mục tiêu của chúng ta cần phải đạt tới là gì ? với năng lực của mình thì chúng
ta cần phải làm gì để đạt được mục tiêu đó ? Không có kế hoạch chúng ta sẽ
không có những thời gian biểu cho các hoạt động của mình, không có được sự
nỗ lực và cố gắng hết mình để đạt được mục tiêu . Vì thế mà chúng ta cứ để
thời gian trôi đi một cách vô ích và hành động một cách thụ động trước sự
thay đổi của môi trường xung quanh ta . Vì vậy mà việc đạt được mục tiêu
Sinh viên: Trần Bình Minh Lớp : QLKT 44A
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
của mỗi cá nhân ta sẽ là không cao , thậm chí còn không thể đạt được mục
tiêu mà mình mong muốn .
Tóm lại , chức năng lập kế hoạch là chức năng đầu tiên , là xuất phát
điểm của mọi quá trình quản lý . Bất kể là cấp quản lý cao hay thấp , việc lập
ra được những kế hoạch có hiệu quả sẽ là chiếc chìa khoá cho việc thực hiện
một cách hiệu quả những mục tiêu đã đề ra của doanh nghiệp.
3. Hệ thống kế hoạch của tổ chức
4
Hệ thống kế hoạch của một tổ chức là tổng hợp của nhiều loại kế hoạch
khác nhau nhưng có mối quan hệ chặt chẽ với nhau theo một định hướng nhất
định nhằm thực hiện mục tiêu tối cao của tổ chức.
Các kế hoạch của một tổ chức được phân loại theo nhiều tiêu thức khác
nhau. Theo mỗi tiêu thức phân loại thì lại có một hệ thống kế hoạch khác
nhau.
3.1 Theo mức độ tổng quát


4
Khoa học quản lý tập 1 -PGS.TS. Đoàn Thị Thu Hà - Nguyễn Thj Ngọc Huyền - NXB KH & KT 2004
Sinh viên: Trần Bình Minh Lớp : QLKT 44A
Kế hoạch xây dựng một lần, sử
dụng một lần:
Chương trình.
Dự án.
Ngân sách.
Kế hoạch xây dựng một lần sử
dụng nhiều lần:
Chính sách.
Quy tắc.
Thủ tục.
Kế hoạch chiến lược
Kế hoạch tác nghiệp
Đường lối – Sứ mệnh
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
3.1.1. Sứ mệnh
Sứ mệnh là một bức thông điệp thể hiện lý do tồn tại của tổ chức , sứ
mệnh sẽ trả lời cho câu hỏi : Tổ chức tồn tại vì mục đích nào? Một tổ chức
khi thành lập trước hết đều phải xác định được sứ mệnh của mình . Sứ mệnh
của một tổ chức được đặt ra trên cơ sở xác định những lĩnh vực hoạt động
của tổ chức đó , những giả định về mục đích , sự thành đạt và vị trí của tổ
chức trong môi trường hoạt động của nó .Sứ mệnh của tổ chức là bộ phận
tương đối ổn định , mang tính bản sắc của tổ chức và có vai trò thống nhất
cũng như khích lệ các thành viên của tổ chức trong việc thực hiện mục tiêu
chung . Sứ mệnh tổ chức bao gồm hai loại sau :
Sứ mệnh được công bố : là sứ mệnh thông báo được thông báo một
cách công khai cho mọi người , thông qua thị trường để doanh nghiệp đạt
đựơc mục tiêu , và nó đựơc thể hiện thông qua các khẩu hiệu , các triết lý kinh
doanh ngắn gọn của doanh nghiệp .
Sứ mệnh không được công bố: Là sứ mệnh thể hiện lợi ích tối cao
của doanh nghiệp.
Như vậy , có thể nói sứ mệnh là cơ sở đầu tiên để xác định mục tiêu
chiến lược của tổ chức, là phương hướng phấn đấu của tổ chức trong suốt thời
gian tồn tại của mình và nó là cơ sở để xác định phương thức hành động cơ
bản của tổ chức.
3.1.2. Kế hoạch chiến luợc
Kế hoạch chiến lược là những kế hoạch đưa ra những mục tiêu tổng
thể, dài hạn,và phương thức cơ bản để thực hiện nó trên cơ sở phân tích môi
trường và vị trí của tổ chức trong môi trường đó . Các kế hoạch chiến lược do
những nhà quản lý cấp cao của tổ chức thiết kế với mục đích là xác định
những mục tiêu tổng thể cho tổ chức. Các kế hoạch chiến lược liên quan đến
mối quan hệ giữa con người của tổ chức với các con người của những tổ chức
khác .
Sinh viên: Trần Bình Minh Lớp : QLKT 44A
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
3.1.3.Kế hoạch tác nghiệp
Kế hoạch tác nghiệp là các kế hoạch chi tiết cụ thể hoá cho các kế
hoạch chiến lược , nó trình bày rõ chi tiết tổ chức cần phải làm như thế nào để
đạt được những mục tiêu đã đặt ra trong kế hoạch chiến lược . Kế hoạch tác
nghiệp thể hiện chi tiết kế hoạch chiến lược thành những hoạt động hàng năm,
hàng quý , hàng tháng bao gồm các kế hoạch nguyên vật liệu , kế hoạch nhân
công , kế hoạch tiền lương , kế hoạch sản phẩm ….Kế hoạch tác nghiệp nhằm
mục đích bảo đảm cho mọi người trong tổ chức đều hiểu về các mục tiêu của
tổ chức và xác định rõ ràng trách nhiệm của họ trong việc thực hiện mục tiêu
chung đó và các hoạt động cần được tiến hành ra sao để đạt được những kết
quả dự định trước . Các kế hoạch tác nghiệp chỉ liên quan đến những người
trong cùng một tổ chức . Các kế hoạch tác nghiệp được chia thành hai nhóm
sau:
Các kế hoạch tác nghiệp xây dựng một lần sử dụng một lần: là những
kế hoạch cho những hoạt động không lặp lại.Bao gồm:
-Chương trình: Là một tổ hợp các chính sách , các thủ tục , các qui tắc
và các nguồn lực cần thiết có thể huy động nhằm thực hiện các mục tiêu nhất
định mang tính độc lập tương đối . Mục tiêu của chương trình là mục tiêu
quan trọng , ưu tiên nhưng lại mang tính độc lập tương đối vì thế trong quá
trình thực hiện nó đòi hỏi phải có sự phối hợp của các bộ phận khác . Chương
trình được hỗ trợ bởi những ngân quĩ cần thiết .Một chương trình tương đối
lớn , quan trọng thường bao gồm trong nó nhiều chương trình nhỏ phụ trợ . Ví
dụ chương trình xoá đói giảm nghèo của chính phủ bao gồm có các chương
trình phụ trợ như chương trình hỗ trợ phát triển kinh tế , chương trình cho vay
vốn , …
-Dự án : Thường có mục tiêu cụ thể , quan trọng , mang tính độc lập
tương đối . Nguồn lực để thực hiện mục tiêu của dự án phải rõ ràng bao gồm
cả hình thái nguồn lực theo thời gian và không gian.
Sinh viên: Trần Bình Minh Lớp : QLKT 44A
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
-Các ngân quĩ: Là kế hoạch tác nghiệp được thể hiện bằng số . Ngân
quĩ không chỉ đơn thuần là ngân quĩ bằng tiền mà còn có ngân quĩ phi tiền tệ
như ngân quĩ nhân công , ngân quĩ nguyên vật liệu , ngân quĩ máy móc thiết
bị …
Các kế hoạch tác nghiệp xây dựng một lần sử dụng nhiều lần : Là các
kế hoạch cho những hoạt động thường xuyên lặp lại. Bao gồm:
-Chính sách: Là những qui định chung để hướng dẫn tư duy và hành
động khi ra quyết định trong các lĩnh vực cơ bản của tổ chức .Chính sách thể
hiện các quan điểm và giá trị của tổ chức nhằm giải quyết các vấn đề có tính
thường xuyên lặp lại .Trong một tổ chức có thể có nhiều loại chính sách khác
nhau cho những mảng hoạt động cơ bản . Ví dụ : chính sách hỗ trợ doanh
nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam nhằm xác định các giải pháp và công cụ để hỗ
trợ các doanh nghiệp này phát triển hơn nữa như cho vay vốn ưu đãi để đầu
tư,giảm thuế suất… Chính sách bảo đảm sự phối hợp hành động và giúp cho
việc thống nhất các kế hoạch khác nhau trong tổ chức . Trong phạm vi co giãn
nào đó thì các chính sách là những tài liệu chỉ dẫn cho việc ra quyết định.
Chính sách khuyến khích được tính tự do sáng tạo nhưng phạm vi tự do sáng
tạo lại tuỳ thuộc vào chức vụ cấp bậc quản lý , mức độ phân quyền của tổ
chức ….
-Thủ tục: Là các kế hoạch chỉ ra một cách chính xác và chi tiết chuỗi
các hành động cần thiết phải thực hiện theo trình tự thời gian hoặc cấp bậc
quản lý để đạt được mục tiêu nhất định . Ví dụ như thủ tục xuất nhập nguyên
vật liệu, hàng hoá , thủ tục tuyển sinh …
-Quy tắc : Là loại hình kế hoạch đơn giản nhất cho biết những hành
động nào có thể làm , những hành động nào không được làm . Giữa thủ tục và
qui tắc có điểm giống nhau đó là : Đều là những hướng dẫn mang tính bắt
buộc cho các hoạt động . Nhưng các qui tắc gắn với việc hướng dẫn hành
động mà không bao hàm về mặt thời gian , trong khi đó thủ tục bao hàm qui
định trình tự thời gian cho các hành động . Ví dụ : Qui tắc không được hút
Sinh viên: Trần Bình Minh Lớp : QLKT 44A
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
thuốc trong công sở , qui tắc không được sử dung tài liệu trong thi cử . Ngoài
ra , các chính sách hướng dẫn việc ra quyết định trong khi qui tắc cũng là sự
hướng dẫn nhưng không cho phép có sự lựa chọn hay sáng tạo trong khi áp
dụng chúng . Như vậy , chính sách có độ linh hoạt cao hơn so với qui tắc và
thủ tục .
3.2. Theo thời gian thực hiện kế hoạch
Các kế hoạch được phân ra thành kế hoạch ngắn hạn , trung hạn , dài hạn.
- Kế hoạch dài hạn : Là kế hoạch cho thời kỳ từ 5 năm trở lên nhằm
xác định các lĩnh vực hoạt động của tổ chức,xác định các mục
tiêu,chính sách giải pháp dài hạn về tài chính , đầu tư , nghiên cứu
phát triển …do những nhà quản lý cấp cao lập mang tính tập trung
cao và linh hoạt.
-Kế hoạch trung hạn: Là kế hoạch cho thời kỳ từ 1 đến 5 năm nhằm
phác thảo các chính sách , chương tình trung hạn để thực hiện các mục tiêu
được hoạch định trong chiến lược của tổ chức.Kế hoạch trung hạn được lập
bởi các chuyên gia quản lý cấp cao , chuyên gia quản lý điều hành đồng thời
nó ít tập trung và ít uyển chuyển hơn kế hoạch dài hạn.
-Kế hoạch ngắn hạn : Là kế hoạch cho thời kỳ dưới 1 năm , là sự cụ thể
hoá nhiệm vụ sản xuất kinh doanh dựa vào mục tiêu chiến lược , kế hoạch ,
kết quả nghiên cứu thị trường , các căn cứ xây dựng kế hoạch phù hợp với
điều kiện năm kế hoạch do các chuyên gia quản lý điều hành và chuyên gia
quản lý thực hiện lập nên .Kế hoạch này không mang tính chất tập trung và
thường rất cứng nhắc , ít linh hoạt .
Ba loại kế hoạch trên có quan hệ hữu cơ với nhau .Trong đó, kế hoạch
dài hạn giữ vai trò trung tâm , chỉ đạo trong hệ thống kế hoạch sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp, là cơ sở để xây dựng kế hoạch trung hạn và kế
hoạch hằng năm.
Sinh viên: Trần Bình Minh Lớp : QLKT 44A
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
3.3.Theo mức cụ thể
Bao gồm kế hoạch cụ thể và kế hoạch định hướng.
-Kế hoạch cụ thể : Là những kế hoạch mà mục tiêu đã được xác định rất
rõ ràng , không có sự mập mờ và hiểu nhầm trong loại kế hoạch này.
-Kế hoạch định hướng : Là kế hoạch đưa ra những hướng chỉ đạo chung
và có tính linh hoạt .Khi môi trường có độ bất ổn định cao, khi doanh nghiệp
đang trong giai đoạn hình thành và suy thoái trong chu kỳ kinh doanh của nó
thì kế hoạch định hướng hay được sử dụng hơn kế hoạch cụ thể .
Tuy nhiên, việc phân loại kế hoạch theo các tiêu thức trên chỉ mang tính
chất tương đối ,các kế hoạch có mối quan hệ qua lại với nhau.Ví dụ như, kế
hoạch chiến lược có thể bao gồm cả kế hoạch dài hạn và ngắn hạn nhưng kế
hoạch chiến lược nhấn mạnh bức tranh tổng thể và dài hạn hơn , trong khi đó
kế hoạch tác nghiệp phần lớn là những kế hoạch ngắn hạn.
II. QUÁ TRÌNH LẬP KẾ HOẠCH
5
Quá trình lập kế hoạch bao gồm các bước cơ bản sau:
4. Nghiên cứu và dự báo
Nghiên cứu và dự báo là điểm bắt đầu của công tác lập kế hoạch. Để
nhận thức được cơ hội của mình thì doanh nghiệp cần phải có những hiểu biết
về môi trường , thị trường ,về sự cạnh tranh , về điểm mạnh và điểm yếu của
mình so với các đối thủ cạnh tranh khác. Chúng ta phải dự đoán trước các yếu
tố không chắc chắn có thể xảy ra từ đó đưa ra phương án đối phó thích hợp
.Công tác lập kế hoạch đòi hỏi doanh nghiệp phải có những dự đoán thực tế
về cơ hội .Doanh nghiệp phải phân tich môi trường để biết:
-Hiện nay, công nghệ của các đối thủ cạnh tranh đã đi đến đâu , họ đã
tung ra những sản phẩm mới nào ? giá cả bao nhiêu ? Đồng thời cũng phải
biết được hiện nay nhu cầu của khách hàng là sản phẩm gì?
5
Khoa học quản lý tập 1 - PGS.TS. Đoàn Thị Thu Hà - Nguyễn Thị Ngọc Huyền - 2004
Sinh viên: Trần Bình Minh Lớp : QLKT 44A
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
-Dự đoán trước những luật và chính sách mới nào sẽ ra đời có ảnh
hưởng đến công việc kinh doanh của doanh nghiệp.Đây là điều rất quan
trọng , bởi hiện nay Nhà nước ta đang hoàn thiện hệ thống luật nên có rất
nhiều luật và chính sách mới ra đời có ảnh hưởng tới công việc kinh doanh
của doanh nghiệp , mà để tồn tại lâu dài trên thương trường thì doanh nghiệp
không thể không phân tích những thay đổi đó như luật thuế , các chế độ kế
toán mới, luật xuất nhập khẩu…
-Những thay đổi của thị trường cung ứng đầu vào như lao động , vật
tư , nguyên vật liệu cho sản xuất , máy móc thiết bị…
Ngoài ra , doanh nghiệp cũng cần phải phân tích các nguồn lực của
mình để xác định những điểm yếu và điểm mạnh của doanh nghiệp so với các
đối thủ cạnh tranh khác .
5. Thiết lập các mục tiêu
Khi lập kế hoạch các tổ chức cần phải thiết lập được hệ thống các
mục tiêu mà mình cần đạt tới .Các mục tiêu đưa ra phải xác định rõ thời hạn
để thực hiện và được lượng hoá đến mức cao nhất có thể . Trong tổ chức có
hai loại mục tiêu là mục tiêu định tính và mục tiêu định lượng, nhưng mục
tiêu định lượng thường rõ ràng và dễ thực hiện hơn . Ngoài ra, theo các thứ tự
ưu tiên khác nhau thì các mục tiêu cũng nên được phân nhóm . Một tổ chức
hay doanh nghiệp đều có thể có hai loại mục tiêu là mục tiêu hàng đầu và mục
tiêu hàng thứ hai . Những mục tiêu hàng đầu thường liên quan đến sự sống
còn và thành đạt của tổ chức .Đối với một doanh nghiệp, đó là những mục
tiêu về lợi nhuận , doanh thu hay thị phần. Nếu không đạt được một mức lợi
nhuận , mức doanh thu hay mức thị phần nhất định trong một thời kỳ nào đó ,
thì doanh nghiệp có thể bị phá sản. Còn mục tiêu hàng thứ hai lại liên quan
đến tính hiệu quả của doanh nghiệp. Chúng không ảnh hưởng lớn đến sự sống
còn của doanh nghiệp như các mục tiêu hàng đầu nhưng cũng rất quan trọng
đối với sự thành công của doanh nghiệp. Những mục tiêu này thể hiện mức
độ quan tâm của khách hàng đối với sản phẩm của doanh nghiệp,sự phát triển
Sinh viên: Trần Bình Minh Lớp : QLKT 44A
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
sản phẩm mới hay tính hiệu quả của công tác quản lý hành chính …Trong
những năm gần đây , các doanh nghiệp Nhà nước và tư nhân đều tập trung
chú trọng tới các mục tiêu hàng thứ hai để thu hút khách hàng , được coi là
nhân tố có ảnh hưởng về mặt lâu dài đến sự sống còn của doanh nghiệp và cả
các mục tiêu hàng đầu với sự ảnh hưởng trực tiếp và trước mắt hơn. Cho dù
doanh nghiệp có chú trọng tới mục tiêu nào hơn chăng nữa thì điều quan
trọng là doanh nghiệp phải xác định được các mục tiêu thật rõ ràng , có thể đo
lường được và có thể thực hiện được. Bên cạnh đó, cũng cần xác định rõ trách
nhiệm trong việc thực hiện mục tiêu và thời hạn phải hoàn thành.
6. Phát triển các tiền đề
Tiền đề để lập kế hoạch là các dự báo , các chính sách cơ bản có thể áp
dụng , là các giả thiết cho việc lập kế hoạch . Đó có thể là địa bàn hoạt động ,
qui mô hoạt động của doanh nghiệp , mức giá , sản phẩm gì , triển khai công
nghệ gì, mức chi phí , mức lương , mức cổ tức và các khía cạnh tài chính , xã
hội, chính trị khác .
Tiền đề còn có thể là những dự báo hay các chính sách còn chưa được
ban hành.Ví dụ như , nếu một công ty đưa ra chương trình phát triển sản
phẩm mới thì khi lập kế hoạch phải dự báo được những phản ứng của khách
hàng đối với sản phẩm mới này .Các tiền đề được giới hạn theo các giả thiết
có tính chất chiến lược hoặc cấp thiết để đưa đến một kế hoạch. Sự hoạt động
của các kế hoạch này sẽ chịu nhiều ảnh hưởng cuả các tiền đề.Sự nhất trí về
các tiền đề chính là điều kiện quan trọng để lập kế hoạch phối hợp.Vì vậy
không nên đòi hỏi những kế hoạch và ngân quĩ từ cấp dưới khi chưa có , trước
hết , nên có những chỉ dẫn cho những người đứng đầu các bộ phận của mình.
7. Xây dựng các phương án
Ở bước này các nhà lập kế hoạch cần phải tìm ra và nghiên cứu các
phương án hành động để đạt được mục tiêu.Trong môĩ phương án cần phải
xác định được hai nội dung cơ bản là : Phải xác định được giải pháp của kế
Sinh viên: Trần Bình Minh Lớp : QLKT 44A
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
hoạch là gì để trả lời cho câu hỏi làm gì để đạt được mục tiêu.Phải xác định
được các công cụ và nguồn lực cần thiết để thực hiện mục tiêu.Các nhà lập kế
hoạch cần phải thực hiện bước khảo sát sơ bộ lựa chọn ra các phương án có
triển vọng nhất để đưa ra phân tích và giảm bớt các phương án lựa chọn .
8. Đánh giá các phương án
Khi đã xây dựng được một hệ thống các phương án thi các nhà lập kế
hoạch cần phải tiến hành đánh giá lại các phương án đó nhằm lựa chọn được
những phương án tối ưu nhất .Đánh giá các phương án theo các tiêu chuẩn
phù hợp với mục tiêu đã định và trung thành với các tiền đề đã được xác
định.Các nhà lập kế hoạch cần phải lựa chọn , xem xét phương án nào là tối
ưu nhất tức là các phương án nàc đạt được mục tiêu một cách hiệu quả nhất
và nhanh nhất , chi phí là thấp nhất.Đồng thời các phương án được lựa chọn
cũng phải giải quyết được những vấn đề kinh tế xã hội đang được đặt ra.
9. Lựa chọn phương án và ra quyết định
Sau khi đánh giá các phương án thì một vài phương án tối ưu nhất sẽ được lựa
chọn .Các phương án này sẽ được đưa ra hội đồng quản trị, ban giám đốc và
các phòng ban liên quan để ra quyết định phân bổ con người và các nguồn
lực khác của tổ chức cho việc thưc hiện kế hoạch. Tiếp theo sẽ là việc xây
dựng các kế hoạch phụ trợ và lượng hoá kế hoạch bằng ngân quĩ .
III. CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN HOẠT ĐỘNG LẬP KẾ
HOẠCH
6
10. Quan điểm của các nhà lập kế hoạch
Vì việc lập kế hoạch là do các nhà lập kế hoạch hoạch định nên quan
ngoài những yếu tố tác động khách quan thì các kế hoạch vẫn sẽ bị chi phối
bởi quan điểm chủ quan của những nhà làm công tác kế hoạch.
11. Cấp quản lý
6
Lý thuyết quản trị kinh doanh - TS.Nguyễn Thị Hồng Thuỷ - Nguyễn Thị Ngọc Huyền - NXB KHKT 1997
Sinh viên: Trần Bình Minh Lớp : QLKT 44A
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Giữa cấp quản lý trong một doanh nghiệp và các loại kế hoạch được
lập ra có mối quan hệ với nhau.Cấp quản lý mà càng cao thì việc lập kế hoạch
càng mang tính chiến lược.Các nhà quản lý cấp trung và cấp thấp thường lập
các kế hoạch tác nghiệp .


12. Chu kì kinh doanh của doanh nghiệp


Sinh viên: Trần Bình Minh Lớp : QLKT 44A
Kết quả
kinh doanh
Hình
thành
Tăng
trưởng
Chín
muồi
Suy
thoái
Thời gian
Các nhà quản lý
cấp thấp
Các nhà
quản lý
cao cấp
Các nhà quản lý
cấp trung.
Lập các kế hoạch tác nghiệp
Lập các kế hoạch chiến lược

Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Mỗi chu kỳ kinh doanh của doanh nghiệp đều trải qua bốn giai đoạn là
hình thành, tăng trưởng , chín muồi , và suy thoái.Với mỗi giai đoạn thì việc
lập kế hoạch là không giống nhau.Qua các giai đoạn khác nhau thì độ dài và
tính cụ thể của các kế hoạch là khác nhau .
-Trong giai đoạn hình thành (hay giai đoạn bắt đầu đi lên của chu kỳ
kinh doanh) các nhà quản lý thường phải dựa vào kế hoạch định hướng . Thời
kỳ này các kế hoạch rất cần tới sự mềm dẻo và linh hoạt vì mục tiêu có tính
chất thăm dò , nguồn lực chưa được xác định rõ , và thị trường chưa có gì
chắc chắn .Kế hoạch định hướng trong giai đoạn này giúp cho những nhà
quản lý nhanh chóng có những thay đổi khi cần thiết.
-Trong giai đoạn tăng trưởng , kế hoạch ngắn hạn được sử dụng nhiều và
thiên về cụ thể vì các mục tiêu được xác định rõ hơn , các nguồn lực đang
được đưa vào và thị trường cho đầu ra đang tiến triển .
-Ở giai đoạn chín muồi , doanh nghiệp nên có các kế hoạch dài hạn và cụ
thể vì ở giai đoạn này tính ổn định và tính dự đoán được của doanh nghiệp là
lớn nhất .
-Trong giai đoạn suy thoái , kế hoạch lại chuyển từ kế hoạch dài hạn
sang kế hoạch ngắn hạn , từ kế hoạch cụ thể sang kế hoạch định hướng .
Cũng giống như giai đoạn đầu , giai đoạn suy thoái cần tới sự mềm dẻo, linh
hoạt vì các mục tiêu phải được xem xét và đánh giá lại , nguồn lực cũng được
phân phối lại cùng với những điều chỉnh khác.
13. Tính không chắc chắn của môi trường kinh doanh
Lập kế hoạch là quá trình chuẩn bị để đối phó với sự thay đổi và tình
huống không chắc chắn của môi trường kinh doanh mà chủ yếu là các nhân tố
trong môi trường nền kinh tế và môi trường ngành.Môi trường càng bất ổn
định bao nhiêu thì kế hoạch càng mang tính định hướng và ngắn hạn bấy
nhiêu.Những doanh nghiệp hoạt động trong môi trường tương đối ổn định
thường có những kế hoạch dài hạn , tổng hợp và phức tạp , còn những doanh
nghiệp hoạt động trong môi trường hay có sự thay đổi lại có những kế hoạch
Sinh viên: Trần Bình Minh Lớp : QLKT 44A
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
hướng ngoại và ngắn hạn.Các nhà lập kế hoạch cần phải tính toán , phán đoán
được sự tác động của môi trường kinh doanh , sự không chắc chắn của môi
trường kinh doanh được thể hiện dưới ba hình thức sau:
-Tình trạng không chắc chắn: xảy ra khi toàn bộ hay một phần của môi
trường kinh doanh được coi là không thể tiên đoán được.
-Hậu quả không chắc chắn: là trường hợp mặc dù đã cố gắng nhưng nhà
quản lý không thể tiên đoán được những hậu quả do sự thay đổi của môi
trường tác động đến các doanh nghiệp , do vậy mà dẫn đến sự không chắc
chắn.
-Sự phản ứng không chắc chắn : là tình trạng không thể tiên đoán được
những hệ quả của một quyết định cụ thể , sự phản ứng của doanh nghiệp đối
với những biến động của môi trường kinh doanh .
Vì vậy công việc của các nhà lập kế hoạch là phải đánh giá tính chất và
mức độ không chắc chắn của môi trường kinh doanh để xác định giải pháp
phản ứng của doanh nghiệp và triển khai các kế hoạch thích hợp. Với những
lĩnh vực có mức độ không chắc chắn thấp thì việc xây dựng kế hoạch là ít
phức tạp , nhưng những lĩnh vực có mức độ không chắc chắn cao thì đòi hỏi
kế hoạch phải được xác định rất linh hoạt.
14. Hệ thống mục tiêu , chiến lược của doanh nghiệp
Mục tiêu là kết quả mong muốn cuối cùng của các cá nhân , tổ chức
hay doanh nghiệp .Mục tiêu chỉ ra phương hướng cho tất cả các quyết định
quản lý và hình thành nên những tiêu chuẩn đo lường cho việc thực hiện trong
thực tế . Mục tiêu là nền tảng của việc lập kế hoạch.
Do vậy các nhà lập kế hoạch cần phải dựa vào hệ thống mục tiêu của tổ chức ,
doanh nghiệp mình để có các kế hoạch dài hay ngắn cho phù hợp nhằm đạt
được mục tiêu đã đề ra .
15. Sự hạn chế của các nguồn lực
Khi lập kế hoạch các nhà lập kế hoạch phải dựa vào nguồn lực hiện có
của doanh nghiệp mình.Thực tiễn cho thấy sự khan hiếm của các nguồn lực là
Sinh viên: Trần Bình Minh Lớp : QLKT 44A
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
bài toán làm đau đầu các nhà quản lý khi lập kế hoạch.Chính điều này nhiều
khi còn làm giảm mức tối ưu của các phương án được lựa chọn.Nguồn lưc
của doanh nghiệp bao gồm :Nguồn nhân lực , nguồn lực về tài chính , cơ sở
vật chất kỹ thuật , máy móc thiết bị , khoa học công nghệ…
Trước hết là nguồn nhân lực , đây được coi là một trong những thế
mạnh của nước ta , nhưng thực tế ở các doanh nghiệp còn rất nan giải.Lực
lượng lao động mặc dù thừa về số lượng nhưng lại yếu về chất lượng .Số
lượng lao động có trình độ quản lý , tay nghề cao còn thiếu nhiều , lực lượng
lao động trẻ ít kinh nghiệm vẫn cần phải đào tạo nhiều .
Tiếp đến phải kể đến là sự hạn hẹp về tài chính . Nguồn lực tài chính
yếu sẽ cản trở sự triển khai các kế hoạch và nó cũng giới hạn việc lựa chọn
những phương án tối ưu.
Cơ sở vật chất kỹ thuật , máy móc thiết bị của doanh nghiệp cũng là
nguồn lực hạn chế .Thực tế hiện nay ở các doanh nghiệp nước ta hệ thống cơ
sở vật chất kỹ thuật còn yếu , thiếu và lạc hậu, trình độ khoa học công nghệ
còn thấp .Điều này đã cản trở việc xây dựng và lựa chọn những kế hoạch sản
xuất tối ưu.
16. Hệ thống thông tin
Nhà kinh tế học người Anh Roney cho rằng :”Một công ty hoạt động
trong nền kinh tế thị trường muốn chiến thắng trong cạnh tranh thì trước hết
phải nắm được thông tin , tiếp đó phải xây dựng cho mình các chiến lược và
kế hoạch đầy tham vọng” .
Trong quá trình lập kế hoạch sản xuất kinh doanh thông tin sẽ giúp bộ
phận lãnh đạo của doanh nghiệp có được các quyết định đúng đắn kịp thời .
Trong nền kinh tế thị trường thì thông tin là quan trọng nhất , thông
tin là cơ sở của công tác lập kế hoạch.Khi lập kế hoạch nhà quản lý cần dựa
vào thông tin về các nguồn nhân lực , tài lực , vật lực và mối quan hệ tối ưu
giữa chúng , làm cho chúng thích nghi với sự biến động của môi trường ,
giảm thiểu tính mù quáng của hoạt động kinh tế, đảm bảo tạo ra khối lượng
Sinh viên: Trần Bình Minh Lớp : QLKT 44A
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
sản phẩm lớn nhất bằng chi phí nhỏ nhất .Đồng thời trong quá trình thực hiện
kế hoạch thì chúng ta cũng cần phải dựa vào các thông tin phản hồi để có
những điều chỉnh phù hợp.
8. Hệ thống kiểm tra đảm bảo cho quá trình lập kế
hoạch đạt kết quả và hiệu quả
Kiểm tra đảm bảo cho các kế hoạch được thực hiện với hiệu quả
cao. Trong thực tế, những kế hoạch tốt nhất cũng có thể không được thực hiện
như ý muốn .Các nhà quản lý cũng như cấp dưới của họ đều có thể mắc sai
lầm và kiểm tra cho phép chủ động phát hiện , sửa chữa các sai lầm đó trước
khi chúng trở nên nghiêm trọng để mọi hoạt động của tổ chức được tiến hành
theo đúng kế hoạch đã đề ra.
9. Năng lực của các chuyên gia lập kế hoạch
Năng lực của các chuyên gia lập kế hoạch có ảnh hưởng lớn đến công
tác xây dựng kế hoạch , các nhà lập kế hoạch phải có kiến thức và trình độ
tổng hợp để lập kế hoạch .
10. Cơ chế quản lý kinh tế và kế hoạch hoá của Nhà
nước
Đây là nhân tố có ảnh hưởng sâu sắc đến công tác lập kế hoạch sản
xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Một cơ chế quản lý phù hợp sẽ có tác
dụng thúc đẩy hoạt động kế hoạch sản xuất phát triển , ngược lại nó sẽ kìm
hãm sự phát triển của doanh nghiệp .Thực tế trong những năm chuyển đổi cơ
chế quản lý kinh tế của Nhà nước ta đã cho thấy , càng đi sâu vào cơ chế thị
trường thì càng phát sinh thêm nhiều vấn đề mới cần tiếp tục nghiên cứu giải
quyết để hoàn thiện cơ chế quản lý và kế hoạch hoá của Nhà nước. Nhà nước
cần phải tiếp tục giải quyết các tồn đọng , vướng mắc trong nhiều năm chuyển
đổi để thực sự tạo quyền tự chủ cho doanh nghiệp nhưng vẫn đảm bảo được
yêu cầu quản lý tập trung thống nhất của Nhà nước.
IV. PHƯƠNG PHÁP LẬP KẾ HOẠCH SẢN XUẤT KINH DOANH
1. Những yêu cầu đối với công tác lập kế hoạch sản
xuất của doanh nghiệp
Sinh viên: Trần Bình Minh Lớp : QLKT 44A
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Công tác lập kế hoạch sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp cần quán
triệt các yêu cầu sau :
- Công tác lập kế hoạch sản xuất kinh doanh trong doanh nghiệp cần
quán triệt yêu cầu hiệu quả. Các doanh nghiệp hoạt động đều nhằm mục đích
hướng tới mục tiêu hiệu quả , nó là tiêu chuẩn hàng đầu cho việc xây dựng ,
lựa chọn và quyết định các phương án kế hoạch của doanh nghiệp.
- Lập kế hoạch sản xuất kinh doanh trong doanh nghiệp phải quán triệt
yêu cầu hệ thống đồng bộ. Nền kinh tế quốc dân là một hệ thống thống nhất ,
gồm nhiều phân hệ là các doanh nghiệp. Thực hiện yêu cầu này , trong các
khâu của công tác lập kế hoạch phải đảm bảo cho mục tiêu hoạt động của
doanh nghiệp đồng hướng và góp phần thúc đẩy việc thực hiện mục tiêu bao
trùm của cả hệ thống.
- Công tác lập kế hoạch sản xuất kinh doanh trong doanh nghiệp phải
quán triệt yêu cầu “vừa tham vọng vừa khả thi “.Trong nền kinh tế thị trường
đối với các doanh nghiệp thì mục tiêu lợi nhuận là tối cao ,do vậy để thực
hiện được mục tiêu này đòi hỏi các doanh nghiệp phải xây dựngkế hoạch để
thực hiện các phương án đó .Tuy nhiên , các kế hoạch được đề ra phải có khả
năng thực thi .
- Công tác lập kế hoạch sản xuất kinh doanh trong doanh nghiệp phải
quán triệt yêu cầu “kết hợp mục tiêu chiến lược với mục tiêu tình thế “. Tức là
hệ thống mục tiêu kế hoạch phải được xây dựng và điều chỉnh linh hoạt theo
yêu cầu thay đổi của môi trường và điều kiện kinh doanh.
- Công tác lập kế hoạch sản xuất kinh doanh trong doanh nghiệp phải
quán triệt yêu cầu kết hợp đúng đắn các loại lợi ích kinh tế trong doanh
nghiệp kể cả lợi ích xã hội. Đây chính là động lực của sự phát triển và là cơ
sở cho việc thực hiện có hiệu quả các phương án sản xuất kinh doanh.
2. Các căn cứ để lập kế hoạch sản xuất kinh doanh
2.1. Căn cứ vào chủ trương , đường lối , chính sách phát triển kinh tế
xã hội của Đảng và Nhà nước
Sinh viên: Trần Bình Minh Lớp : QLKT 44A
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Doanh nghiệp là một tế bào của nền kinh tế quốc dân, nên các kế hoạch
sản xuất kinh doanh do doanh nghiệp đề ra phải phù hợp với chủ trương ,
đường lối , chính sách phát triển kinh tế xã hội của Đảng và Nhà nước .Nếu
hoạt động của doanh nghiệp mà đi ngược lại xu thế phát triển , vi phạm những
lợi ích chung của nền kinh tế nó sẽ bị đào thải , ngược lại nếu nhận thức và
hoà mình vào xu thế phát triển chung thì doanh nghiệp sẽ phát triển ổn định
và bền vững .
2.2.Căn cứ vào kết quả điều tra nghiên cứu thị trường
Thị trường có vai trò trực tiếp hướng dẫn các doanh nghiệp lựa chọn
lĩnh vực hoạt động và phương án sản xuất kinh doanh có hiệu quả . Kết quả
điều tra nghiên cứu nhu cầu thị trường phải phản ánh được qui mô, cơ cấu
đối với từng sản phẩm và dịch vụ của doanh nghiệp , có tính đến tác động của
các nhân tố làm tăng hoặc giảm cầu để đáp ứng yêu cầu của công tác lập kế
hoạch .Những kết quả điều tra nghiên cứu này có thể tập hợp theo mức giá để
xác định mục tiêu kinh doanh phù hợp với phân đoạn thị trường hoặc theo
khách hàng để đảm bảo sự gắn bó giữa sản xuất với kinh doanh .Căn cứ vào
số lượng các đối thủ cạnh tranh , sự biến động giá cả trên thị trường để lập kế
hoạch thì hiệu quả của phương án kế hoạch sẽ được nâng cao .
Đối với các doanh nghiệp trong ngành may mặc thì việc nghiên cứu
thị trường để lập kế hoạch là rất quan trọng ,vì nhu cầu về thời trang luôn thay
đổi từng ngày , mỗi mùa lại có những sản phẩm khác nhau .
2.3 Căn cứ vào kết quả phân tích và dự báo về tình hình sản xuất
kinh doanh , về khả năng nguồn lực có thể khai thác.
Doanh nghiệp căn cứ vào kết quả phân tích hoạt động kinh doanh thời
kỳ trước và dự báo khả năng tương lai ứng với các nguồn lực có thể khai thác
được,đặc biệt là dựa vào những lợi thế vượt trội của doanh nghiệp về các mặt
chất lượng sản phẩm , kênh tiêu thụ hợp tác liên doanh , khoa học công nghệ
so với đối thủ cạnh tranh sẽ góp phần làm tăng tính khả thi của các phương án
Sinh viên: Trần Bình Minh Lớp : QLKT 44A
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
kế hoạch .Các chỉ tiêu chất lượng của hoạt động sản xuất kinh doanh cần phải
được chú trọng tập trung phân tích. .
3. Các phương pháp lập kế hoạch sản xuất kinh doanh
3
Trong thực tế doanh nghiệp có thể sử dụng nhiều phương pháp để lập
kế hoạch , tuỳ thuộc vào mục đích, yêu cầu mà doanh nghiệp sử dụng các
phương pháp khác nhau.
3.1.Phương pháp cân đối
Phương pháp này gồm các bước sau :
Bước 1: Xác định khả năng của doanh nghiệp, bao gồm khả năng sẵn
có và khả năng chắc chắn có trong tương lai của doanh nghiệp và các yếu tố
sản xuất .
Bước 2: Cân đối giữa nhu cầu của thị trường và khả năng về các yếu
tố để sản xuất.
Trong nền kinh tế thị trường , phương pháp cân đối được xác định
bởi những yêu cầu sau :
-Cân đối được thực hiện phải là cân đối động .Cân đối để lựa chọn
phương án tối ưu chứ không phải là cân đối theo phương án đã được chỉ
định.Các yếu tố để cân đối là những yếu tố biến đổi theo môi trường kinh
doanh , đó là nhu cầu của thị trường và khả năng có thể khai thác các nguồn
lực của doanh nghiệp trong kỳ kế hoạch.
-Thực hiện cân đối liên hoàn ,nghĩa là tiến hành nhiều cân đối kế tiếp
nhau để bổ sung và điều chỉnh phương án cho phù hợp với những thay đổi
của môi trường kinh doanh .
-Trước khi tiến hành cân đối tổng thể các yếu tố thì phải thực hiện cân
đối trong những yếu tố trước .Kết quả cân đối tổng hợp phải là căn cứ để xác
định năng lực sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và là cơ sở để xác định
hoặc điều chỉnh các phương án kinh doanh của doanh nghiệp.
3
Giáo trình quản trị doanh nghiệp - Bộ môn quản trị doanh nghiệp
Sinh viên: Trần Bình Minh Lớp : QLKT 44A
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
3.2. Phương pháp tỷ lệ cố định
Nội dung của phương pháp này là tính toán một số chỉ tiêu của năm
kế hoạch theo một tỷ lệ đã được xác định trong năm báo cáo trước đó. Theo
phương pháp này doanh nghiệp sẽ coi tình hình của năm lập kế hoạch giống
như tình hình của năm báo cáo đối với một số chỉ tiêu nào đó.
Phương pháp này cho thấy kết quả nhanh nhưng thiếu chính xác, vì thế chỉ
nên sử dụng trong trường hợp không đòi hỏi độ chính xác cao, và thời gian
thực hiện kế hoạch không kéo dài.
3.3 Phương pháp lập kế hoạch từ việc phân tích các nhân tố tác động
Đây là một phương pháp lập kế hoạch có tính chất truyền thống và vẫn
được sử dụng rộng rãi.Việc áp dụng phương pháp này đòi hỏi các nhà quản lý
phải có cách xem xét ,phân tích hệ thống và tổng thể nhiều vấn đề. Phải biết
đặt tình trạng của doanh nghiệp trong bối cảnh kinh tế của các yếu tố ngoại
lai.Cần xem xét các yếu tố sau :
-Các yếu tố kinh tế như: Tổng sản phẩm quốc dân, mức cung ứng tiền
tệ…
-Sự phát triển về dân số, nhóm lứa tuổi , tình hình thay đổi thói quen
trong cuộc sống .
-Các yếu tố chính trị và pháp luật như luật canh tranh , luật thuế ..
-Sự biến động của thị trường và thái độ của khách hàng , qui mô thị
trường , chu kỳ vận động của thị trường , sự trung thành của khách hàng , sức
mua .
-Sự thay đổi của khoa học công nghệ , cấu trúc ngành nghề như loại
sản phẩm , cấu trúc giá , chi phí của các đối thủ cạnh tranh.
-Các đặc điểm về nguồn lực của doanh nghiệp như phần thị trường,
chu kỳ sống của sản phẩm ,trình độ lao động , chi phí tiền lương, tình hình
doanh thu, chất lượng sản phẩm.
3.4. Phương pháp lợi thế vượt trội
Sinh viên: Trần Bình Minh Lớp : QLKT 44A
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Phương pháp này gợi mở cho các nhà quản lý khi lập kế hoạch phải
xem xét khai thác các lợi thế vượt trội để nâng cao khả năng cạnh tranh của
doanh nghiệp.Khi lập kế hoạch doanh nghiệp cần phát huy lợi thế vượt trội
trên các mặt sau:
-Lợi thế vượt trội trong lĩnh vực tiêu thụ , trong việc triển khai các
kênh phân phối sản phẩm với các đối tác khác.
-Lợi thế vượt trội trong sản xuất thể hiện trong việc tăng cường liên
doanh liên kết để phát huy chuyên môn hoá.
-Lợi thế vượt trội trong việc hợp tác nghiên cứu điều tra dự báo.
-Lợi thế vượt trội nhờ năng lực và trình độ của các nhà quản lý trong
việc giải quyết các vấn đề phát sinh cụ thể.
3.5. Phương pháp mô hình PIMS (Profit Impact Market Strategy)
Theo phương pháp này, khi lập kế hoạch , các nhà lập kế hoạch phải
phân tích kỹ 6 vấn đề sau:
-Sức hấp dẫn của thị trường như mức tăng trưởng thị trường , tỷ lệ xuất
nhập khẩu…
-Tình hình cạnh tranh: Đó là phần thị tương đối của doanh nghiệp so
với tổng thị trường của 3 đối thủ cạnh tranh lớn nhất .
Phần thị trường
tương đối = Х100
của doanh nghiệp( %)
Đây là chỉ tiêu mà phương pháp này sử dụng để phân tích cho từng loại
sản phẩm của doanh nghiệp.
-Hiệu quả hoạt động của các hoạt động đầu tư : Tốc độ đầu tư ,
doanh thu trên mỗi hoạt động đầu tư.
-Sử dụng ngân sách của doanh nghiệp : Chi cho marketing trong
doanh thu ,hệ số tăng sản xuất.
-Các đặc điểm của doanh nghiệp như :Qui mô hoạt động của doanh
nghiệp ,mức độ phân tán của doanh nghiệp.
Sinh viên: Trần Bình Minh Lớp : QLKT 44A
Phần thị trường tuyệt đối của doanh nghiệp
Tổng phần thị trường tuyệt đối

Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×