Tải bản đầy đủ

Xây dựng kế hoạch kinh doanh năm 2004 của công ty Dịch Vụ Kỹ Thuật Dầu Khí.doc

Lời mở đầu
Nền kinh tế nớc ta đã trải qua thời kỳ dài trong cơ chế kế hoạch hoá tập
trung bao cấp, mặc dù đây là một cơ chế đã phát huy hiệu quả rất cao khi đất n-
ớc có chiến tranh nhng trong hoà bình thì cơ chế này trở nên lạc hậu kìm hãm
sự phát triển của nền kinh tế quốc dân. Nhận thức rõ điều này tại đại hội Đảng
toàn quốc lần thứ VI 1986, Đảng và nhà nớc ta chủ trơng đổi mới và xác
định đặc điểm của nền kinh tế nớc ta: Nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần
vận hành theo cơ chế thị trờng có sự quản lý của nhà nớc theo định hớng xã hội
chủ nghĩa. Với sự chuyển biến mạnh mẽ của cơ chế quản lý nhà nớc, lúc này
có thể nói công tác kế hoạch trở thành một công cụ quản lý đắc lực của các
doanh nghiệp và các tổ chức khác đem lại hiệu quả cao trong quản lý. Là nhân
tố quan trọng góp phần vào thành công của công cuộc đổi mới trên đất nớc ta
hơn 10 năm qua.
Mặc dù trong những năm gần đây công tác lập kế hoạch đã có sự đổi mới
tuy nhiên sự đổi mới đó vẫn còn nhiều bất cập, cần đợc tiếp tục hoàn thiện từ
nhận thức của ngời làm kế hoạch đến nội dung và phơng pháp xây dựng kế
hoạch, để công tác kế hoạch thực sự trở thành một công cụ đắc lực, có hiệu quả
trong công tác quản lý của doanh nghiệp.
Qua quá trình tìm hiều về mặt lý luận và thực tiễn tại công ty dịch vụ kĩ
thuật dầu khí (PTSC), nhận thấy tầm quan trọng của vấn đề trên tôi đã chọn đề
tài: Xây dựng kế hoạch kinh doanh năm 2004 của công ty Dịch Vụ Kỹ

Thuật Dầu Khí
Nội dung đề tài gồm 3 chơng:
Chơng I: Cơ sở lý luận về công tác xây dựng kế hoạch kinh doanh trong
doanh nghiệp.
ChơngII: Phân tích thực trạng xây dựng và thực hiện kế hoạch kinh doanh
ở công ty Dịch Vụ Kỹ Thuật Dầu Khí 2000-2003
ChơngIII: Xây dựng kế hoạch sản xuất kinh doanh của công ty cho năm 2004
và các giải pháp thực hiện kế hoạch trong ba quý còn lại của năm 2004 .
chơng 1
Cơ sở lý luận về công tác xây dựng kế hoạch
trong doanh nghiệp
i. khái niệm & vai trò của kế hoạch kinh doanh trong doanh
nghiệp.
1. Kế hoạch và vai trò của kế hoạch với hoạt động sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp
1.1 Định nghĩa:
Kế hoạch sản xuất kinh doanh là một công cụ quản lý quan trọng, không
thể thiếu đợc với bất kì doanh nghiệp nào dù là lớn hay nhỏ, dù là doanh nghiệp
quốc doanh hay ngoài quốc doanh.Với chức năng tạo sự chủ động trong công
việc huy động và sử dụng mọi nguồn lực của doanh nghiệp nhằm làm tăng hiệu
quả cho doanh nghiệp.
Kế hoạch sản xuất kinh doanh cũng là một phạm trù kinh tế và nh mọi
phạm trù khác nó có nhiều cách tiếp cận theo nhiều khía cạnh để có thể hiểu hết
ý nghĩa và bản chất của nó.
Với cách tiếp cận theo quá trình thì cho rằng : Kế hoạch kinh doanh là một
quá trình liên tục xoáy trôn ốc với chất lợng ngay càng tăng, kể từ khi chuẩn bị
xây dựng cho tới lúc chuẩn bị tổ chức thực hiện kế hoạch nhằm đa hoạt động
của doanh nghiệp theo các mục tiêu đã định.
Theo quan niệm cua Steiner thì: Kế hoạch sản xuất kinh doanh là một quá
trình bắt đầu bởi việc thiết lập các mục tiêu và quyết định chiến lợc đợc thực
hiện nhằm hoàn thiện hơn bản kế hoạch. Nh vậy, theo cách tiếp cận của Steiner
thì các khái niệm về hiện tợng tơng lai, tính liên tục của quá trình, sự gắn bó
của hàng loạt hành động và quyết định để đạt đợc kết quả mong muốn đều đã đ-
ợc thể hiện trong bản kế hoạch.
Kế hoạch hoá chiến lợc là một trạng thái ý tởng, đó là sự suy nghĩ về qúa
trình tiến triển, về sự phát triển của doanh nghiệp trong thời gian tới. Ngày nay,
kế hoạch hoá doanh nghiệp đợc xem nh là một quá trình xác định các mục tiêu
các phơng án huy động nguồn lực (bên trong và bên ngoài) nhằm thực hiện có
hiệu quả các mục tiêu đã xác định. Kế hoạch hoá quan tâm đến sự biến động
môi trờng trong và ngoài doanh nghiệp hay là đến tính phức tạp của các vấn đề.


Đồng thời số lợng các bộ phận kế hoạch, tính chất, đặc điểm, chức năng, thời
hạn, đối tợng khác nhau cũng đợc cân nhắc kỹ. Từ đó mới thấy đợc tính phức
tạp của hoạt động kế hoạch hoá.
Theo cách tiếp cận hiện nay đợc nhiều ngời sử dụng ở Việt Nam thì kế
hoạch là những chỉ tiêu những con số đợc dự kiến, ớc tính trớc trong việc thực
hiện một nhiệm vụ cụ thể nào đó để đạt đợc hiệu quả cao nhất (tức là phù hợp
với yêu cầu về thị trờng, phù hợp với pháp luật và khả năng thực tế của doanh
nghiệp).
Theo quan niệm này thì những chỉ tiêu những con số phải có cơ sở khoa
học, cơ sở thực tế và nó phải đợc thể hiện ở bảng biểu kế hoạch. Những con số
chỉ tiêu này mang tính khả năng và muốn biến chúng thành hiện thực thì phải
áp dụng hệ thống các biện pháp.
Nói tóm lại, kế hoạch thực chất là xác định mục tiêu phấn đấu và dự kiến sử
dụng một cách hợp lý, tiết kiệm các nguồn lực để đạt mục tiêu với hiệu quả
kinh tế cao. Nếu có một kế hoạch tốt, có chất lợng thì đã đạt đợc 50% mục tiêu
đặt ra.
1.2 Vai trò của xây dựng kế hoạch.
1.2.1 Trong cơ chế kế hoạch hoá tập trung.
Kế hoạch sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp chính là các chỉ tiêu
pháp lệnh mà nhà nớc giao cho, cùng với các chỉ tiêu đó nhà nớc căn cứ cung
cấp nguyên nhiên liệu đầu vào và bao tiêu đầu ra cho doanh nghiệp. Hay nói
cách khác doanh nghiệp tham gia vào quá trình xây dựng kế hoạch sản xuất
kinh doanh cho chính mình, nhng không có quyền tự chủ trong hoạt động sản
xuất kinh doanh, hoàn toàn thụ động trớc thị trờng không kích thích, sáng tạo,
kìm hãm sản xuất.
1.2.2Trong cơ chế thị trờng có sự quản lý của nhà nớc.
a.Từ những đặc tr ng của nền kinh tế thị tr ờng
Nền kinh tế thị trờng hoạt động dựa trên các quy luật:
-Quy luật giá trị: Tức là trao đổi hàng hoá đợc tiến hành phù hợp với chi phí lao
động xã hội cần thiết để tạo ra nó, thể hiện qua quy luật giá cả biến đổi xoay
quanh giá trị.
-Quy luật cung cầu: Sự thay đổi thờng xuyên giữa nhu cầu về hàng hoá đợc
cung cấp tạo ra một điểm cân bằng mới . Tại đó cung cầu và giá cả của một loại
hàng hoá đợc xác định đối với một hàng hoá nào đó thì khi cung lớn hơn cầu thì
giá cả giảm và ngợc lại.
-Quy luật cạnh tranh: Tức là mỗi chủ thể khi tham gia vào thị trờng phải chấp
nhận sự tham gia và cạnh tranh của các đối thủ khác nhằm giành giật thị trờng
và doanh thu.
Nh vậy với 3 quy luật này thì nền kinh tế thị trờng có những u và nhợc
điểm:
b.Ưu điểm.
Nền kinh tế thị trờng có tính năng động và tính thích nghi cao với sự thay
đổi của môi trờng kinh doanh, ở đó tính cạnh tranh cao đòi hỏi các chủ thể cũng
phải thay đổi (về đầu t đổi mới thiết bị, về mặt hàng, về mẫu mã, và về cung
cách quản lý) do đó sản xuất phát triển. Hơn nữa, nó còn tạo điều kiện cho ngời
lao động, đơn vị kinh tế nâng cao tính tự chủ, tự lực và sáng tạo khi tham gia
vào thị trờng. Các quan hệ kinh tế mở rộng ra thị trờng thế giới tạo điều kiện
học hỏi, du nhập các nguồn lực với chất lợng cao hơn. Kinh tế thị trờng vừa là
động lực vừa là phơng tiện của sự phát triển.
c.Nh ợc điểm.
Đó là sự tự phát trong các hoạt động kinh tế, khủng hoảng, lạm phát, mất
cân đối kinh tế ngành cùng khu vực, phân hoá giầu nghèo...Không những thế nó
còn gây hậu quả về mặt xã hội nh phong tục tập quán truyền thống bởi tính thực
dụng và quá thiên về mục tiêu lợi nhuận. Cũng do những đặc điểm này mà
không thể để nền kinh tế theo hớng thị trờng quy định hoàn toàn mà phải có kế
hoạch để khắc phục nhợc điểm và phát huy những u điểm của nó.
Kế hoạch là hoạt động chủ quan, có ý thức của con ngời nhằm xác định
mục tiêu, phơng án bớc đi trình tự và cách thực hiện mục tiêu. Kế hoạch hoá là
yêu cầu của bản thân quá trình lao động của con nguời và gắn liền với quá trình
đó. Nghị quyết đại hội Đảng toàn quốc lần thứ 7&8 của Đảng đều khẳng định
mô hình kinh tế mà chúng ta đang hớng tới xây dựng không thể thiếu đợc công
tác kế hoạch.
Trong cơ chế này thì vai trò của kế hoạch hoá mới thực sự bộc lộ rõ nét.
Những kết quả đạt đợc sau 10 năm đổi mới càng khẳng định vai trò to lớn của
công tác kế hoạch trong doanh nghiệp.
Với cơ chế thị trờng, thì thị trờng với các nguyên tắc của nó sẽ trực tiếp điều
tiết mọi hoạt động của doanh nghiệp hớng dẫn doanh nghiệp trong định hớng và
thực hiện các phơng án sản xuất kinh doanh tối u để tìm giải pháp cho các vấn
đề kinh tế cơ bản của doanh nghiệp, thị trờng sẽ là cơ sở để doanh nghiệp trả lời
các câu hỏi sản xuất cho ai? Sản xuất cái gì? sản xuất nh thế nào? Nhà nớc chỉ
có vai trò điều tiết. Nhu vậy thì kế hoạch không chỉ có vai trò đối với doanh
nghiệp mà còn trong phạm vi nền kinh tế.
-Trong phạm vi nền kinh tế: Kế hoạch hoá là một trong những công cụ điều
tiết chủ yếu của Nhà nớc, giúp nhà nớc xác định chiến lợc,định hớng phát triển
chung làm cơ sở hoạch định các chính sách và giải pháp.
-Trong phạm vi doanh nghiệp, kế hoạch hoá là khâu đầu tiên, bộ phận
không thể thiếu trong công tác quản lý. Nếu không có kế hoạch thì không chỉ
doanh nghiệp mà bất kỳ một tổ chức hay cá nhân nào cũng đều bị mất phơng h-
ớng, nh đi trong rừng mà không có la bàn, không biết đi đâu và đích là đâu.
Hoạt động kế hoạch giúp doanh nghiệp chủ động trong việc huy động, khai
thác, nguồn lực một cách có hiệu quả để hoạch định và thực hiện các mục tiêu
hoạt động,dự báo các khả năng và nguồn lực, thẩm định và lựa chọn các phơng
án phù hợp.
Mặt khác, kế hoạch hoá giúp doanh nghiệp chiến thắng trong cạnh tranh
bằng các kế hoạch nhằm khai thác triệt để các lợi thế so sánh, tận dụng các lợi
thế của doanh nghiệp. Xây dựng kế hoạch cũng là cách mà các doanh nghiệp
sử dụng để hạn chế rủi ro trong kinh doanh thông qua việc xác định những vùng
tơng đối an toàn mà ở đó xác suất rủi ro thấp nhất. Các kế hoạch dự phòng cho
phép doanh nghiệp ứng phó một cách nhanh nhạy với những thay đổi của thị tr-
ờng.
Ngoài ra, kế hoạch còn thể hiện đợc tham vọng của doanh nghiệp trong t-
ơng lai nhằm đạt mục tiêu không chỉ tồn tại mà còn phát triển với tốc độ ngày
càng cao và ổn định.
1.2.3.Tầm quan trọng của việc xây dựng kế hoạch .
Trong thời gian trớc đây, nớc ta thực hiện xây dựng chủ nghĩa xã hội theo
cơ chế kế hoạch hoá tập trung mà cơ chế này chỉ phù hợp khi đất nớc có chiến
tranh,khi hết chiến tranh phải thay đổi nhng chúng ta vẫn giữ nguyên dẫn đến
nền kinh tế bị suy sụp nghiêm trọng tiêu cực xã hội xẩy ra. Nguyên nhân là do
kế hoạch tập trung cao độ từ một trung tâm là nhà nớc, doanh nghiệp thực hiện
chỉ tiêu pháp lệnh do nhà nớc giao một cách chặt chẽ, cứng nhắc và không chú
ý đến hiệu quả sản xuất kinh doanh, tính thiếu sáng tạo trong sản xuất kinh
doanh dẫn đến nền kinh tế bị trì trệ kéo dài. Nhận thức đợc điều này Đại hội VI
của đảng đã đề ra đờng lối đổi mới quản lý kinh tế theo hớng: "Kiên quyết xoá
bỏ tập trung quan liêu bao cấp thiết lập và hình thành đồng bộ cơ chế kế hoạch
hoá theo hớng hạch toán kinh doanh xã hội chủ nghĩa, theo đúng nguyên tắc tập
trung dân chủ.
Trong giai đoạn đầu thực hiện cơ chế mới ngời ta tởng rằng lúc này hoàn
toàn không cần kế hoạch mà do thị trờng điều tiết hoàn toàn, cơ chế mới không
có chỗ đứng cho kế hoạch, thực tế, công tác kế hoạch ở nớc ta trong những
năm trớc đây bị coi nhẹ, doanh nghiệp bị cuốn hút và trôi nổi theo thị trờng, kế
hoạch không những không phát huy đợc tác dụng là điều tiết thị trờng mà còn
gây ra sự gò bó, cứng nhắc, thiếu linh hoạt trong quản lý. Biểu hiện cụ thể là
những cơn sốt về xi măng, sắt thép,nhà...sự phát triển mất cân đối giữa các
ngành công-nông-dịch vụ,giữa các vùng nông thôn-thành thị làm cho lợng lao
động di chuyển về thành phố lớn làm ăn một cách ồ ạt sinh nhiều tệ nạn xã hội.
Nền kinh tế Việt Nam thực sự bị chao đảo trớc cơn lốc thị trờng.
Mặt khác, kinh nghiệm ở các nớc có nền kinh tế thị trờng phát triển cho
thấy họ luôn quan tâm đến công tác kế hoạch hoá cấp công ty. Họ đánh giá
đúng vai trò, vị trí, chức năng,tổ chức nghiên cứu thực thi nhiều giải pháp nhằm
hoàn thiện công tác này. Nhà kinh tế học ngời Anh Roney cho rằng hoạt động
kế hoạch hoá công ty là thực sự cần thiết nhằm hai mục đích: tấn công(tận dụng
các cơ hội để tăng khả năng thành công của doanh nghiệp) và dự phòng(tránh
rủi ro cạm bẫy của thị trờng). Các nhà kinh tế và các chuyên gia khác cũng
khẳng định chức năng kế hoạch là chức năng đầu tiên trong chu trình quản lý
cấp công ty. Thực tế đã cho thấy sự thành công ở các nớc nh Nhật, Đức ... phải
kể đến sự đóng góp của công tác kế hoạch từ trung ơng đến địa phơng, từ bộ
ngành tới các doanh nghiệp kế hoạch chiến lợc,kế hoạch tác nghiệp luôn đợc
tiến hành và hoàn thiện hơn.
Nh vậy, trong điều kiện Việt Nam công tác kế hoạch sẽ luôn tồn tại và đợc
cải tiến cho phù hợp với từng giai đoạn, từng điều kiện hoàn cảnh, với từng cấp
để phát triển kinh tế.
Nớc ta trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội theo cơ chế thị trờng có sự
quản lý của nhà nớc, công tác kế hoạch đã và đang đặt ra rất nhiều vấn đề cần
phải nghiên cứu cả về mặt lý luận cũng nh thực tiễn nhằm khắc phục những tồn
tại trong thời gian qua. Trong lĩnh vực này đã tồn tại những ý kiến trái ngợc
nhau về vai trò và sự tồn tại khách quan của nó. Nhng từ lý luận và thực tiễn
đều chứng minh rằng : công tác kế hoạch là công tác không thể thiếu đợc trong
bất cứ hoạt động nào, sự tồn tại của nó là tất yếu khách quan.
+ứng phó với sự bất định và sự thay đổi của cơ chế thị trờng.
Sự bất định và thay đổi làm cho việc lập kế hoạch trở thành tất yếu để ứng
phó với sự thay đổi của cơ chế thị trờng. Giống nh nhà hàng hải không thể chỉ
lập trình một lần rồi quên nó, một ngời quản lý kinh doanh không thể lập một
kế hoạch và dừng lại ở đó. Tơng lai rất ít khi chắc chắn, và tơng lai càng dài thì
các kết quả của quyết định mà ta cần phải xem xét, sẽ càng kém chắc chắn
.Thậm chí khi tơng lai có độ chắc chắn cao thì một số kế hoạch vẫn cần thiết.
Thứ nhất là, các nhà quản lý vẫn tìm cách tốt nhất để đạt đợc mục tiêu. Thứ hai
là sau khi tiến trình đợc xác định cấn phải đa ra các kế hoạch để sao cho mỗi bộ
phận của tổ chức cần phải đóng góp nh thế nào vào công việc phải làm.
+Tập trung sự chú ý của tổ chức vào các mục tiêu.
Do toàn bộ công việc lập kế hoạch là nhằm đạt đợc các mục tiêu của cơ sở
cho nên chính hoạt động lập kế hoạch tập trung sự chú ý vào các mục tiêu này.
Những kế hoạch đợc xem xét là đủ toàn diện sẽ thống nhất đợc những hoạt
động tơng tác giữa các bộ phận nhằm thực hiện những mục tiêu của tổ chức.
+Tạo khả năng tác nghiệp kinh tế.
Việc lập kế hoạch sẽ cực tiểu hoá chi phí vì nó chú trọng vào các hoạt động
hiệu quả và sự phù hợp. Kế hoạch thay thế những hoạt động manh mún, không
có định hớng chung, thay thế luồng hoạt động thất thờng bởi một luồng đều
đặn, và thay thế những phán xét vội vàng bằng những quyết định có tính cân
nhắc kĩ lỡng, giúp cho tổ chức chủ động trong việc khai thác có hiệu quả các
nguồn lực sản xuất.
+Làm đơn giản hoá việc kiểm tra.
Ngời quản lý không thể kiểm tra công việc của các cấp dới nếu không có đ-
ợc mục tiêu đã định để đo lờng. Nh một ngời lãnh đạo cấp cao đã từng nói. "Khi
tôi rời khỏi văn phòng lúc năm giờ chiều, tôi không còn quan tâm tới những
việc xẩy ra trong ngày hôm đó,tôi chẳng thể làm gì đợc nữa, tôi sẽ chỉ xem xét
những việc có thể xẩy ra vào ngày mai hoặc ngày kia hoặc vào năm tới, bởi vì
tôi còn có thể làm đợc một điều gì đó về những vấn đề này". Ta có thể thấy điều
quan trọng trong kiểm tra có hiệu quả là sự kiểm tra hớng tới tơng lai.
1.2.4.Những sai lầm có thể gặp phải trong công tác xây dựng kế hoạch
-Các phơng án và quyết định kế hoạch thờng dựa trên cơ sở kết quả dự báo, dự
đoán, do đó kế hoạch hoá có thể gặp sai lầm do các hiện tợng, quá trình dự tính
có thể thay đổi trớc biến động của môi trờng (suy thoái kinh tế, công nghệ
mới ...) do đó làm sai kế hoạch ban đầu.
Một nhà kinh tế học ngời Đức đã nói: "Một kế hoạch tốt nhất là không có
kế hoạch. ý muốn nói không có một kế hoạch cứng nhắc nào cả mà nó phải
luôn luôn đợc điều chỉnh thay đổi phù hợp với sự thay đổi của môi trờng kinh
doanh. Chính vì vậy, ngay cả khi kế hoạch đã đợc xây dựng xong thì công tác
kế hoạch hoá vẫn cha đợc chấm dứt. Tóm lại, ngời lập kế hoạch phải thờng
xuyên theo dõi và điều chỉnh cho phù hợp với thực tế khách quan.
-Kế hoạch hoá là một quá trình dài và những khoản chi phí lớn.Nó đòi
hỏi sự nỗ lực và phối hợp của nhiều nguời và những khoản chi phí lớn. Mọi sự
điều chỉnh kế hoạch đều gây hậu quả về nhiều mặt vì vậy đều khó thực hiện.Có
thể nói kế hoạch là cứng nhắc và thiếu linh hoạt.
-Sự gò bó của các thủ tục hành chính, sự thiếu đồng bộ của môi trờng pháp lý
cũng làm sai lệch kết quả thực hiện và cản trở các hoạt động khác nhau của kế
hoạch hoá.
2. Phân loại kế hoạch cấp doanh nghiệp
2.1.Căn cứ vào tiêu thức thời gian hệ thống kế hoạch của doanh nghiệp bao
gồm:
2.1.1. Chiến lợc kinh doanh
Nhằm xác định các lĩnh vực hoạt động mà tổ chức sẽ tham gia, xác định
các mục tiêu chính sách giải pháp dài hạn( thờng là 4-5 năm ) về tài chính, đầu
t, nghiên cứu phát triển, con ngời... do cấp quản lý cấp cao lập, mang tính tập
trung cao và linh hoạt.
2.1.2. Kế hoạch trung hạn:
Phác thảo các chơng trình trung hạn để hiện thực hoá các lĩnh vực các
mục tiêu, chính sách, giải pháp đợc hoạch định trong chiến lợc đã chọn. Loại
này đợc lập bởi các chuyên gia quản lý cấp cao và chuyên gia quản lý điều
hành. Loại này ít tập trung và ít uyển chuyển hơn kế hoạch dài hạn. Thời gian
kế hoạch thờng kéo dài từ 3 - 5 năm.
2.1.3.Kế hoạch hàng năm:
Tuỳ theo cách thức tiếp cận của kế hoạch chiến lợc và trung hạn, cách cụ
thể hoá nhiệm vụ sản xuất kinh doanh hằng năm có thể đợc xác định theo chơng
trình hoặc phơng án kế hoạch năm. Kế hoạch năm là sự cụ thể hoá nhiệm vụ
sản xuất kinh doanh căn cứ vào định hớng mục tiêu chiến lợc và kế hoạch trung
hạn, kết quả nghiên cứu điều chỉnh các căn cứ xây dựng kế hoạch phù hợp với
điều kiện của năm kế hoạch. Là kết quả hoạch định của các chuyên gia quản lý
điều hành và chuyên gia quản lý thực hiện.
2.1.4. Kế hoạch tác nghiệp và các dự án:
Để triển khai các mục tiêu và thực hiện các hoạt động trong tổ chức.
2.2. Căn cứ vào mối quan hệ gắn bó giữa các loại kế hoạch hoá trong phạm
vi tổ chức.
2.2.1.Bộ phận kế hoạch mục tiêu:
Đây là một bộ phận kế hoạch quan trọng nhất của tổ chức, nhằm hoạch
định các mục tiêu, chính sách và các giải pháp về sản phẩm, thị trờng, qui mô
và cơ cấu hoạt động của tổ chức. Nó cũng xác định các chỉ tiêu về tài chính cơ
bản nhằm xác định hiệu quả hoạt động gắn với từng phơng án đợc hoạch định.
2.2.2. Các kế hoạch điều kiện hay hỗ trợ: ( Về lao động tiền lơng vật t
thiết bị, vốn...).
Nhằm xác định các mục tiêu, giải pháp, phơng án huy động, khai thác
các khả năng và nguồn lực nhằm thực hiện có hiệu quả các phơng án kế hoạch
mục tiêu. Kế hoạch điều kiện đợc căn cứ và gắn bó với kế hoạch hoá mục tiêu.
việc xác định các kế hoạch này nhăm đảm bảo tính đồng bộ trong mục tiêu, giải
pháp và điều kiện thực hiện các hoạt động kế hoạch và quản lý. Độ dài của thời
gian và yêu cầu của kế hoạch mục tiêu sẽ quyết định các vấn đề tơng ứng của
kế hoạch điều kiện. Cuối cùng đợc xây dựng và thực hiên các kế hoạch điều
kiện là nhằm đảm bảo và nâng cao tính khả thi của các phơng án và chơng trình
kế hoạch của tổ chức.
Hình 1: Sơ đồ hệ thống kế hoạch của doanh nghiệp:
Các sứ mệnh và mục tiêu của doanh nghiệp
Chiến lược kinh doanh
Kế hoạch trung hạn
Kế hoạch năm
KH SX-TT KH TC-TD
VT-KT
LĐ-TL
KH-KT
ĐTXD
CB
GTSP ĐS
Kế Hoạch tác nghiệp
(quý tháng)
Nguồn: Phòng tổ chức nhân sự
Hệ thống kế hoạch của doanh nghiệp
Trong hệ thống kế hoạch hoá của doanh nghiệp thì kế hoạch hàng năm giữ
một vị trí vai trò đặc biệt quan trọng.Nó là sự cụ thể hoá nhiệm vụ sản xuất kinh
doanh có căn cứ vào định hớng mục tiêu chiến lợc. Bên cạnh đó các bộ phận kế
hoạch cũng có mối quan hệ khăng khít, ràng buộc với nhau, trong đó kế hoạch
sản xuất - tiêu thụ là một trong những bộ phận trung tâm của kế hoạch năm,nó
thuộc loại kế hoạch mục tiêu. Các bộ phận kế hoạch khác nh vật t kĩ thuật, lao
động tiền lơng, nghiên cứu và ứng dụng khoa học kĩ thuật , giá thành sản
phẩm...là những kế hoạch điều kiện.
II. phơng pháp luận về xây dựng kế hoạch kinh doanh của
doanh nghiệp.
1. Những yêu cầu và các nhân tố ảnh hởng đến công tác xây dựng kế hoạch
kinh doanh của doanh nghiệp.
1.1. Những yêu cầu đối với công tác xây dựng kế hoạch kinh doanh của
doanh nghiệp.
Thứ nhất :Công tác xây dựng kế hoạch sản xuất kinh doanh cần quán triệt
yêu cầu hiệu quả. Doanh nghiệp hoạt động trong nền kinh tế thị trờng thì hiệu
quả kinh doanh phải là tiêu chuẩn hàng đầu cho việc xây dựng , lựa chọn và
quyết định phơng thức kinh doanh. Loại trừ một số doanh nghiệp hoạt động
công ích (phải đề cao hiệu quả kinh tế - xã hội) thì phần lớn các doanh nghiệp
còn lại tiêu chuẩn hiệu quả là hiệu quả kinh tế mà biểu hiện rõ nhất là chỉ tiêu
lợi nhuận. Tuy nhiên cũng cần lu ý, lợi nhuận trong xây dựng lựa chọn phơng
án sản xuất kinh doanh là "lợi nhuận kinh tế tức là lợi nhuận dựa trên tính toán
chi phí cơ hội của phơng pháp lựa chọn , không chỉ đơn thuần là lợi nhuận kế
toán. Mặt khác mục tiêu lợi nhuận còn đợc phân biệt theo thời gian.
Quán triệt yêu cầu này đòi hỏi:
+Xây dựng kế hoạch theo phơng thức hạch toán kinh doanh đảm bảo
nguyên tắc lấy thu, bù chi, kinh doanh có lãi.
+Đặt nền tảng hoạt động của doanh nghiệp trên nguyên tắc kinh doanh
đích thực, mọi sự trợ giá, hỗ trợ, (nếu thấy thực sự cần thiết) nên thực hiện bên
ngoài hoạt động sản xuất kinh doanh.
+Lấy nhu cầu thị trờng và các tiềm năng của doanh nghiệp là những căn
cứ hàng đầu trong quá trình xây dựngvà điều chỉnh kế hoạch sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp.
Thứ hai:Công tác xây dựng kế hoạch phải quán triệt yêu cầu đồng bộ hệ
thống. Doanh nghiệp là một phân hệ trong hệ thống thống nhất là nền kinh tế
quốc dân. Điều đó đòi hỏi các khâu trong quá trình kế hoạch hoá phải đảm bảo
cho mục tiêu hoạt động của doanh nghiệp (phân hệ) và góp phần thúc đẩy việc
thực hiện mục tiêu bao trùm của cả hệ thống. Đồng thời bộ phận kế hoạch sản
xuất kinh doanh cũng phải đồng bộ, ăn khớp với các bộ phận kế hoạch khác của
doanh nghiệp.
Quán triệt yêu cầu này đòi hỏi:
+Đổi mới công tác xây dựng kế hoạch của doanh nghiệp phải gắn liền với đổi
mới cơ chế quản lý và kế hoạch hoá nền kinh tế quốc dân.
+Chuyển hệ thống kế hoạch hoá năm của doanh nghiệp từ chỗ là tổng hợp các
chỉ tiêu đợc tính toán rời rạc (lắp ghép cơ học) sang xác định các phơng án kế
hoạch theo phơng pháp đồng bộ có mục tiêu. Khi xây dựng kế hoạch sản xuất
kinh doanh của doanh nghiệp cũng nh điều chỉnh kế hoạch này phải gắn bó chặt
chẽ với các kế hoạch mục tiêu và hỗ trợ khác.
Thứ ba:Công tác xây dựng kế hoạch sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
phải quán triệt yêu cầu "vừa tham vọng, vừa khả thi. Kinh doanh trong nền
kinh tế thị trờng với mục tiêu là lợi nhuận đòi hỏi các doanh nghiệp phải xây
dựng và thực hiện kế hoạch đầy tham vọng. Mặt khác, kế hoạch sản xuất kinh
doanh khả thi lại là vấn đề nguyên tắc và là điều kiện kiên quyết để các ý đồ
kinh doanh đợc thực hiện.
Quán triệt yêu cầu này đòi hỏi:
+Khi hoạch định kế hoạch phải điều tra nghiên cứu nhu cầu thị trờng, môi trờng
kinh doanh nhằm nắm chắc cơ hội , tránh các sự rủi ro, cạm bẫy của thị trờng.
+Kế hoạch đầy tham vọng phải đợc hoạch định trên cơ sở khai thác các khả
năng và nguồn lực bên trong và bên ngoài của doanh nghiệp có tính đến sự thay
đổi của chúng dới tác động của tiến bộ khoa học công nghệ.
Thứ t: Công tác xây dựng kế hoạch sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
phải quán triệt yêu cầu kết hợp các mục tiêu chiến lợc với các mục tiêu tình
thế. Nói cách khác hệ thống mục tiêu kế hoạch phải đợc hoạch định và điều
chỉnh linh hoạt theo yêu cầu thay đổi của môi trờng và điều kiện kinh doanh.
Quán triệt yêu cầu này đòi hỏi:
+Thực hiện phơng châm lợi dụng mọi cơ hội kinh doanh, lấy ngắn nuôi dài, coi
lợi ích trớc mắt là phơng tiện để đạt lợi ích cơ bản cao hơn trong tơng lai.
+Phơng án sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp phải hoạch định theo hớng
kết hợp chuyên môn hoá với kinh doanh tổng hợp. Mỗi doanh nghiệp vừa phải
xác định hớng đi cơ bản, ổn định của mình, vừa phải đáp ứng nhu cầu muôn
hình, muôn vẻ của thị trờng.
+Xác định phơng hớng, bớc đi và giải pháp trong hình thành cơ cấu lao động tối
u, đổi mới kỹ thuật công nghệ.
Thứ năm:Công tác xây dựng kế hoạch sản xuất kinh doanh phải quán triệt
yêu cầu kết hợp đúng đắn các loại lợi ích kinh tế trong doanh nghiệp. Điều đó
sẽ tạo ra động lực phát triển, là cơ sở bảo đảm thực hiện có hiệu quả các phơng
án sản xuất kinh doanh.
Yêu cầu này đòi hỏi:
+Hoạch định lựa chọn và điều chỉnh các phơng án kinh doanh phải quán triệt
yêu cầu toàn diện và hệ thống. Cân đối giữa lợi ích cục bộ và lợi ích của nền
kinh tế quốc dân.
+Xử lý các quan hệ tài chính giữa Nhà nớc với doanh nghiệp và với các phơng
án phân phối trong nội bộ doanh nghiệp.
+Trong giải quyết các mối quan hệ hợp tác liên doanh và liên kết kinh tế phải
trên nguyên tắc:Bình đẳng,tôn trọng lẫn nhau, và cùng có lợi.
1.2 Các nhân tố ảnh hởng đến công tác xây dựng kế hoạch kinh doanh của
doanh nghiệp.
1.2.1 Tính không chắc chắn của môi trờng kinh doanh.
Xây dựng kế hoạch là quá trình chuẩn bị để đối phó với sự thay đổi và tính
không chắc chắn của môi trờng kinh doanh mà chủ yếu là các nhân tố trong
môi trờng nền kinh tế và môi trờng ngành. Tuy nhiên, vấn đề quan trọng là phải
tính toán, phán đoán đợc sự tác động của môi trờng kinh doanh.
Sự không chắc chắn của môi trờng kinh doanh đợc thể hiện dới 3 hình thức:
+ Tình trạng không chắc chắn: xẩy ra khi toàn bộ hay một phần môi trờng
đợc coi là không thể tiên đoán đợc.
+ Hậu quả không chắc chắn là trờng hợp mặc dù đã cố gắng nhng nhà quản
lý không thể tiên đoán đợc những hậu quả của sự kiện hay sự thay đổi của môi
trờng đối với các doanh nghiệp, do đó dẫn đến sự không chắc chăn.
+ Sự phản ứng không chắc chắn:là tình trạng không thể tiên đoán đợc những
hệ quả của một quyết định cụ thể hay sự phản ứng của tổ chức đối với những
biến động của môi trờng.
Nhìn chung công việc của ngời xây dựng kế hoạch là phải đánh giá tính
chất và mức độ không chắc chắn của môi trờng để xác định cách thức phản ứng
của tổ chức và triển khai các kế hoạch thích hợp , ở những lĩnh vực có mức độ
không chắc chắn thì việc xây dựng kế hoạch là không mấy phức tạp, nhng
những lĩnh vực có mức độ không chắc chắn cao đòi hỏi kế hoạch phải đợc xác
định rất linh hoạt.
1.2.2 Sự hạn chế của các nguồn lực:
Khi lập kế hoạch doanh nghiệp đã gặp một trở ngại lớn là sự hạn chế của
các nguồn lực. Thực tiễn cho thấy sự khan hiếm của các nguồn lực là bài toán
làm đau đầu các nhà kế hoạch khi lập kế hoạch. Chính điều này nhiều khi làm
giảm mức tối u của phơng án kế hoạch đợc lựa chọn.
Trớc hết cần nói đến nguồn nhân lực, đây vốn đợc coi là một trong những
thế mạnh của Việt Nam nhng thực tế ở các doanh nghiệp còn rất nan giải. Lực
lợng lao động thừa về số lợng nhng lại yếu về chất lợng. Số lợng lao động có
trình độ quản lý, tay nghề cao vẫn thiếu, lực lợng lao động trẻ vẫn còn phải đào
tạo nhiều.
Tiếp đến cần phải kể đến sự hạn hẹp về tài chính. Tiềm lực tài chính yếu sẽ
cản trở sự triển khai các kế hoạch, hơn nữa nó cũng giới hạn việc lựa chọn
những phơng án tối u.
Cơ sở vật chất kỹ thuật nói chung của doanh nghiệp cũng là nguồn lực hạn
chế. Đó là khả năng hạn chế về máy móc thiết bị, công nghệ, nhà xởng kho
tàng...Thực tiễn ở các doanh nghiệp ở nớc ta hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật
còn rất yếu và thiếu. Điều đó đã cản trở việc xây dựng và lựa chọn những kế
hoạch sản xuất tối u nhất...
1.2.3 Hệ thống mục tiêu của doanh nghiệp
Mục tiêu đợc hiểu theo sự cam kết cụ thể đối với thực hiện một kết quả có
thể đo lờng trong khoảng thời gian đã định. Các mục tiêu đợc xác định càng cụ
thể càng tốt trên phơng diện: số lợng, các điều kiện cụ thể hay những dữ liệu có
thể đo lờng đợc và đợc thể hiện trong những khoảng thời gian nhất định. Dới
đây là 3 câu hỏi để kiểm tra và điều chỉnh một mục tiêu:
+Mục tiêu đã đề cập đến kết quả hoàn thành nh thế nào?
+Mục tiêu này xác định khi nào thì kết quả chờ đợi đợc hoàn thành?
+Có thể đo lờng đợc kết quả chờ đợi không?
Mục tiêu hữu ích của doanh nghiệp phải thoả mãn cả 3 câu hỏi này, nếu
mục tiêu không thoả mãn bất kỳ câu hỏi nào cũng gây khó khăn cho quá trình
lập kế hoạch.
1.2.4 Quá trình tổ chức thông tin, thống kê, kế toán.
Nhà kinh tế học ngời Anh Roney cho rằng:muốn chiến thắng trong cạnh
tranh một mặt công ty hoạt động trong nền kinh tế thị trờng trớc hết phải nắm
đợc thông tin, tiếp đó phải xây dựng cho mình các chiến lợc và kế hoạch đầy
tham vọng.
Trong quá trình xây dựng kế hoạch sản xuất kinh doanh thông tin sẽ giúp ta
đánh giá so sánh và lựa chọn phơng án...Thông tin giúp bộ phận lãnh đạo của
doanh nghiệp có đợc các quyết định đúng đắn, kịp thời.
Thống kê và kế toán là hai công cụ đặc biệt có ý nghĩa đối với công tác
quản lý nói chung và công tác xây dựng kế hoạch sản xuất kinh doanh nói
riêng. Tổ chức thống kê, kế toán đầy đủ, chính xác, kịp thời, sẽ đảm bảo cho
doanh nghiệp thực sự đi vào cơ chế hoạch toán, xây dựng có hiệu quả giúp cho
bộ phận kế hoạch lựa chọn, xây dựng những phơng án sản xuất tối u nhất. Tuy
nhiên ở nớc ta các doanh nghiệp cha thực sự chú ý đúng mức công tác thống kê.
1.2.5 Cơ chế quản lý kinh tế và kế hoạch hoá của Nhà nớc.
Đây là nhóm nhân tố có ảnh hởng sâu sắc đến công tác xây dựng kế hoạch
sản xuất kinh doanh. Một cơ chế quản lý phù hợp sẽ thúc đẩy hoạt động kế
hoạch sản xuất phát triển, ngợc lại nó sẽ kìm hãm sự phát triển của doanh
nghiệp.Thực tế trong những năm chuyển đổi cơ chế quản lý cho thấy càng đi
sâu vào cơ chế thị trờng càng phát sinh nhiều vấn đề mới cần tiếp tục nghiên
cứu giải quyết để hoàn thiện cơ chế quản lý và kế hoạch của nhà nớc. Nhà nớc
cần tiếp tục giải quyết các tồn đọng ,vớng mắc trong những năm chuyển đổi để
thực sự tạo quyền tự chủ cho doanh nghiệp song vẫn đảm bảo yêu cầu quản lý
tập trung thống nhất của nhà nớc.
2. Các căn cứ xây dựng kế hoạch kinh doanh.
Việc xác định các căn cứ vững chắc để xây dựng kế hoạch là việc làm rất
quan trọng và cần thiết nhằm đảm bảo cho kế hoạch của doanh nghiệp đợc
hoạch định khả thi và đạt hiệu qủa cao.
Các căn cứ chủ yếu khi xây dựng kế hoạch sản xuất kinh doanh gồm:
2.1. Căn cứ vào chủ trơng, đờng lối phát triển của Tổng công ty:
Trong công tác hoạch định về nguyên tắc doanh nghiệp đợc quyền tự chủ.
Song Tổng công ty là đơn vị chủ quản mang lại quyền lợi và đặt ra nhng yêu
cầu với công ty. Trên cơ sở số vốn đợc tổng công ty cấp để công ty hoạt động
sản xuất kinh doanh thì công ty phải thực hiện sự chỉ đạo của Tổng công ty để
thực hiện mục tiêu định hớng của Tổng công ty .
2.2. Căn cứ vào kết quả điều tra nghiên cứu nhu cầu thị trờng.
Yêu cầu của công tác hoạch định là phải xác định đợc quy mô, cơ cấu nhu
cầu đối với từng sản phẩm và dịch vụ của doanh nghiệp, có tính đến sự tác động
của các nhân tố làm tăng hoặc giảm nhu cầu. Kết quả nghiên cứu nhu cầu có
thể tập hợp theo các mức giá để định hớng mục tiêu kinh doanh phù hợp với sự
phân đoạn của doanh nghiệp đảm bảo sự gắn bó giữa sản xuất với các yếu tố hỗ
trợ.
Đối với doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ thì thị trờng cũng lại rất đặc biệt
cũng nh đặc trng về sản phẩm của nó. Do đó, việc nghiên cứu nhu cầu thị trờng
là rất quan trọng trong công tác xây dựng kế hoạch hàng năm của công ty.
2.3.Căn cứ vào kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh trong năm của công
ty.
Một bản kế hoạch muốn có tính khả thi cao thì cần phải dựa vào kết quả
hoạt động sản xuất kinh doanh trong thời kỳ đã qua và dự báo khả năng trong t-
ơng lai và tơng ứng với những nguồn lực hiện có của Công ty. Trọng tâm nghiên
cứu cần tập trung vào các chỉ tiêu chất lợng của hoạt động sản xuất kinh doanh,
điển hình là các mặt sau:
+ Khả năng hiện có của doanh nghiệp về trang thiết bị, máy móc, con ngời.
Với máy móc cần phân tích số lợng năng suất và hệ số sử dụng, nắm vững số l-
ợng, chất lợng lao động hiện có của Công ty nhằm có kế hoạch phù hợp.
+ Khả năng kinh doanh có thể đợc hình thành thông qua áp dụng các biện
pháp khai thác các tiềm năng của doanh nghiệp hoặc đi thuê liên doanh liên
kết.
+ Khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp về vị trí uy tín sản phẩm , công
nghệ, vốn, kinh nghiệm quản lý... nó cho biết mặt mạnh và yếu của doanh
nghiệp
2.4.Căn cứ vào nguồn lực của công ty và tinh thần làm việc của cán bộ công
nhân viên trong toàn công ty .
Nguồn lực của công ty tạo cho công ty thế và lực để có những hợp đồng
trên thị trờng qua đó hoàn thành đợc nhiệm vụ mà công ty đề ra. Kết hợp với
nguồn lực phải có tinh thần làm việc của cán bộ công nhân viên có tinh thần
trách nhiệm cao với công việc hoàn thành dợc công việc đặt ra trong tuần trong
tháng để hoàn thành kế hoạch trong năm.
3. Các phơng pháp lập kế hoạch.
Trong thức tế các doanh nghiệp có thể sử dụng nhiều phơng pháp hoạch
đinh. Tuỳ thuộc vào mục đích, yêu cầu mà các doanh nghiệp áp dụng các phơng
pháp khác nhau. ở Việt Nam hiện nay các doanh nghiệp chủ yếu vẫn sử dụng
phơng pháp cân đối trong việc xây dựng kế hoạch.
3.1. Phơng pháp cân đối: gồm các bớc sau:
B ớc 1: Xác định khả năng (bao gồm khả năng sẵn có và chắc chắn có) của
doanh nghiệp và yếu tố sản xuất.
B ớc2: Cân đối giữa nhu cầu và khả năng về các yếu tố sản xuất
Trong cơ chế thị trờng, phơng pháp cân đối đợc xác định với những yêu cầu
sau:
-Cân đối đợc thực hiện là cân đối động. Cân đối để lựa chọn phơng án chứ
không phải cân đối theo phơng án đã đợc chỉ định. Các yếu tố của cân đối đều
là những yếu tố biến đổi theo môi trờng kinh doanh, đó là nhu cầu thị trờng và
khả năng có thể khai thác của doanh nghiệp trong kỳ kế hoạch.
-Thực hiện cân đối liên hoàn, tức là tiến hành nhiều cân đối kế tiếp nhau để bổ
sung và điều chỉnh phơng án cho phù hợp với thay đổi của môi trờng.
-Thực hiện cân đối trong những yếu tố trớc khi tiến hành cân đối tổng thể các
yếu tố. Kết quả cân đối tổng hợp phải là căn cứ xác định năng lực sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp và là cơ sở để xác định hoặc điều chỉnh phơng án kinh
doanh của doanh nghiệp.
3.2 Phơng pháp tỷ lệ cố định.
Nội dung của phơng pháp này là tính toán một số chỉ tiêu của năm kế hoạch
theo tỷ lệ đã đợc xác định trong năm báo cáo trớc đó. Có nghĩa là coi tình hình
của năm kinh doanh giống nh tình hình của năm báo cáo đối với một số chỉ tiêu
nào đó.
Phơng pháp này cho thấy kết quả nhanh nhng thiếu chính xác nên chỉ sử
dụng trong trờng hợp không đòi hỏi độ chính xác cao và thời gian không cho
phép dài.
3.3. Phơng pháp phân tích chu kỳ sống của sản phẩm
Chu kỳ sống của sản phẩm (vòng đời của sản phẩm) là khoảng thời gian từ
khi nó đợc đa ra thị trờng cho đến khi nó không còn tồn tại trên thị trờng. Trừ
một số sản phẩm hàng hoá thiết yếu phục vụ đời sống hàng ngày, hàng hoá có
tính chất thời trang, mau hỏng hoặc sản phẩm có tính thời vụ...Còn lại , nói
chung chu kỳ sống của sản phẩm đợc đặc trng bởi 4 giai đoạn chủ yếu (4 pha):
triển khai (thâm nhập), tăng trởng, bão hoà và suy thoái. Tơng ứng với mỗi giai
đoạn là các vấn đề và cơ hội kinh doanh. Doanh nghiệp cần nhận biết đặc điểm
của từng giai đoạn để quyết định khối lợng sản xuất, vì mỗi giai đoạn của chu
kỳ sống có mức độ tiêu thụ trên thị trờng khác nhau.
3.4 Phơng pháp đờng cong kinh nghiệm.
Thực chất của phơng pháp này là phân tích đối thủ cạnh tranh trong vùng ngành
nghề trên cơ sở mối quan hệ giữa việc giảm chi phí trên một đơn vị sản phẩm và
việc tăng số lợng sản phẩm, từ đó tiến hành lập kế hoạch
Hình 2: Trình tự các bớc xây dựng kế hoạch.
B ớc 1 : Nhận thức cơ hội kinh doanh
Đây là điểm bắt đầu của việc lập kế hoạch. Trong bớc này doanh nghiệp
phải thực hiện một loạt các phân tích và dự báo nhận biết các cơ hội dựa trên sự
Nhận thức cơ hội
Kinh doanh
Xác định mục tiêu
Kinh doanh
Xem xét các tiền
đề
Hoạch định các
phương án
Đánh giá so sánh
các phương án
Lựa chọn phương
án
Lập các kế hoạch
bổ trợ
Lượng hoá các
phương án
hiểu biết và thông tin trên thị trờng cạnh tranh, quy mô, cơ cấu của nhu cầu,
điểm mạnh, điểm yếu, cùng với khả năng và nguồn lực của doanh nghiệp.
B ớc 2: Xác định các mục tiêu tổng quát của hoạt động kinh doanh
Đó là các mục tiêu về sản lợng, doanh thu, giảm chi phí sant xuất, tăng lợi
nhuận, nâng cao chất lợng sản phẩm, cải tiến quy trình sản xuất.
B ớc 3: Soát xét các tiền đề, căn cứ.
Đây là bớc quan trọng, nó liên quan trực tiếp đến kết quả phân tíchvà dự
báo về môi trơng, điều kiện kinh doanh và nội bộ doanh nghiệp. Các tiền đề căn
cứ cần đợc giới hạn theo các giả thiết có tính chiến lợc hoặc cấp thiết.
B ớc 4: Hoạch định các phơng án kinh doanh
Có nhiều cách khác nhau để đạt các mục tiêu và ứng dụng với nó lại có
nhiều phơng án khác nhau. Do vậy yêu cầu cơ bản của bớc này không phải là
tìm ra tất cẩ các phơng án mà là việc giảm bớt các phơng án cần lựa chọn để sao
cho chỉ có những phơng án có nhiều triển vọng nhất đợc đa ra phân tích với các
điểm mạnh, điểm yếu đã đợc xác định.
B ớc 5: Đánh giá, so sánh các phơng án
Thực chất là định hớng các phơng án dới ánh sáng của các tiền đề căn cứ và
mục tiêu, từ đó tiến hành so sánh đối chiếu chúng với nhau dựa trên các tiêu
thức và hiệu quả, chi phí, tính khả thi...
B ớc 6: Lựa chọn phơng án
Đó là thời điểm phơng án kế hoạch đợc chấp nhận dựa trên các kết quả
đánh giá. Trong thực tế doanh nghiệp có thể lựa chọn một phơng án tối u và
một hoặc nhiều phơng án dự phòng.
B ớc 7: Xây dựng các phơng án kế hoạch hỗ trợ
Các phơng án này đợc xác định dựa trên phơng án kinh doanh đã xác định
trong dài hạn đó là việc xác lập các chính sách, các biện pháp chiến lợc. Còn
trong ngắn hạn là việc xác định về vốn và lao động ...Nhằm thực thi có hiệu quả
phơng án kinh doanh.
B ớc 8: Lợng hoá các phơng án kinh doanh thông qua việc lập ngân quỹ.
Ngân quỹ chung của doanh nghiệp biểu hiện toàn bộ thu nhập và chi phí với
lợi nhuận hoặc số d tổng hợp...Chẳng hạn: chi phí tác nghiệp cần thiết cho kế
hoạch sản xuất, chi phí máy móc, thiết bị, vật t lao động...
chơng 2
Phân tích thực trạng xây dung và thực hiện
kế hoạch kinh doanh ở công ty
dịch vụ kĩ thuật dầu khí giai đoạn 2000-2003
I. Giới thiệu về công ty.
1 Quá trình hình thành và phát triển.
Trớc năm 1975, Liên đoàn Địa chất 36 là đơn vị trực thuộc Tổng Cục Địa
chất, có nhiệm vụ tổ chức triển khai việc tìm kiếm, thăm dò dầu khí tại Đồng
bằng Bắc bộ và vịnh Bắc bộ thuộc Miền Bắc Việt Nam với sự giúp đỡ của các
chuyên gia Liên Xô, Trung Quốc, Tiệp Khắc,... Việc tìm kiếm, thăm dò dầu khí
chủ yếu dùng các phơng pháp Địa chấn, Điện, Trọng lực và khoan nhằm xác
định các cấu tạo địa chất có triển vọng chứa dầu khí.
Từ năm 1975 đến nay, nhằm thống nhất quản lý và điều hành công tác tìm
kiếm, thăm dò và khai thác dầu khí tại Việt Nam. Tháng 9/1975, Đoàn Địa vật
lý đợc thành lập trên cơ sở sáp nhập Đoàn 36Đ, Đoàn 36T và Đoàn 36F. Năm
1980, Đoàn Địa vật lý đợc đổi tên thành Công ty Địa vật lý. Năm 1989, Công ty
Địa vật lý đợc đổi tên thành Công ty Địa vật lý và Dịch vụ Dầu khí. Năm 1993,
Tổng Công ty Dầu khí Việt Nam quyết định sáp nhập Công ty Dịch vụ Dầu khí
vào Công ty Địa vật lý và Dịch vụ dầu khí.
Ngày 16/2/1996, Bộ trởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ có quyết định
số 199/BT thành lập Công ty Dịch vụ Kỹ thuật Dầu khí là đơn vị thành viên trực
thuộc Tổng Công ty Dầu khí Việt Nam với chức năng thực hiện công tác dịch
vụ kỹ thuật dầu khí phục vụ cho việc tìm kiếm, thăm dò và khai thác dầu khí tại
Việt Nam và nớc ngoài.
1. Công ty Dịch vụ Kỹ thuật Dầu khí là một doanh nghiệp Nhà nớc hạch toán
độc lập, có t cách pháp nhân, có con dấu riêng, đợc mở tài khoản tại Kho
bạc Nhà nớc, ngân hàng trong nớc và nớc ngoài theo quy định của Pháp luật.

Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×