Tải bản đầy đủ

vai trò định hướng xã hội chủ nghĩa của nhà nước đối với sự phát triển nền kinh tế việt nam hiện nay

Mở đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài
Để giành và giữ vững nền độc lập dân tộc, mang lại cuộc sống ấm no,
tự do, hạnh phúc cho nhân dân - trớc hết là nhân dân lao động, ngay từ đầu
thế kỷ XX, Đảng và nhân dân ta đã lựa chọn phơng hớng phát triển đất nớc
theo con đờng XHCN. Trung thành với sự lựa chọn đúng đắn đó, trong
công cuộc đổi mới toàn diện đất nớc hiện nay, trên lĩnh vực kinh tế, chúng ta
đang đẩy mạnh quá trình chuyển từ nền kinh tế tập trung quan liêu, bao cấp
sang nền KTTT định hớng XHCN.
Quá trình phát triển nền KTTT chính là quá trình hình thành một cơ
chế tinh vi cho phép phối hợp một cách có hiệu quả giữa nhân dân, cá nhân
ngời tiêu dùng với ngời sản xuất, với các doanh nghiệp thông qua hệ thống giá
cả và thị trờng. Cơ chế thị trờng cũng tạo điều kiện để phân bổ, sử dụng và tái
tạo có hiệu quả nguồn tài nguyên thiên nhiên, kích thích áp dụng khoa học,
công nghệ mới khiến nó thực sự vừa là động lực, vừa là thị trờng của CNH,
HĐH đất nớc
Thực tế phát triển KTTT định hớng XHCN 15 năm qua mang lại cơ sở
đáng tin cậy để khẳng định rằng cơ chế thị trờng đã phát huy tác dụng tích
cực to lớn đến sự phát triển kinh tế - xã hội. Nó chẳng những không đối lập
mà còn là nhân tố khách quan cần thiết của việc xây dựng và phát triển đất n-
ớc theo con đờng XHCN.

Song, nh chúng ta đã biết, bất kỳ sự vật nào cũng là sự thống nhất của
các mặt đối lập. Trong khi khẳng định mặt tích cực là cơ bản của cơ chế thị tr-
ờng định hớng XHCN, và cũng chính vì vậy, nó đợc sử dụng nh là một điều
kiện để đẩy mạnh sự phát triển đất nớc, chúng ta cũng không thể không thấy
rằng cơ chế thị trờng có những tác động tiêu cực, mâu thuẫn với bản chất của
5
CNXH. Chạy theo lợi ích trớc mắt, ngời ta có thể khai thác cạn kiệt nguồn tài
nguyên rừng, sông, biển, đất đai mà không chịu đầu t thỏa đáng cho việc tái
sản xuất giản đơn, cha nói tới tái sản xuất mở rộng những nguồn tài nguyên
vô giá đó. Nhằm giảm tối đa đầu t, ngời ta sẵn sàng giảm tới mức tối thiểu
việc chi phí cho công nghệ làm sạch chất thải trong những dây chuyền sản
xuất. Cơ chế thị trờng cũng có nguy cơ tăng cờng thất nghiệp cả ở thành thị và
nông thôn, tăng cờng sự phân hóa giàu nghèo. Cơ chế đó dễ sản sinh ra lớp
ngời xem lợi ích kinh tế là tất cả, xem thờng, thậm chí chà đạp lên nhiều giá
trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc và định hớng chính trị XHCN của quá
trình phát triển đất nớc
Tất cả những hiện tợng trên đây đều trái với truyền thống dân tộc, với
mục tiêu XHCN mà Đảng và nhân dân ta đã lựa chọn.
Thực tiễn 15 năm đổi mới cho thấy rằng, để cơ chế thị trờng đóng đợc
vai trò là đòn xeo của sự phát triển đất nớc theo định hớng XHCN, cùng với
việc nâng cao vai trò lãnh đạo của Đảng, việc nâng cao hiệu lực quản lý của
Nhà nớc có ý nghĩa cực kỳ quan trọng.
6
Vì lý do nêu trên, chúng tôi chọn vấn đề "Vai trò định hớng xã hội
chủ nghĩa của Nhà nớc đối với sự phát triển nền kinh tế Việt Nam hiện
nay" làm đề tài luận án của mình.
2. Tình hình nghiên cứu
Trong quá trình đổi mới ở nớc ta, vấn đề định hớng XHCN nói chung,
vai trò định hớng XHCN của Nhà nớc đối với sự phát triển nền KTTT nói riêng
đã thu hút sự quan tâm của nhiều nhà khoa học thuộc các các cơ quan nghiên
cứu. Do vậy, trong những năm gần đây, nhiều chơng trình khoa học có liên
quan đã đợc triển khai. Chẳng hạn, Chơng trình KX. 01 "Những vấn đề lý
luận về CNXH và con đờng đi lên CNXH ở nớc ta" do GS.TSKH. Nguyễn Duy
Quý làm chủ nhiệm; Đề tài KX. 05-04 "Đặc trng cơ bản của hệ thống chính
trị nớc ta trong giai đoạn quá độ lên CNXH" do GS.TS Nguyễn Ngọc Long
làm chủ nhiệm; Đề tài KX 03-04 "Cơ chế thị trờng và vai trò của Nhà nớc
trong quản lý nền kinh tế nớc ta hiện nay" do GS.TS KH Lơng Xuân Quỳ làm
chủ nhiệm
7
Liên quan tới vấn đề của luận án cũng đã có nhiều công trình


nghiên cứu đợc công bố. Chẳng hạn, "Định hớng XHCN ở Việt Nam, một
số vấn đề lý luận cấp bách" của GS Trần Xuân Trờng; "Một số vấn đề về
định hớng XHCN ở Việt Nam" của Nguyễn Đức Bách, Nhị Lê, Lê Văn Yên;
"Cơ sở khoa học của công cuộc đổi mới kinh tế ở Việt Nam" của TS Lê
Đăng Doanh; "Đổi mới, hoàn thiện chính sách và cơ chế quản lý kinh tế ở
nớc ta" của các GS.TS Vũ Đình Bách, Ngô Đình Giao; "Một số vấn đề về
định hớng XHCN ở nớc ta" (Kết quả Hội thảo của Hội đồng lý luận Trung -
ơng đăng trên Tạp chí Cộng sản từ số 4 tháng 2/1996 đến số 7 tháng 4/1996);
"Kinh tế thị trờng và định hớng XHCN" của GS. Bùi Ngọc Chởng, Tạp chí
Cộng sản tháng 6/1992; "Vai trò lãnh đạo chính trị của Đảng và chức năng
quản lý kinh tế của Nhà nớc trong điều kiện nền KTTT ở nớc ta hiện nay" của
Nguyễn Tiến Phồn, Tạp chí Triết học số 3/1995; "Mối quan hệ biện chứng
giữa đổi mới chính sách kinh tế và đổi mới chính sách xã hội" của GS.TS
Nguyễn Trọng Chuẩn, Tạp chí Triết học số 3/1996; "Nhà nớc trớc yêu cầu
xây dựng kinh tế thị trờng định hớng XHCN và hội nhập quốc tế" của GS.TS
Phạm Ngọc Quang, Tạp chí Thông tin lý luận số 6/2000 v.v
Liên quan tới đề tài này đã có một số luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ
đợc bảo vệ. Chẳng hạn, "Định hớng XHCN ở Việt Nam, nội dung cơ bản và
những điều kiện chủ yếu để thực hiện", Luận án tiến sĩ khoa học triết học
chuyên ngành chủ nghĩa cộng sản khoa học của Nguyễn Văn Oánh, Học viện
Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, 1994;
8
Mặc dù các công trình nghiên cứu đã đề cập khá nhiều khía cạnh khác
nhau có liên quan đến đề tài, nh: con đờng lên CNXH, bỏ qua giai đoạn phát
triển t bản; bớc chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang KTTT; vai
trò của các nhân tố chủ quan trong việc lựa chọn và thực hiện định hớng
XHCN, song, cha có một công trình nào nghiên cứu một cách hệ thống, dới
góc độ triết học về "Vai trò định hớng XHCN của Nhà nớc đối với sự phát
triển nền kinh tế Việt Nam hiện nay". Sự ra đời của luận án này là một nỗ lực
theo hớng góp phần làm sâu sắc thêm nhận thức của chúng ta về vấn đề còn ít
đợc nghiên cứu đó.
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận án
Mục đích:
Trên cơ sở làm rõ tác động của Nhà nớc tới quá trình xây dựng và
phát triển nền KTTT theo định hớng XHCN ở Việt Nam, luận án góp phần đề
xuất một số giải pháp nâng cao vai trò định hớng XHCN của Nhà nớc đối với
sự phát triển nền KTTT ở Việt Nam hiện nay.
Nhiệm vụ:
Để đạt đợc mục đích trên, luận án có nhiệm vụ:
- Làm rõ vai trò của Nhà nớc trong quá trình phát triển kinh tế nói
chung, trong quá trình xây dựng và phát triển nền KTTT định hớng XHCN ở
Việt Nam nói riêng.
- Xác định nội dung và phơng thức định hớng XHCN của Nhà nớc đối
với sự phát triển nền KTTT ở Việt Nam.
- Xuất phát từ thực trạng vai trò định hớng XHCN của Nhà nớc đối
với sự phát triển KTTT ở nớc ta 15 năm đổi mới vừa qua và những vấn đề phát
sinh có liên quan tới vấn đề này, luận án nêu ra một số giải pháp nhằm tiếp
tục nâng cao vai trò định hớng XHCN của Nhà nớc trong sự phát triển nền
KTTT Việt Nam trong những năm trớc mắt.
9
4. Cơ sở lý luận và phơng pháp nghiên cứu
- Trong quá trình nghiên cứu, luận án lấy những quan điểm cơ bản
của chủ nghĩa Mác-Lênin và t tởng Hồ Chí Minh làm cơ sở lý luận chung.
Luận án cũng bám sát các văn kiện của Đảng, chủ trơng, chính sách
của Nhà nớc; kế thừa các thành quả của các công trình nghiên cứu có liên
quan.
- Để hoàn thành đợc mục đích và nhiệm vụ đã đặt ra, luận án chủ
yếu sử dụng các phơng pháp của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ
nghĩa duy vật lịch sử, đặc biệt là các phơng pháp phân tích và tổng hợp,
lôgíc và lịch sử
5. Cái mới về mặt khoa học của luận án
- Đã góp phần làm rõ cơ sở khoa học của định hớng XHCN trong sự
phát triển KTTT và vai trò của Nhà nớc trong việc thực hiện sự định hớng
đó.
- Bớc đầu nêu ra một số giải pháp nhằm nâng cao vai trò định hớng
XHCN của Nhà nớc đối với sự phát triển nền KTTT ở Việt Nam trong giai
đoạn hiện nay.
6. ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
- Luận án đã góp phần làm sáng tỏ vị trí của Nhà nớc trong việc bảo
đảm định hớng XHCN đối với sự phát triển của nền KTTT ở nớc ta và
những giải pháp để Nhà nớc hoàn thành ngày càng tốt hơn chức năng đó
của mình.
- Những kết quả đạt đợc trong luận án có thể đợc vận dụng vào việc
nghiên cứu và giảng dạy môn triết học Mác - Lênin, trớc hết là nghiên cứu
và giảng dạy vấn đề quan hệ giữa chính trị và kinh tế. Luận án cũng có thể
đợc dùng làm tài liệu tham khảo cho môn kinh tế chính trị học và một số
môn khác trong phạm vi liên quan đến đề tài.
10
7. Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục các tài liệu tham khảo,
luận án đợc chia thành 3 chơng, 9 tiết.
11
Chơng 1: Vai trò của Nhà nớc đối với sự phát triển
kinh tế
1.1. Nhà nớc với kinh tế
Lịch sử phát triển loài ngời kể từ khi xuất hiện giai cấp và Nhà nớc
đến nay cho thấy, dù trực tiếp hay gián tiếp, Nhà nớc đều tác động đến kinh
tế. Tổng kết thực tiễn đó, Ăngghen đã chỉ ra rằng: "tác động ngợc trở lại
của quyền lực nhà nớc đối với sự phát triển kinh tế có thể có ba loại. Nó có
thể tác động theo cùng hớng - khi ấy sự phát triển sẽ nhanh hơn; nó có thể
tác động ngợc lại sự phát triển kinh tế, khi ấy thì hiện nay, ở mỗi dân tộc
lớn, nó sẽ tan vỡ sau một khoảng thời gian nhất định, hoặc là nó có thể cản
trở sự phát triển kinh tế ở những hớng nào đó và thúc đẩy sự phát triển ở
những hớng khác. Trong trờng hợp này rốt cuộc dẫn đến một trong hai tr-
ờng hợp trên" [69, tr. 678].
Vì sao Nhà nớc lại có thể tác động đến kinh tế? Vì sao sự tác động
của Nhà nớc lại có thể khiến sự phát triển của kinh tế diễn ra theo nhiều
chiều hớng khác nhau, thậm chí trái ngợc nhau nh vậy?
Việc nghiên cứu lịch sử ra đời của Nhà nớc đã mang lại nhiều bằng
chứng đáng tin cậy để các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin khẳng
định rằng Nhà nớc không phải là cơ quan để điều hòa mâu thuẫn giai cấp;
ngợc lại, nó ra đời do mâu thuẫn giai cấp ngày càng sâu sắc, không thể điều
hòa. Giai cấp bóc lột không thể duy trì đợc quyền nắm hầu hết t liệu sản
xuất trong xã hội, từ đó, duy trì quyền bóc lột của mình đối với tất cả các
giai cấp và tầng lớp không có (hay hầu nh không có) t liệu sản xuất, nếu
không dựa vào bộ máy bạo lực mà bộ phận chủ yếu của nó là những đội vũ
trang đặc biệt dùng để trấn áp giai cấp bị bóc lột. Trong điều kiện đấu tranh
giai cấp đã trở nên gay gắt, chế độ nhân dân tự tổ chức thành lực lợng vũ
12
trang không còn thích hợp. Nó phải đợc thay thế bằng thiết chế Nhà nớc.
Khi đề cập tới nguyên nhân trực tiếp xuất hiện Nhà nớc, Lênin cho
rằng Nhà nớc là sản phẩm và biểu hiện của những mâu thuẫn giai cấp
không thể điều hòa đợc. Bất cứ ở đâu, hễ lúc nào và chừng nào mà, về mặt
khách quan, những mâu thuẫn giai cấp không thể điều hòa đợc, thì Nhà nớc
xuất hiện. Và ngợc lại: sự tồn tại của Nhà nớc chứng tỏ rằng những mâu
thuẫn giai cấp là không thể điều hòa đợc.
Không có Nhà nớc, một tổ chức bạo lực chuyên dùng để trấn áp thì
giai cấp thống trị không thể duy trì đợc ách áp bức, bóc lột của mình đối
với giai cấp bị trị. Nh vậy, sự ra đời của Nhà nớc là một tất yếu khách quan
để làm "dịu " sự xung đột giai cấp, để làm cho sự xung đột diễn ra trong
vòng "trật tự" nhằm duy trì chế độ kinh tế, trong đó, giai cấp này đợc bóc
lột giai cấp khác. Nhà nớc - đó là sự kiến lập ra một "trật tự", trật tự này
hợp pháp hóa và củng cố sự áp bức kia bằng cách làm dịu xung đột giai
cấp.
Đơng nhiên, trên cơ sở của tính tất yếu nói trên, lực lợng lập ra và
sử dụng bộ máy nhà nớc phải là giai cấp có thế lực nhất - giai cấp thống trị
về mặt kinh tế. Nói cách khác, Nhà nớc là tổ chức chính trị của giai cấp
thống trị về kinh tế nhằm bảo vệ trật tự hiện hành và đàn áp sự phản kháng
của các giai cấp khác.
Nhờ có Nhà nớc, giai cấp này từ chỗ là lực lợng thống trị trên lĩnh
vực kinh tế, nó cũng trở thành giai cấp thống trị về mặt chính trị và, do đó,
có thêm những phơng tiện mới để đàn áp và bóc lột giai cấp bị áp bức.
13
Nhà nớc ra đời từ sự phát triển của kinh tế, do sự phát triển của kinh
tế quy định. Sau khi ra đời "lực lợng mới có tính độc lập này tác động trở lại
những điều kiện và quá trình sản xuất nhờ tính độc lập vốn có của mình"
[69, tr. 677]. Theo nghĩa đó, Lênin đã viết: "chính trị là biểu hiện tập trung
của kinh tế" [56, tr. 349], "là kinh tế cô đọng lại" [57, tr. 147] và "bạo lực
(tức là quyền lực nhà nớc) cũng là một sức mạnh kinh tế" [69, tr. 683]. Nói
gọn lại, Nhà nớc là sản phẩm phát triển của sản xuất, của kinh tế; nó ra đời
nhằm bảo vệ lợi ích kinh tế và toàn bộ các lợi ích khác của giai cấp thống
trị trên lĩnh vực kinh tế. Cho nên, Nhà nớc không chỉ do kinh tế, mà còn là,
và chủ yếu là vì kinh tế. Từ đó có thể nói, sự tác động lại của Nhà nớc tới
kinh tế cũng mang tính tất yếu khách quan không kém gì tính tất yếu kinh
tế dẫn tới sự ra đời của Nhà nớc.
Khi đề cập tới sự tác động của Nhà nớc đến kinh tế trong thời kỳ cổ
đại, Ăngghen cho rằng nhờ có sự ra đời của Nhà nớc mà ở Aten thời
cổ đại cũng nh ở nhiều nơi khác trên thế giới, tất cả các ngành sản xuất của
xã hội nh thơng nghiệp, công nghiệp và của cải xã hội mau chóng phát
triển.
14
Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của nền sản xuất xã hội, các yếu tố
cấu thành nó cũng ngày càng nhiều lên, mối quan hệ giữa các yếu tố đó
ngày càng phức tạp hơn. Tơng ứng với mỗi trình độ phát triển của nền sản
xuất xã hội mà giữa các yếu tố cấu thành có những quan hệ tỷ lệ nhất định
để tạo ra đợc sự phù hợp của QHSX với LLSX, để đảm bảo cho nền kinh tế
phát triển đợc ổn định, thăng bằng, cân đối. Các quan hệ tỷ lệ hình thành
trong nền kinh tế luôn có xu hớng bị phá vỡ do sự phát triển không ngừng
của LLSX, do sự tác động của các nhân tố chủ quan và khách quan. Điều
đó ảnh hởng đến sự phát triển bình thờng, đến quy mô và nhịp điệu phát
triển của nền kinh tế. Vì vậy, yêu cầu tạo sự cân đối giữa các yếu tố cấu
thành nền sản xuất xã hội, tạo sự phù hợp của QHSX với tính chất và trình
độ phát triển của LLSX trong sự phát triển của nền kinh tế là nguyên nhân
sâu xa, nguyên nhân khách quan quy định vai trò kinh tế của Nhà nớc.
Trong nền kinh tế hàng hóa, KTTT, cơ sở khách quan này đợc thể hiện ở
những mặt sau:
- Trong nền sản xuất hàng hóa, sự sản xuất diễn ra dới tác động của
cơ chế thị trờng, một cơ chế tinh vi, phối hợp một cách không tự giác các
chủ thể của nền kinh tế thông qua hệ thống giá cả trên thị trờng, một cơ chế
mà điều kiện cần thiết cho sự phát triển của nó là một trật tự kinh tế. Nhng
chính trong bản chất của cơ chế thị trờng, sự vận động của nó luôn đẻ ra
những nhân tố, những mâu thuẫn làm rối loạn trật tự kinh tế.
15
Trong cơ chế thị trờng, mỗi cá nhân tham gia vào hoạt động sản
xuất, kinh doanh với nhu cầu, lợi ích riêng của mình và đều tìm kiếm những
phơng thức hoạt động nhằm tối u hóa nhu cầu, lợi ích đó. Vì mỗi cá nhân
trong hoạt động chỉ chú ý đến lợi ích riêng của mình, lợi ích của ngời này
nhiều khi đối lập với lợi ích của ngời khác; do đó, lợi ích của cá nhân, bộ
phận này đợc thực hiện sẽ làm thiệt hại đến lợi ích của cá nhân, bộ phận
khác trong xã hội. Biểu hiện về mặt kinh tế - xã hội của tình trạng đó là các
hoạt động kinh tế chồng chéo, cản trở hoặc triệt tiêu lẫn nhau; sự phân bổ
nguồn lực không hợp lý; cơ cấu kinh tế bị đảo lộn; phân hóa giàu nghèo gia
tăng; tăng cờng lạm phát, thất nghiệp, bất bình đẳng, tham nhũng, hối lộ,
tàn phá thiên nhiên, môi trờng sống.
Muốn khắc phục hiện tợng này cần có bàn tay của Nhà nớc. Bởi vì,
trong xã hội có giai cấp, có Nhà nớc, chỉ có Nhà nớc với thực lực kinh tế
với quyền lực chính trị của mình mới có khả năng điều chỉnh việc phân bố
sản xuất và lao động giữa các ngành và vùng để hình thành cơ cấu kinh tế
hợp lý, tối u, mới thúc đẩy đợc các ngành kinh tế trọng tâm, mũi nhọn, mới
phát triển đợc các ngành có ý nghĩa thúc đẩy sự tiến bộ khoa học và công
nghệ trong toàn bộ nền kinh tế quốc dân, mới tạo đợc nguồn tích lũy tập
trung quy mô lớn để tạo ra những bớc nhảy vọt trong sự phát triển kinh tế -
xã hội và giải quyết những mục tiêu kinh tế vĩ mô khác mà bản thân cơ chế
thị trờng không thể thực hiện đợc.
16
- Để mỗi nền kinh tế có thể tồn tại và hoạt động bình thờng cần có
khu vực hàng hóa và dịch vụ công cộng, nh giáo dục, y tế, kết cấu hạ tầng,
thông tin, các hoạt động an ninh quốc phòng, bảo vệ môi trờng. Nhng,
trong cơ chế thị trờng, xuất phát từ lợi ích cá nhân mà hàng loạt các hoạt
động tạo ra hàng hóa và dịch vụ công cộng - những hoạt động thờng đem
lại một phần lợi nhuận không lớn hoặc chậm thu hồi vốn cho nhà sản xuất
kinh doanh, không đợc chú ý tới. Để khắc phục tình trạng đó, với t cách
chủ thể nền kinh tế quốc dân và để điều chỉnh mục tiêu kinh tế vi mô, Nhà
nớc phải nắm và đảm bảo cho xã hội những loại hàng hóa và dịch vụ công
cộng cũng nh những hàng hóa mà nếu nằm trong tay t nhân sẽ làm thiệt hại
đến lợi ích toàn xã hội.
- Nền kinh tế chỉ phát triển đợc khi có môi trờng kinh tế, chính trị,
xã hội ổn định, lành mạnh. Tuy nhiên, bên cạnh những nhân tố bất ổn do
chính bản thân tự vận hành của nền kinh tế tạo ra, "nhờ cải tiến mau chóng
công cụ sản xuất và làm cho các phơng tiện giao thông trở nên vô cùng
thuận lợi, giai cấp t sản lôi cuốn đến cả những dân tộc dã man nhất vào trào
lu văn minh" [62, tr. 602]. Sự phát triển đó của LLSX đã dẫn
đến một xu thế tất yếu, xu thế mà ở đó "thay cho tình trạng cô lập trớc
kia của các địa phơng và dân tộc vẫn tự cung, tự cấp, ta thấy phát triển
những quan hệ phổ biến, sự phụ thuộc phổ biến giữa các dân tộc" [62, tr. 602].
Xu thế này một mặt, tạo cơ hội cho các nớc chậm phát triển thực hiện
con đờng phát triển rút ngắn; mặt khác, cũng tạo nhiều thách thức. Để
tận dụng những thuận lợi, hạn chế những thách thức, Nhà nớc phải can
thiệp vào tiến trình kinh tế để vừa giữa đợc độc lập tự chủ, vừa phát triển
kinh tế.
17
Sự tác động của Nhà nớc đến kinh tế; mức độ nông, sâu của sự tác
động đó còn phụ thuộc phần lớn vào vị thế của giai cấp cầm quyền - giai
cấp thống trị trong xã hội.
Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin đã chỉ ra nguyên
nhân trực tiếp hình thành Nhà nớc là sự xuất hiện giai cấp trong xã hội.
Trong "Nguồn gốc của gia đình, của chế độ t hữu và của Nhà nớc",
Ăngghen đã khẳng định rằng chính sự phát triển của LLSX và, cùng với nó,
của một số yếu tố khác (khát vọng chiếm đoạt của chung biến thành của
riêng ) đã làm cho xã hội sự phân hóa thành các giai cấp. Sự hình thành
nên các giai cấp đối kháng làm xuất hiện đấu tranh giai cấp. Chính cuộc
đấu tranh giai cấp này đã dẫn tới nguy cơ chẳng những các giai cấp đó tiêu
diệt lẫn nhau mà còn tiêu diệt luôn xã hội. Để thảm họa đó không xảy ra,
Nhà nớc đã ra đời.
Song, sự ra đời của Nhà nớc không những không làm dịu đi những
mâu thuẫn giai cấp trong xã hội, mà còn làm cho các mâu thuẫn đó ngày
càng trở nên gay gắt hơn. Nhà nớc trong xã hội có giai cấp không phải là
cơ quan để điều hòa mâu thuẫn giai cấp. Ngợc lại, nó ra đời do những mâu
thuẫn giai cấp ngày càng sâu sắc, không thể điều hòa. "Đó là sản phẩm và
biểu hiện của những mâu thuẫn giai cấp không thể điều hòa đợc. Bất cứ ở
đâu, hễ lúc nào và chừng nào mà về mặt khách quan, những mâu thuẫn giai
cấp không thể điều hòa đợc, thì Nhà nớc xuất hiện. Và ngợc lại: sự tồn tại
của Nhà nớc chứng tỏ rằng những mâu thuẫn giai cấp là không thể điều hòa
đợc" [56, tr. 9]
18
Sở dĩ sau khi ra đời, Nhà nớc không thể là cơ quan điều hòa mâu
thuẫn giai cấp, không phải là cơ quan cốt chỉ để thỏa mãn những lợi ích
chung của những ngời lao động nh việc tới nớc ở phơng Đông, tự vệ chống
kẻ thù bên ngoài, mà là cơ quan "duy trì bằng bạo lực những điều kiện sinh
hoạt và thống trị của giai cấp thống trị chống lại giai cấp bị trị" [65, tr. 209].
Giai cấp thống trị - một thiểu số của xã hội, để bảo vệ quyền lợi kinh tế và
chính trị của mình, để thực hiện quyền thống trị của mình đối với các giai
cấp khác và đối với toàn xã hội - đã xây dựng nền chuyên chính, thiết lập
và sử dụng công cụ cỡng bức của mình để làm "dịu" sự xung đột giai cấp,
làm cho sự xung đột ấy diễn ra trong vòng "trật tự" nhằm duy trì chế độ
kinh tế có lợi cho bản thân.
Nh vậy là, xét về bản chất "Nhà nớc chẳng qua chỉ là một bộ máy của
một giai cấp này dùng để trấn áp một giai cấp khác" [67, tr. 290-291], là
nền chuyên chính "của giai cấp có thế lực nhất, của các giai cấp thống trị
về mặt kinh tế và nhờ có Nhà nớc mà cũng trở thành giai cấp thống trị về
mặt chính trị" [66, tr. 255]. Tất cả mọi hoạt động khác nhau của Nhà nớc
đều bị chi phối bởi bản chất giai cấp của nó.
19
Xuất hiện trong xã hội có đối kháng giai cấp với t cách là "một lực
lợng tựa hồ nh đứng trên xã hội, có nhiệm vụ làm dịu bớt sự xung đột giữ
cho sự xung đột đó nằm trong vòng "trật tự" [66, tr. 253] Nhng sự "điều
hòa" đó của Nhà nớc diễn ra trong khuôn khổ lợi ích và phù hợp với ý chí
của giai cấp thống trị. Điều đó đúng với mọi xã hội có giai cấp. Trong "Vấn
đề về nhà ở", khi đề cập tới vấn đề này, Ăngghen đã viết: "Nhà nớc không
phải là cái gì khác hơn là quyền lực tổng hợp có tổ chức của giai cấp hữu
sản, những địa chủ và những nhà t bản, đối lập với những giai cấp bị bóc
lột, những ngời dân và công nhân. Điều gì mà cá nhân những nhà t bản
không muốn thì Nhà nớc của họ cũng không muốn" [64, tr. 352]. Điều này
cắt nghĩa phần nào cho ta thấy vì sao Nhà nớc lại có thể tác động đến kinh
tế, khiến cho nó phát triển theo những chiều hớng khác nhau, thậm chí trái
ngợc nhau.
Sự tác động của Nhà nớc đến kinh tế đã diễn ra trong suốt chiều dài
lịch sử, kể từ khi nó xuất hiện đến nay, với những biện pháp, những mức độ
và đạt những hiệu quả khác nhau.
Trong thời kỳ Hy Lạp cổ đại, do những nguyên nhân kinh tế, Nhà
nớc CHNL đã ra đời. Ngay sau khi ra đời, Nhà nớc CHNL, dới sự cầm
quyền của Sôlông, Cli-xpen, đã dùng quyền lực thực thi nhiều biện pháp
khác nhau nhằm, một mặt, xóa bỏ tàn tích của xã hội CSNT; mặt khác, tạo
dựng, củng cố và phát triển xã hội CHNL.
20
Sôlông (khoảng 638-558 trớc công nguyên) đợc coi là một nhà cải
cách vĩ đại. Theo sự đánh giá của các nhà sử học, cải cách của ông đã làm
thay đổi hẳn chế độ chính trị và xã hội cũ của Aten, đánh đòn nặng nề vào
tàn tích của chế độ thị tộc và sự thống trị của giai cấp quý tộc, tạo điều kiện
cho sự phát triển của chế độ t hữu, đặt cơ sở cho nền dân chủ chủ nô Aten
[99, tr. 40]. Sôlông đã làm những gì? Trớc tiên, ông "xâm phạm chế độ sở
hữu" bằng cách tuyên bố xóa bỏ mọi nợ nần; giải phóng cho những ngời bị
buộc phải làm nô lệ vì nợ nần, quy định mức sở hữu ruộng đất, tức là đem
lại quyền sở hữu cho những ngời nông dân. Liền sau đó, ông thực hành một
loạt những biện pháp kinh tế và tác động khác nhằm khuyến khích và thúc
đẩy sự phát triển của thủ công nghiệp, thơng nghiệp, nh cải cách chế độ
tiền tệ, thừa nhận quyền tự do di sản cho bất kỳ ai theo ý muốn (trớc đó, tài
sản của ngời quá cố thuộc quyền sở hữu của thị tộc ngời đó) Cải cách
quan trọng nhất của Sôlông là nhằm vào thủ tiêu những đặc quyền, đặc lợi
của quý tộc, xác định địa vị của mỗi công dân theo mức tài sản của họ. Với
những nội dung đó, cải cách của Sôlông đã giáng đòn chí tử vào chế độ
công hữu CSNT, đa chế độ t hữu - cơ sở kinh tế của xã hội CHNL vào cuộc
sống, tạo điều kiện cho sự hình thành và phát triển vững chắc của xã hội
CHNL.
Tuy vậy, những cải cách của Sôlông đã không thủ tiêu đợc hoàn
toàn những tàn tích của chế độ thị tộc, chế độ sở hữu lớn cũng nh những
ảnh hởng chính trị của tầng lớp quý tộc vẫn còn chiếm u thế; việc chia lại
ruộng đất cho nông dân cũng đã không thực hiện đợc. Cuộc cải cách của
Sôlông không triệt để. Sự xóa bỏ hoàn toàn những cơ sở, điều kiện của xã
hội thị tộc, của phơng thức sản xuất cũ phải chờ đến cải cách của Cli-xpen.
21
Vừa lên cầm quyền, Cli-xpen liền thực hành ngay một loạt cải cách
mà tính chất của nó, theo Ăngghen, là cách mạng. Trong "Nguồn gốc của
gia đình, của chế độ t hữu và của Nhà nớc", Ăngghen viết: "Cuộc cách
mạng của Cli-xten (509 trớc công nguyên) lật đổ hẳn họ (tầng lớp quý tộc -
tác giả luận án ghi chú) đồng thời lại lật đổ cả tàn tích cuối cùng của chế
độ thị tộc nữa" [66, tr. 176]. Trong cải cách, Cli-xpen đã phân chia tất cả
công dân Aten theo những khu vực hành chính. Bằng cách đó, ông đã xóa
bỏ đợc sợi dây cuối cùng níu kéo sự tồn tại của xã hội thị tộc: sợi dây huyết
thống - sợi dây vốn đã không bền chặt, vì cơ sở kinh tế của nó - một cơ sở
kinh tế mang tính thuần nhất chỉ dựa trên chế độ công hữu - đã bị xâm
phạm bởi các cải cách của Sôlông trớc đó. Cuộc cải cách của Cli-xpen đã làm
thay đổi toàn bộ xã hội Aten từ cơ cấu của bản thân chính quyền nhà nớc,
cho đến đời sống kinh tế - xã hội, đã tạo ra một xã hội CHNL điển hình.
Nh vậy, trong giai đoạn đầu, Nhà nớc CHNL đã bằng quyền lực để
xóa bỏ mối quan hệ, các tàn tích của xã hội CSNT, thiết lập nên cơ sở kinh
tế cho xã hội mới - xã hội CHNL, chế độ t hữu.
Sau khi thiết lập đợc cơ sở kinh tế vững chắc cho sự tồn tại của xã
hội CHNL, Nhà nớc chủ nô lại tiếp tục sử dụng quyền lực của mình can
thiệp vào đời sống kinh tế. Pháp luật quy định nô lệ phải làm việc, không đ-
ợc phản đối (pháp luật cổ đại Trung Quốc); nếu nô lệ không vâng lời, họ có
thể bị cắt tai; nô lệ bỏ trốn thì bản thân và những ngời che giấu cho họ bị tử
hình (luật Hăm Murabi); nô lệ ốm đau thì chủ nô đợc phép bỏ cho chết
dần; nô lệ bỏ trốn thì những ngời trong gia đình bị tử hình (luật La Mã).
Đồng thời, pháp luật cũng đảm bảo tính tuyệt đối của quyền t hữu đối với
nô lệ và mọi tài sản khác của chủ nô, quyền cha truyền con nối nô lệ và
những tài sản đó (luật La Mã). Nh vậy, luật pháp ở đó đảm bảo quyền
tuyệt đối của chủ nô trong việc chiếm hữu toàn bộ của cải vật chất do sức
lao động của nô lệ tạo ra cũng nh bản thân nô lệ.
22
Sự can thiệp của Nhà nớc trong xã hội CHNL đối với kinh tế mang
tính gián tiếp. ở đây, Nhà nớc không can thiệp trực tiếp vào quá trình sản
xuất, kinh doanh; không tham gia vào việc quy định sản xuất cái gì, sản
xuất nh thế nào, cần tạo ra bao nhiêu sản phẩm và sản xuất cho ai. Nhà nớc,
bằng cách ban bố pháp luật, kiểm tra, giám sát việc thi hành luật pháp, tạo
ra môi trờng cho quá trình sản xuất.
Trong xã hội CHNL, vào thời kỳ hình thành và phát triển, sự tác
động của Nhà nớc đối với kinh tế bằng hình thức trên đã tạo điều kiện cho
nền sản xuất xã hội phát triển. Nhng, càng về sau, nhất là vào khoảng thế
kỷ thứ II, thứ III, cũng chính sự can thiệp của Nhà nớc, cũng chính môi tr-
ờng pháp lý mà Nhà nớc đã tạo ra cho nền kinh tế lại trói buộc sự phát triển
của LLSX, đã tạo ra những ngời lao động chây ỳ, chậm chạp, lời biếng và
những công cụ lao động nặng nề, thô kệch (để đối phó với sự phá hoại của
nô lệ). Những ngời chủ nô sử dụng nô lệ để tiến hành lao động sản xuất,
nhng không hề quan tâm đến việc cải tiến phơng pháp canh tác. Chủ nô
chiếm đoạt toàn bộ thành quả lao động của nô lệ, nhng không đảm bảo việc
cung cấp những t liệu sinh hoạt tối thiểu cho họ. Tình trạng ngợc đãi nô lệ
đã không thể làm cho năng suất lao động đợc nâng lên. "Nô lệ đã làm cho
năng suất ruộng đất giảm sút nghiêm trọng. Họ bị cỡng bức làm việc nh
trâu, ngựa và sống một cuộc đời khổ ải không khác gì loài vật. Họ cày cấy
bừa bãi, khi gieo hạt họ cố ý gieo lung tung, làm lãng phí rất nhiều hạt
giống. Họ gặt lúa đem về sân nhà chủ mà không chú ý xem lúa đã chín cha.
Thậm chí trong khi gánh lúa về nhà chủ, họ tìm cách thu giấu lúa đi hoặc
cố ý làm rơi vãi lúa ở dọc đờng" [99, tr. 220]. Để cứu vãn tình thế và đảm
bảo cho sự tồn tại của mình, các chủ nô dần dần đã cấp nhà, giao đất, công
cụ súc vật kéo, giống má cho nô lệ, và sau mỗi vụ buộc họ nộp lại một
phần lớn hoa lợi cho chủ. Bằng cách đó, nô lệ đã biến thành lệ nông.
23
Tuy nhiên, sự ra đời của chế độ lệ nông cũng không làm cho phơng
thức sản xuất CHNL phục sinh, không làm cho LLSX phát triển. So với
những ngời nô lệ, lệ nông có một chút tự do hơn và, do đó, có tinh thần tự
nguyện sản xuất hơn. Nhng những ngời lệ nông, về mặt pháp lý, vẫn là nô
lệ; về kinh tế, họ bị trói chặt vào mảnh đất mà chủ nô giao cho; và nói đúng
ra, họ không phải là ngời nô lệ, nhng cũng không phải là ngời tự do. Hơn
nữa, dù có thay đổi trong cách quản lý tổ chức sản xuất và phân phối sản
phẩm của quá trình sản xuất để phơng thức sản xuất CHNL có những biểu
hiện "phục sinh", nhng bằng sức mạnh của mình, Nhà nớc lại can thiệp quá
thô bạo vào khâu phân phối, bắt buộc lệ nông phải đóng su cao, thuế nặng;
đóng góp sức ngời, sức của phục vụ cho bộ máy quan liêu ngày càng phình
to và sự tiêu xài hoang phí của nó. Cho nên, những biểu hiện "phục sinh"
đó cũng qua đi nhanh chóng, để lại đằng sau nó những cánh đồng hoang
hóa, những thành thị tiêu điều, nền kinh tế xác xơ. Xã hội CHNL lâm vào
khủng hoảng. Xã hội phong kiến ra đời thay thế nó.
24
Sự tan rã một cách nhanh chóng của xã hội CHNL và sự hình thành
xã hội phong kiến diễn ra nhờ những biến đổi to lớn trong đời sống kinh tế
dới tác động của Nhà nớc, chủ yếu biểu hiện ở việc lãnh địa hóa toàn bộ
ruộng đất trong xã hội, nông nô hóa giai cấp nô lệ, trang viên hóa nền kinh
tế. Chẳng hạn, ở xứ Gôlơ từ thời Sáclơ Mácten thế kỷ VII đến Saclơ Manhơ
thế kỷ IX, Nhà nớc đã ban hành và thực hiện một loạt chính sách khác
nhau, mà tiêu biểu là chính sách phân phong ruộng đất. Khác với chế độ
phong tặng ruộng đất trớc kia, chính sách phân phong ruộng đất của Saclơ
Mácten là chính sách ban cấp ruộng đất có điều kiện. Ruộng đất ban cấp
chỉ đợc sử dụng hết đời chứ không đợc truyền cho con cháu. Sang thế kỷ
IX, dới thời Saclơ Manhơ, do kết quả của chiến tranh chinh phục, chính
sách ban cấp ruộng đất có phần nới rộng hơn: Ngời đợc nhận đất ban cấp
với diện tích rộng hơn, đợc phép truyền cho con cháu. Nhờ vậy, giai cấp
phong kiến đợc hình thành ngày một đông đảo.
25
Sự tác động của Nhà nớc vào kinh tế không chỉ thấy ở La Mã, Gôlơ
thời cổ - trung đại, mà còn thấy phổ biến ở các nơi khác. ở phơng Đông,
ngay từ thời cổ đại, sự can thiệp, tác động của Nhà nớc vào kinh tế có phần
sâu sắc hơn. Do phải chịu nhiều tác động của thiên tai, chiến tranh xâm lợc,
ngời ở phơng Đông phải thờng xuyên tập hợp, đoàn kết thành các cộng
đồng. Lực lợng tổ chức, lãnh đạo cộng đồng làm những công việc đó chính
là Nhà nớc. Nh vậy, trong xã hội phơng Đông, ngoài những yếu tố mang
tính chất chung của lịch sử xã hội loài ngời (nh sự phân hóa giai cấp trong
xã hội - điều mà Mác và Ăngghen đã không ít lần đề cập đến - quy định sự
ra đời của Nhà nớc), những công việc mang tính chất chung nh bảo vệ chủ
quyền, toàn vẹn lãnh thổ quốc gia, chống thiên tai cũng là nguyên nhân
cơ bản (nếu không muốn nói là nguyên nhân quyết định) của sự ra đời Nhà
nớc. Chính vì lẽ đó, trong một chừng mực nhất định, có thể nói vai trò kinh
tế của Nhà nớc phơng Đông trong buổi bình minh của nó mang đậm tính
chất xã hội. Nói cụ thể hơn, tính chất đó còn bị chi phối chủ yếu bởi lợi ích
quốc gia, dân tộc chứ không phải chủ yếu là lợi ích giai cấp nh ở phơng
Tây và ở một số giai đoạn phát triển sau này của nó.
ở Việt Nam, sự can thiệp của Nhà nớc vào kinh tế diễn ra rất sớm.
Từ thời Hùng Vơng dựng nớc - thời kỳ mà theo các nhà sử học, Nhà nớc
còn đang trong hình thức phôi thai - sự can thiệp của Nhà nớc Việt Nam
vào kinh tế đã rõ nét. Nhà nớc giữ vai trò chỉ huy xây dựng các công trình
công cộng, nh đắp đê chống lũ, xây dựng hệ thống kênh, ngòi, làm đờng sá.
Trong giai đoạn xây dựng quốc gia phong kiến độc lập, sự can thiệp của
Nhà nớc vào quá trình kinh tế đã góp phần giải phóng sức sản xuất (chủ
yếu trong lĩnh vực nông nghiệp), tạo điều kiện cho QHSX phong kiến ra
đời.
26
Từ thế kỷ X đến thế kỷ XV, các triều đại Ngô, Đinh, tiền Lê, Lý,
Trần và Lê sơ đều tập trung sự chú ý của mình vào vấn đề ruộng đất, cơ sở
quan trọng nhất của phơng thức sản xuất phong kiến. Trớc đó, ruộng đất ở
Việt Nam tồn tại dới hai hình thức chủ yếu: đất công thuộc quyền sở hữu
của Nhà nớc và đất t thuộc quyền sở hữu của t nhân. Các triều đại phong
kiến nói trên đã đa ra những chính sách làm thay đổi mối quan hệ của hai
hình thức sở hữu này.
Nhà Đinh đã thực hiện chế độ phong cấp ruộng đất- chế độ ban th-
ởng ruộng đất thuộc quyền sở hữu của Nhà nớc cho các quan lại, quí tộc,
ngời có công với triều đình. Sang thời Lý, Lê chính sách này có những thay
đổi căn bản. Thời Lý, ruộng phong cấp đợc chia làm hai loại: ruộng thực ấp
và thực phong. Ruộng thực phong ràng buộc ngời dân ở đó với quý tộc, còn
ruộng thực ấp không chỉ ràng buộc dân với quý tộc mà còn ràng buộc họ
với Nhà nớc. Do vậy, thời Lý ruộng thực ấp đợc chú ý hơn. Thời Trần,
chính sách phong cấp ruộng đất phát triển theo hớng có lợi cho sự ra đời
chế độ t hữu ruộng đất. Ruộng đất phân phong không còn chia làm hai loại
nh trớc, mà đợc hiểu nh chế độ thực phong thời Lý. Chính vì vậy, nhiều thái
ấp của quý tộc Trần ra đời. Bên cạnh việc phong thái ấp, nhà Trần còn cho
phép vơng hầu, quý tộc chiêu mộ dân nghèo khai hoang lập điền trang.
Khác với các thái ấp, các điền trang thuộc quyền sở hữu của quý tộc.
Cuối thời Trần, điền trang, thái ấp đều đợc mở rộng, nhiều công dân
biến thành nông nô, nô tì chịu sự áp bức bóc lột nặng nề. Quan hệ nông nô,
nô tì lúc đó đã đi ngợc lại xu thế phát triển của sản xuất xã hội, do vậy, đã
kìm hãm sức sản xuất, đẩy nhà Trần lâm vào khủng hoảng kinh tế, chính trị
và đi đến sụp đổ. Sự sụp đổ của nhà Trần là một bằng chứng lịch sử cho
thấy vai trò quyết định của kinh tế trong mối quan hệ với Nhà nớc, đồng
thời, nó cũng cho thấy, khi Nhà nớc tác động ngợc với xu thế phát triển
khách quan của kinh tế - xã hội thì sớm hay muộn nó cũng sẽ bị diệt vong.
27
Nhà Hồ thay thế nhà Trần. Hồ Quý Ly đã ban hành chính sách "hạn
điền" và "hạn nô". Với chính sách này, chế độ điền trang thái ấp, nông nô,
nô tì vẫn đợc thừa nhận, nhng số điền trang, thái ấp, nông nô, nô tì của quý
tộc Trần đã chuyển sang tay Nhà nớc. Bằng cách đó, nhà Hồ muốn tăng
quyền lực kinh tế, chính trị của mình lên. Tuy nhiên, về thực chất, chính
sách "hạn điền", "hạn nô" không góp phần giải phóng sức sản xuất đang bị
kìm hãm mà, ngợc lại, còn làm cho tình trạng này trầm trọng thêm.Vì vậy,
nhà Hồ cũng giống nh nhà Trần, đã bị tớc bỏ quyền thống trị trong xã hội.
Dới thời Lê sơ, năm 1477 Nhà nớc ban hành chính sách "lộc điền".
Theo chính sách này, chỉ có vua và quan tứ phẩm trở lên mới đợc hởng "lộc
điền". "Lộc điền" có một phần ruộng đất đợc cấp vĩnh viễn, còn phần lớn
chỉ đợc cấp cho sử dụng. Chính sách "lộc điền" đã đánh dấu một bớc phát
triển trong kinh tế Việt Nam. Nhờ có chính sách này, quan hệ địa chủ - tá
điền ra đời thay thế cho quan hệ nông nô, nô tì; chế độ t hữu có đợc bớc
phát triển đáng kể; sức sản xuất đợc giải phóng; năng suất lao động xã hội
tăng lên.
Bên cạnh ruộng đất thuộc sở hữu của Nhà nớc, có ruộng đất thuộc
sở hữu t nhân. Đó là số ruộng đất của địa chủ và nông dân tự canh, trong
đó, ruộng đất của địa chủ là chủ yếu. Nhiều ý kiến cho rằng ruộng t ở Việt
Nam xuất hiện khá sớm, ngay từ thời Bắc thuộc, nhng dới chế độ phong
kiến Vào thời Lý, ruộng t mới đợc công nhận về pháp lý.
Sang thời Trần, Nhà nớc đã ban hành nhiều chính sách tạo điều kiện
cho sự phát triển của ruộng t. Nhà nớc đánh thuế ruộng t nhẹ hơn so với
ruộng công; bán ruộng công làm ruộng t; bồi thờng cho chủ ruộng, nếu
Nhà nớc lấy ruộng của họ sử dụng
28
Đến thế kỷ XV, thời Lê sơ, ruộng t có điều kiện phát triển mạnh mẽ
hơn. Nhà Lê đã ban hành nhiều chính sách phát triển ruộng t. Nhà nớc tạo
điều kiện, ủng hộ tình trạng "chiếm công vi t". Luật Hồng Đức cho phép
biến quyền chiếm hữu lâu năm thành quyền sở hữu, quy định các hình thức
bán đợ, bán vĩnh viễn ruộng đất trong nhân dân
Nh vậy, từ thế kỷ X đến thế kỷ XV, ruộng công và ruộng t luôn
trong tình trạng biến động. Sự biến động đó chủ yếu do việc thực thi các
chính sách cụ thể của Nhà nớc các triều đại phong kiến từ nhà Ngô đến nhà
Lê ban hành. Việc thực hiện các chính sách đó đã ảnh hởng nhiều đến sự
phát triển của kinh tế, đặc biệt trong lĩnh vực nông nghiệp.
Bên cạnh những chính sách ruộng đất, các triều đại phong kiến còn
quan tâm đến một số công việc khác có liên quan đến phát triển nông nghiệp.
Thời Lý -Trần, Nhà nớc cho xây dựng các công trình thủy lợi lớn
nh đê Cơ Xá (thời Lý), đê Quai Vạc (thời Trần) Nhà vua trực tiếp, hoặc
gián tiếp thông qua các quan chức chuyên trách trông coi hệ thống đê điều.
Nhà nớc rất chú ý bảo vệ sức lao động nông nghiệp. Năm 1010, vua Lý ra
chiếu bắt những ngời dân lu vong phải trở về quê cũ làm ăn. Các vua thời
Lý - Trần thực hiện chính sách "ngụ binh nông", "sử dân dĩ thời" nhằm
sử dụng tốt mọi lực lợng vào sản xuất nông nghiệp.
Việc xem xét một số chính sách của các triều đại phong kiến Việt
Nam từ thế kỷ X đến thế kỷ XV trên đây cho thấy, khi Nhà nớc đề ra đợc
các chính sách phù hợp với xu thế phát triển chung của sản xuất (thời Lý-
Trần, Lê sơ) thì sản xuất phát triển mạnh, xã hội hng thịnh và phát triển;
ngợc lại, nếu chính sách đề ra không giải quyết đợc mâu thuẫn giữa nhu
cầu phát triển sản xuất và các lực lợng đang kìm hãm nó (thời kỳ cuối của
các triều đại và nhất là thời nhà Hồ) thì sản xuất xã hội đình trệ và, sớm hay
muộn, triều đại ấy cũng tan rã.
29

Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×