Tải bản đầy đủ

Pháp chế xã hội chủ nghĩa trong tổ chức và hoạt động của hải quan việt nam hiện nay thực tiễn ở thừa thiên huế

Pháp chế xã hội chủ nghĩa trong tổ chức và hoạt
động của Hải Quan Việt nam hiện nay.Thực tiễn
ở Thừa thiên Huế

Lê Chí Vinh

Khoa Luật
Luận văn ThS ngành: Lý luận lịch sử NN&PL; Mã số: 60 38 01
Người hướng dẫn: TS. Nguyễn Hoàng Anh
Năm bảo vệ: 2012


Abstract: Xây dựng khái niệm, đặc trưng của pháp chế Xã hội chủ nghĩa (XHCN) trong
tổ chức hoạt động của Hải quan. Phân tích vai trò của pháp chế XHCN trong tổ chức hoạt
động của Hải quan. Phân tích các yêu cầu đảm bảo pháp chế trong tổ chức và hoạt động
của Hải quan Huế hiện nay. Đề xuất giải pháp đảm bảo pháp chế trong tổ chức và hoạt
động của Hải quan Huế.

Keywords: Pháp chế; Xã hội chủ nghĩa; Hải quan; Pháp luật Việt Nam; Huế

Content

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài
Trên cơ sở hệ thống pháp luật về tổ chức và hoạt động của Hải quan không ngừng được xây
dựng, hoàn thiện. Từ Pháp lệnh Hải quan 1990, Luật Hải quan 2001 đến Luật sửa đổi, bổ sung
một số điều của Luật hải quan ngày 26/5/2005, tổ chức và hoạt động của Hải quan Huế ngày
càng đáp ứng yêu cầu của công cuộc đổi mới, góp phần thúc đẩy hội nhập nền kinh tế và đảm
bảo an ninh chính trị, kinh tế, trật tự an toàn xã hội, đảm bảo nguồn thu ngân khố quốc gia; đồng
thời, góp phần củng cố, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa (XHCN) trong tổ chức và hoạt
động của Hải quan Việt Nam nói chung và Hải quan Huế nói riêng hiện nay.
Thực tiễn cho thấy, thời gian qua, pháp chế XHCN trong tổ chức và hoạt động của Hải quan
không ngừng được tăng cường nhằm bảo đảm cho pháp luật hải quan đi vào đời sống kinh tế - xã
hội và được tuân thủ nghiêm chỉnh. Hàng loạt vụ buôn lậu, gian lận thương mại, trốn thuế xuất
nhập khẩu được phát hiện và xử lý kịp thời; góp phần quan trọng cho việc thu ngân sách nhà
nước và giữ gìn an ninh kinh tế, chính trị, trật tự an toàn xã hội.
Tuy nhiên, pháp chế XHCN trong tổ chức và hoạt động của Hải quan Huế còn nhiều tồn
tại không ít những yếu kém, khiếm khuyết, như:
- Việc áp dụng hệ thống pháp luật về tổ chức và hoạt động của Hải quan Việt nam vẫn còn
có nhiều bất cập, thiếu tính ổn định, thiếu tính khả thi, chưa phù hợp, đáp ứng kịp thực tiễn đổi
mới, mở cửa, hội nhập kinh tế quốc tế, chưa phù hợp với các điều ước quốc tế mà Việt Nam ký
kết hoặc gia nhập. Công tác rà soát, góp ý việc xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật
về tổ chức và hoạt động hải quan vẫn còn thiếu chủ động, chưa trở thành yếu tố góp phần tích
cực vào việc hoàn thiện, đổi mới cơ cấu tổ chức, hoạt động hải quan.
- Sự tuân thủ pháp luật và chấp hành pháp luật hải quan của một bộ phận cán bộ, công chức
hải quan và tổ chức, cá nhân hoạt động xuất nhập khẩu vẫn còn không nghiêm dẫn đến phát sinh
tiêu cực, phiền hà, tham nhũng, gian lận thương mại, buôn lậu, trốn thuế, lừa đảo rút "ruột" ngân
sách nhà nước điều này tác động không nhỏ đến đời sống kinh tế - xã hội, kinh tế đối ngoại,
đầu tư, du lịch, gây mất lòng tin của Đảng, Nhà nước, nhân dân đối với hệ thống tổ chức và hoạt
động của Hải quan.
- Cơ chế đảm bảo cho việc tuân thủ và chấp hành nghiêm minh pháp luật, pháp chế hải quan
còn thiếu rõ ràng, minh bạch, chưa hiệu quả, cũng như chưa đủ tính cưỡng chế đảm bảo duy trì
việc tuân thủ và thực hiện pháp luật một cách thường xuyên, liên tục và đồng bộ
Vì các lý do trên tôi chọn đề tài: "Pháp chế xã hội chủ nghĩa trong hoạt động của Hải quan
Việt Nam hiện nay - qua thực tiễn tỉnh Thừa Thiên - Huế” để nghiên cứu và viết luận văn thạc sĩ
Luật học.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Pháp chế XHCN là một trong những phạm trù pháp lý cơ bản có ý nghĩa cả về mặt lý luận
và thực tiễn của đời sống chính trị, kinh tế và xã hội. Vì vậy được nhiều học giả quan tâm nghiên
cứu, xem xét trên nhiều bình diện và nhiều khía cạnh khác nhau.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn


- Về đối tượng nghiên cứu của luận văn: trên cơ sở nghiên cứu pháp chế XHCN, luận
văn nghiên cứu đặc điểm và nội dung vai trò của pháp chế XHCN trong tổ chức và hoạt động
của Hải quan Việt nam. Nghiên cứu thực trạng, tìm hiểu nguyên nhân của thực trạng pháp
chế XHCN trong tổ chức và hoạt động của Hải quan Huế. Luận giải các giải pháp nhằm bảo
đảm vai trò pháp chế trong tổ chức và hoạt động của Hải quan Huế hiện nay.
- Phạm vi nghiên cứu của luận văn:
Luận văn nghiên cứu pháp chế XHCN trong tổ chức và hoạt động của Hải quan Huế.
Thời gian từ năm 1990 đến nay.
4. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
* Mục đích nghiên cứu
Luận văn có mục đích nghiên cứu là trên cơ sở nghiên cứu lý luận và đánh giá thực trạng
pháp chế XHCN trong lĩnh vực Hải quan Huế, luận văn đề xuất các giải pháp nhằm bảo đảm
pháp chế trong tổ chức và hoạt động của Hải quan Huế hiện nay.
* Nhiệm vụ của luận văn
Để thực hiện mục đích nghiên cứu trên nhiệm vụ của luận văn là:
- Xây dựng khái niệm, đặc trưng của pháp chế XHCN trong tổ chức hoạt động của Hải
quan.
- Phân tích vai trò của pháp chế XHCN trong tổ chức hoạt động của Hải quan.
- Phân tích các yêu cầu đảm bảo pháp chế trong tổ chức và hoạt động của Hải quan Huế
hiện nay.
- Đề xuất giải pháp đảm bảo pháp chế trong tổ chức và hoạt động của Hải quan Huế.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
- Cơ sở lý luận: Luận văn được thực hiện dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin,
tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về pháp luật và pháp chế
XHCN.
- Phương pháp nghiên cứu: dựa trên phương pháp luận duy vật biện chứng, duy vật lịch
sử của chủ nghĩa Mác - Lênin, luận văn đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể như:
lịch sử - cụ thể, phân tích - tổng hợp, kết hợp với phương pháp xã hội học, thống kê, so sánh.
6. Những điểm mới của luận văn
Là luận văn nghiên cứu tương đối toàn diện và hệ thống "Pháp chế xã hội chủ nghĩa trong
tổ chức và hoạt động của Hải quan Việt Nam, thực tiễn ở Thừa Thiên Huế". Vì vậy, có những
điểm mới cụ thể sau:
- Xác định khái niệm, nội dung pháp chế trong tổ chức và hoạt động của Hải quan Huế.
- Chỉ ra được những ưu điểm, tồn tại và nguyên nhân của những ưu điểm, tồn tại về pháp
chế XHCN trong tổ chức và hoạt động của Hải quan Huế hiện hành.
- Xác lập hệ thống giải pháp có tính khả thi nhằm đảm bảo pháp chế XHCN trong tổ chức
và hoạt động của Hải quan Huế.
7. Ý nghĩa của luận văn
- Về mặt lý luận: Luận văn góp phần làm phong phú thêm lý luận về pháp chế XHCN trong
lĩnh vực cụ thể.
- Về thực tiễn: Kết quả luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho các cơ quan ban
ngành, các trường học và những người quan tâm đến lĩnh vực này.
8. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn được kết cấu
thành 3 chương, 8 mục.
Chương 1: Cơ sở lý luận về pháp chế xã hội chủ nghĩa trong tổ chức và hoạt động của Hải
quan Việt Nam
Chương 2: Thực trạng pháp chế xã hội chủ nghĩa trong tổ chức và hoạt động của Hải quan
Huế
Chương 3: Yêu cầu và giải pháp bảo đảm pháp chế xã hội chủ nghĩa trong tổ chức và hoạt
động của Hải quan Huế hiện nay

Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁP CHẾ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA TRONG TỔ CHỨC VÀ HOẠT
ĐỘNG CỦA HẢI QUAN VIỆT NAM

1.1. VỊ TRÍ, VAI TRÒ VÀ ĐẶC TRƯNG VỀ TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA HẢI
QUAN VIỆT NAM
1.1.1. Vị trí, vai trò về tổ chức và hoạt động của ngành Hải quan
Hệ thống luật lệ của các nước đều xác định vị trí, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, nội dung
hoạt động cũng như cơ cấu, tổ chức hải quan của Nhà nước đó. Trong đời sống chính trị, kinh tế-
xã hội quốc gia, vị trí, vai trò của Hải quan các tỉnh, liên tỉnh, thành phố nói chung và Hải quan
Huế nói riêng được thể hiện chủ yếu ở những phương diện sau đây:
Một là, Tổ chức Hải quan là một công cụ quan trọng trong việc bảo hộ, thúc đẩy sự phát
triển nền kinh tế sản xuất hàng hoá trong nước. Thông qua hàng rào phi thuế quan để kiểm tra,
kiểm soát chặt chẽ hàng hoá, phương tiện xuất - nhập khẩu, xuất - nhập cảnh, quá cảnh; đấu
tranh, ngăn chặn, đấu tranh mạnh mẽ với các hoạt động buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hoá,
tiền tệ, qua biên giới.
Hai là, tổ chức Hải quan và hoạt động của Hải quan được xác định là một trong những công
cụ góp phần không nhỏ vào việc bảo vệ an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội của mỗi nước.
Ba là, tổ chức Hải quan, hoạt động hải quan góp phần quan trọng đáng kể vào việc cải thiện
môi trường đầu tư nước ngoài, thúc đẩy và thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài của mỗi quốc gia.
1.1.2. Những đặc trưng về tổ chức và hoạt động của Hải quan.
Hải quan Việt nam là một thiết chế của Nhà nước. Thiết chế này được thành lập để trực tiếp
quản lý nhà nước các hoạt động hải quan, là cơ quan có chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền thực
hiện hoạt động hải quan theo các quy định của hệ thống pháp luật. Địa vị pháp lý Hải quan được
xác định trong nhiều văn bản pháp luật thuộc hệ thống pháp luật Việt Nam.
- Vị trí, vai trò và hệ thống tổ chức của ngành Hải quan
Hiện nay, theo Luật Hải quan, "Hải quan Việt Nam được tổ chức và hoạt động theo nguyên
tắc tập trung, thống nhất. Tổng cục trưởng Tổng cục Hải quan thống nhất quản lý, điều hành hoạt
động của Hải quan các cấp; Hải quan cấp dưới chịu sự quản lý, chỉ đạo của Hải quan cấp trên".
- Chức năng, nhiệm vụ của Hải quan Việt nam.
Thứ nhất, Thực hiện thủ tục Hải quan, kiểm tra, giám sát hải quan đối với hàng hóa xuất
khẩu, nhập khẩu, chuyển cửa khẩu, quá cảnh và phương tiện vận tải xuất cảnh, nhập cảnh, quá
cảnh theo quy định của pháp luật.
Thứ hai, Thực hiện các biện pháp nghiệp vụ cần thiết để chủ động phòng, chống buôn lậu,
vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới trong phạm vi địa bàn hoạt động. Phối hợp thực
hiện nhiệm vụ phòng, chống buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới ngoài phạm
vi địa bàn hoạt động của Cục Hải quan theo quy định của pháp luật và Tổng cục Hải quan.
Thứ tư, kiến nghị chủ trương, biện pháp quản lý nhà nước về hải quan đối với hoạt động
xuất khẩu, nhập khẩu, xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh và chính sách thuế đối với hàng hoá xuất
khẩu, nhập khẩu. Phải nói rằng, nhiệm vụ này được phái sinh từ ba nhiệm vụ nêu trên.
Hai là, tổ chức, hoạt động Hải quan Việt Nam có mối quan hệ chặt chẽ với các cơ quan
khác.
- Mối quan hệ của Tổ chức Hải quan với cơ quan quản lý nhà nước cấp trên.
Hiện nay, Tổng cục Hải quan là cơ quan trực thuộc Bộ Tài chính, Bộ Tài chính nằm
trong cơ cấu tổ chức Chính phủ, tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc tập trung dân chủ,
trong khi đó. Hải quan Việt Nam lại tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc "tập trung, thống
nhất".
- Mối quan hệ giữa Tổng cục Hải quan với các cấp, đơn vị hải quan trực thuộc.
Cơ quan hành chính nhà nước chủ yếu chịu trách nhiệm thực hiện quản lý nhà nước lĩnh vực
hải quan là các cơ quan Hải quan, gọi chung là Hải quan Việt Nam. Theo Luật Hải quan, "Hải
quan Việt Nam được tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc tập trung, thống nhất. Tổng cục
trưởng Tổng cục Hải quan thống nhất quản lý, điều hành hoạt động của Hải quan các cấp; Hải
quan cấp dưới chịu sự quản lý, chỉ đạo của Hải quan cấp trên".
- Mối quan hệ giữa Hải quan với các cơ quan, đơn vị hữu quan.
Luật Hải quan xác định rõ: "Tổng cục Hải quan là cơ quan giúp Chính phủ thực hiện thống
nhất quản lý nhà nước về hải quan"; các cơ quan khác của Nhà nước có trách nhiệm phối hợp
thực hiện quản lý nhà nước lĩnh vực hải quan, như: Biên phòng, Cảnh sát biển, Cảnh sát kinh tế,
Kiểm dịch động vật, Kiểm dịch thực vật, Kiểm dịch y tế, Kiểm tra văn hoá, uỷ ban nhân dân các
cấp. Ngân hàng, Kho bạc, Tổ chức, cá nhân thực hiện xuất - nhập khẩu, quá cảnh hàng hoá,
xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh phương tiện vận tải là đối tượng quản lý có nghĩa vụ thực hiện
các quyết định, yêu cầu phối hợp thực hiện pháp luật của cơ quan hải quan.
- Mối quan hệ giữa Hải quan với một số cơ quan quyền lực nhà nước và hệ thống chính trị.
Trong lĩnh vực quản lý nhà nước về hải quan, thực hiện thẩm quyền giám sát, ngoài các cơ
quan, tổ chức, cá nhân, như Quốc hội, Đại biểu Quốc hội theo Luật tổ chức Quốc hội và Luật
giám sát Quốc hội, và thêm vào đó còn gồm các cơ quan, tổ chức, cá nhân được quy định trong
Luật Hải quan, gồm:
1.2. KHÁI NIỆM, ĐẶC TRƯNG CỦA PHÁP CHẾ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA TRONG TỔ CHỨC
VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA HẢI QUAN
1.2.1. Khái niệm pháp chế xã hội chủ nghĩa
Pháp chế XHCN là một khái niệm, một phạm trù pháp lý cơ bản của khoa học pháp lý
XHCN. Đây là vấn đề không phải là mới mẻ. Song, sau khi các nước XHCN ở Đông Âu và
Liên Xô sụp đổ, các nước trong hệ thống XHCN đã đều tiến hành cải tổ đổi mới theo những
con đường phát triển riêng của mình, pháp chế được bàn đến trong một điều kiện mới. Trong
điều kiện của quá trình xây dựng nhà nước pháp quyền, quá trình xây dựng phát triển nền
kinh tế thị trường mở cửa, hội nhập quốc tế và xây dựng xã hội công dân, pháp chế XHCN
(theo quan niệm cũ) không dễ gì có sự thống nhất về nội hàm của nó. Vì vậy, để đưa ra được
một khái niệm về pháp chế XHCN một cách tương đối hoàn chỉnh, đúng với tên gọi của nó
cần tiếp cận từ nhiều phương diện.
Thứ nhất, tiếp cận từ tư tưởng của các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin về pháp chế
XHCN, "pháp chế là một hiện tượng xã hội độc lập với tư cách là nhân tố của quyền lực chính
trị".
Thứ hai, tiếp cận từ quan điểm của Đảng ta về pháp chế XHCN trong các văn kiện Đại hội
Đảng toàn quốc lần thứ III đến lần thứ X, Đảng ta đều coi pháp chế XHCN là nguyên tắc tổ chức
và hoạt động của Nhà nước. Muốn nâng cao hiệu lực, hiệu quả của quản lý Nhà nước và phát
huy dân chủ XHCN phương pháp chủ yếu, tổng thể, toàn diện và thường xuyên là tăng cường
pháp chế XHCN.
Thứ ba, tiếp cận từ khái niệm pháp chế của khoa học pháp lý.
Có thể thấy rằng khái niệm (hay phạm trù) pháp chế XHCN được sự quan tâm nghiên cứu
của nhiều tác giả trong và ngoài nước. Song cho đến nay định nghĩa về pháp chế XHCN chưa
phải là đồng nhất về nội dung của khái niệm này.
Ở Việt Nam có các định nghĩa về pháp chế đáng chú ý sau đây:
- GS - TSKH Đào Trí Úc cho rằng: "pháp chế là sự hiện diện của một hệ thống pháp luật
cần và đủ để điều chỉnh các quan hệ xã hội, làm cơ sở cho sự tồn tại một trật tự pháp luật và
kỷ luật, là sự tuân thủ và thực hiện đầy đủ pháp luật trong tổ chức và hoạt động của Nhà
nước, của các cơ quan, đơn vị tổ chức và đối với công dân" [56, tr.680].
Mọi vi phạm pháp luật đều bị xử lý theo pháp luật XHCN được quy định tại Điều 12 Hiến
pháp năm 1992. Đồng tình với các khái niệm trên, theo tôi có thể hiểu pháp chế XHCN theo
những nội dung cơ bản sau đây:
Thứ nhất: Pháp chế là chế độ của đời sống chính trị xã hội: pháp luật và pháp chế là hai
hiện tượng xã hội khác nhau, độc lập tương đối với nhau, nhưng có mối quan hệ mật thiết với
nhau: pháp luật với tư cách là hệ thống quy phạm pháp luật là tiền đề, cơ sở của pháp chế.
Thứ hai: Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật. Nội dung này dường như là "lẽ thường
tình" và nó không phải là nội hàm của pháp chế. Thực tế không phải như vậy. Nhà nước phải
quản lý xã hội chủ yếu bằng pháp luật, phải "pháp trị" mới là hiện tượng pháp chế.
Thứ ba: các chủ thể của quan hệ pháp luật như các cá nhân, các pháp nhân, các hộ gia đình,
tổ hợp tác được nhấn mạnh theo tính chất của chủ thể là cơ quan nhà nước, các tổ chức Đảng,
các đơn vị vũ trang nhân dân, các tổ chức chính trị xã hội, xã hội nghề nghiệp và xã hội thuần
tuý cũng như các đơn vị kinh tế ở mọi thành phần kinh tế và công dân đều phải tôn trọng và thực
hiện Hiến pháp và pháp luật.
Thứ tư: Nội dung của pháp chế còn là "mọi vi phạm pháp luật đều bị xử lý theo pháp
luật. Vi phạm pháp luật là một hiện tượng xã hội. Nhưng pháp chế được thể hiện trong việc
dùng pháp luật, căn cứ vào pháp luật, đối chiếu với pháp luật mà xử lý mọi hành vi xâm
phạm đến an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội, xâm phạm đến lợi ích nhà nước, lợi ích tập
thể, các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân.
1.2.1. Khái niệm, đặc trưng của pháp chế xã hội chủ nghĩa trong tổ chức và hoạt động
của Hải quan
1.2.1.1. Khái niệm pháp chế xã hội chủ nghĩa trong tổ chức và hoạt động của Hải quan
Pháp chế XHCN trong tổ chức và hoạt động hải quan là một bộ phận của pháp chế
XHCN ở Việt Nam. Bộ phận pháp chế này đòi hỏi trong quá trình tổ chức và hoạt động Hải
quan phải tuân thủ các nguyên tắc pháp chế XHCN.
Theo định nghĩa trên pháp chế XHCN trong tổ chức và hoạt động của Hải quan có ba nội
dung cơ bản sau đây:
Thứ nhất, pháp luật được coi là công cụ chủ yếu để quản lý nhà nước trong lĩnh vực Hải
quan, các cơ quan Hải quan được tổ chức và hoạt động theo quy định của pháp luật.
Thứ hai, các cơ quan nhà nước, lực lượng vũ trang nhân dân, các cơ quan hải quan, cán
bộ công chức hải quan, các đơn vị kinh tế và mọi công dân phải tôn trọng và thực hiện pháp
luật về quản lý nhà nước về hải quan, về vận chuyển xuất nhập khẩu hàng hoá và thuế quan.
Thứ ba, mọi vi phạm pháp luật trong tổ chức và hoạt động hải quan đều bị xử lý theo pháp
luật.
1.2.1.2. Đặc trưng cơ bản của pháp chế xã hội chủ nghĩa trong tổ chức và hoạt động hải
quan .
Thứ nhất, pháp chế XHCN trong tổ chức và hoạt động của hải quan Huế được quy định bởi
Luật Hải quan và các quy phạm pháp luật khác.
Pháp luật là tiền đề cơ sở của pháp chế nói chung. Tổ chức hải quan Huế được quy định
bằng pháp luật hải quan và các văn bản quy phạm pháp luật khác có liên quan. Nhưng Luật Hải
quan là cơ bản, chủ yếu. Cơ quan hải quan là cơ quan quản lý hành chính nhà nước nhưng là
cơ quan quản lý hành chính đặc biệt. Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn thể hiện lĩnh vực hoạt
động đặc thù: quản lý kiểm soát xuất nhập khẩu hàng hoá qua biên giới, thu thuế xuất nhập
khẩu, và còn là lực lượng phòng và đấu tranh với các tội vận chuyển trái phép, buôn lậu hàng
hoá, trốn thuế hải quan.
Thứ hai, pháp chế XHCN trong tổ chức hoạt động của ngành Hải quan được thể hiện ở hành
vi pháp lý (hành động hay không hành động) phù hợp với pháp luật của các đơn vị trực thuộc,
của các đơn vị kinh tế, các tổ chức và công dân trong lĩnh vực hải quan trên địa bàn hoạt động
Hải quan .
Thứ ba, pháp chế XHCN trong tổ chức hoạt động hải quan Huế là phương thức bảo vệ,
bảo đảm lợi ích nhà nước quyền và lợi ích hợp pháp của các đơn vị kinh tế và mọi công dân
trong lĩnh vực hải quan.
Thứ tư, pháp chế XHCN trong tổ chức hoạt động hải quan là phương thức xây dựng lực
lượng hải quan trong sạch, vững mạnh, chống mọi vi phạm pháp luật của cán bộ công chức hải
quan.
Thứ năm, pháp chế XHCN trong tổ chức hoạt động hải quan là phương pháp phòng chống
tội phạm vận chuyển trái phép, buôn lậu và trốn thuế và các tội phạm khác xảy ra trên biên giới.

Chương 2
THỰC TRẠNG PHÁP CHẾ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA TRONG TỔ CHỨC VÀ HOẠT
ĐỘNG CỦA HẢI QUAN VIỆT NAM, THỰC TIỄN Ở THỪA THIÊN HUẾ

2.1. KHÁI QUÁT VỀ TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA HẢI QUAN HUẾ TỪ 1990
ĐẾN NAY
2.1.1. Khái quát về tổ chức hải quan Huế
2.1.1.1. Giai đoạn từ 1990 đến 2001
Đây là thời kỳ mà mọi hoạt động quản lý nhà nước về hải quan và tổ chức bộ máy của
ngành Hải quan chủ yếu được điều chỉnh bằng Pháp lệnh Hải quan. Những quy định của Pháp
lệnh Hải quan thể hiện sự kế thừa có chọn lọc, đánh giá sự tiến bộ, bước phát triển mới của
ngành Hải quan, cũng như xác định rõ hơn vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ, trọng trách trong
công cuộc xây dựng nền kinh tế thị trường nhiều thành phần, mở cửa, hội nhập kinh tế quốc tế
theo chủ trương của Đảng và Nhà nước. Chức năng, nhiệm vụ của Hải quan được xác định rõ
ràng là công cụ của Đảng và Nhà nước lập ra, duy trì nhằm phục vụ cho hoạt động kinh tế đối
ngoại, và Hải quan không sản xuất, không kinh doanh nên không phải là một cơ quan kinh tế;
nên được xác định rõ là cơ quan quản lý nhà nước về lĩnh vực hải quan, thực hiện quyền kiểm tra
hải quan mọi hoạt động xuất nhập khẩu, hoạt động kinh tế đối ngoại và chống buôn lậu. Hải
quan Huế, sau khi tách ra khỏi Hải quan Bình Trị Thiên, một mặt đảm bảo được sự lãnh đạo, chỉ
đạo trực tiếp của Tổng cục Hải quan, hạn chế được các khâu trung gian xa rời thực tế, chồng
chéo, dễ gây phiền hà, ách tắc và đã tạo thuận lợi cho xuất khẩu, nhập khẩu.
2.1.1.2. Giai đoạn từ 2001 đến nay
- Luật Hải quan đã tạo cơ sở pháp lý để củng cố Hải quan Huế tổ chức và hoạt động theo
nguyên tắc tập trung, thống nhất, phù hợp với tính chất và đặc điểm của hoạt động hải quan hiện
đại; so với hệ thống pháp luật trước đây, nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm đã được quy định
tương đối đầy đủ, đồng bộ, cơ chế thực hiện đã bước đầu hình thành và cơ bản đã phù hợp với
thông lệ của Hải quan trên thế giới. Chủ trương, định hướng xây dựng lực lượng Hải quan hiện
đại, chuyên nghiệp đã dần được đưa vào thực tiễn, trở thành mục tiêu, và mục đích của từng thời
đoạn cụ thể.
- Mối quan hệ phối hợp giữa ngành Hải quan với các ngành chức năng khác tiếp tục được
củng cố, tăng cường ở một tầm, vị thế mới, như: ký kết lại quy chế phối hợp mới giữa ngành Hải
quan với Bộ đội Biên phòng, ngành Hải quan với Cảnh sát kinh tế
2.1.2. Khái quát về hoạt động hải quan Huế
2.1.2.1. Giai đoạn từ 1990 đến 2001
Đây là giai đoạn mở đầu của bước chuyển từ nền kinh tế tập trung, bao cấp, sang nền kinh tế
thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, mở cửa, hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực, song, cũng
là giai đoạn Nhà nước thi hành chế độ quản lý độc quyền ngoại thương ở mức cao độ. Đối với
Hải quan Huế là giai đoạn có nhiều sự kiện quan trọng, một mặt, Nhà nước tiếp tục đề cao,
khẳng định quyền hạn của Hải quan trong các hoạt động kinh tế đối ngoại, đồng thời, cũng chỉ ra
những thách thức đối trong việc thực thi, gánh vác những nhiệm vụ trọng trách mà Đảng và Nhà
nước giao trong giai đoạn này.
* Về thủ tục hải quan
Pháp lệnh Hải quan đã qui định cụ thể nội dung, điều kiện làm thủ tục hải quan, thể hiện sự
tiến bộ trong xây dựng các văn bản pháp luật Hải quan; các quyền và nghĩa vụ của các chủ thể đã
được công khai hóa, họ biết phải làm gì và không phải làm gì khi tới các đơn vị Hải quan làm thủ
tục; Công khai hóa thủ tục hải quan là điều kiện để quản lý và phục vụ, phù hợp với yêu cầu dân
chủ, đổi mới. Tuy nhiên, việc lưu thông hàng hóa nhập khẩu hợp pháp thuận lợi, ngăn chặn việc
tiêu thụ hàng lậu trong thị trường nội địa, cần phải có những biện pháp quản lý chặt chẽ với từng
đối tượng sau khi đã hoàn thành thành thủ tục hải quan.
* Kiểm tra, giám sát hải quan
Hàng hóa, phương tiện vận tải là đối tượng kiểm tra, giám sát hải quan thường trực tiếp
hoặc gián tiếp liên quan đến các yếu tố nước ngoài. Vì vậy việc qui định cụ thể, công khai hóa
các yêu cầu quản lý là hết sức quan trọng; nó cũng có ý nghĩa hạn chế các vi phạm hải quan và
nâng cao chất lượng quản lý, xây dựng ý thức pháp luật nói chung.
- Kiểm tra giám sát hải quan là một hoạt động điển hình của hải quan. Các đơn vị Hải
quan đã nắm vững nội dung, các bước của quy trình kiểm tra, giám sát với từng đối tượng,
trong từng trường hợp cụ thể, để thực hiện tư tưởng chủ đạo quản lý tốt, đồng thời phục vụ
tốt và thông qua kiểm tra, giám sát, kịp thời phát hiện, để yêu cầu các chủ thể thực hiện đúng
pháp luật. Đồng thời, chính thông qua, việc kiểm tra, giám sát kịp thời kiến nghị sửa đổi, bổ
sung nhiều chính sách, quy định cho phù hợp với sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
* Tổ chức chống buôn lậu và vận chuyển trái phép hàng hóa, tiền tệ trái phép qua biên
giới.
Để thực hiện nhiệm vụ cơ bản này, Hải quan đã được pháp luật giao cho những quyền hạn
quan trọng:
- Tổ chức đấu tranh chống buôn lậu và vận chuyển hàng hóa trái phép qua biên giới;
- Áp dụng một số biện pháp quan trọng trong tố tụng hình sự và hành chính;
- Khởi tố, điều tra vụ án;
- Phối hợp với các cơ quan có thẩm quyền thực hiện chống buôn lậu, ngoài địa bàn hoạt
động của Hải quan;
2.1.2.2. Giai đoạn từ 2001 đến nay
Thủ tục hải quan, chế độ kiểm tra, giám sát hải quan được Luật hải quan quy định tại
Chương III. Nội dung này chiếm đến hơn 1/2 Luật hải quan, gồm 6 mục, 48/82 điều của Luật.
với hoạt động phòng, chống buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hoá qua biên giới được
quy định tại Luật hải quan theo đó: Hải quan Huế được tổ chức thực hiện nhiệm vụ phòng, chống
buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hoá qua biên giới"; "được thành lập đơn vị chuyên trách để thực
hiện nhiệm vụ phòng, chống buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hoá qua biên giới";
2.2. THỰC TRẠNG CỦA PHÁP CHẾ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA TRONG TỔ CHỨC CỦA
HẢI QUAN HUẾ NÓI RIÊNG VÀ HẢI QUAN VIỆT NAM NÓI CHUNG TỪ 1990 ĐẾN NAY
2.2.1. Giai đoạn từ 1990 đến 2001
Nhà nước tiếp tục khẳng định, nhấn mạnh, đề cao vị trí, vai trò, chức năng của ngành Hải
quan đối với sự nghiệp phát triển nền kinh tế thị trường, các hoạt động kinh tế đối ngoại, gian
lưu và hợp tác quốc tế, giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa, ngăn chặn đẩy lùi các làn gió
độc", bảo vệ an ninh chính trị, an ninh kinh tế, trật tự an toàn xã hội
Trong giai đoạn này, một khối lượng đồ sộ văn bản pháp luật về quản lý nhà nước lĩnh vực
hải quan đã được xây dựng, ban hành, và một số lượng không ít trong đó quy định về vị trí, chức
năng, nhiệm vụ, quyền hạn của ngành Hải quan nói chung và Hải quan Huế nói riêng ở trên các
lĩnh vực quản lý khác nhau của các hoạt động kinh tế đối ngoại.
- Vị trí, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan Hải quy định tại Pháp lệnh Hải quan được
Chính phủ thể chế tại hàng loạt Nghị định nhằm đảm bảo việc thực thi trong các hoạt động hải quan,
như: Nghị định số 171-HĐBT ngày 27-5-1991 ban hành Bản quy định cụ thể thủ tục hải quan và lệ
phí hải quan; Nghị định số 128-HĐBT ngày 19-4-1991 quy định phạm vi địa bàn hoạt động cụ thể và
khu vực kiểm soát của Hải quan Việt Nam; Nghị định số 16/CP ngày 7-3-1994 về chức năng, nhiệm
vụ và tổ chức bộ máy của Tổng cục Hải quan; Nghị định số 16/1999/NĐ-CP ngày 27-3-1999 quy
định về thủ tục hải quan, giám sát hải quan và lệ phí hải quan (thay thế Nghị định số 171-HĐBT)
* Đánh giá về pháp chế đối với tổ chức hải quan Huế
Đây là thời kỳ mà mọi hoạt động quản lý nhà nước về hải quan và tổ chức Hải quan Huế
chủ yếu được điều chỉnh bằng Pháp lệnh Hải quan. Những quy định của Pháp lệnh Hải quan đã
thể hiện sự kế thừa có chọn lọc, đánh giá sự tiến bộ, bước phát triển mới của Hải quan Huế,
- Nguyên tắc tập trung thống nhất đã đảm bảo cho hoạt động hải quan Huế có hiệu quả,
thông qua việc thực hiện thống nhất chính sách, pháp luật về hải quan, đảm bảo yêu cầu chỉ đạo,
tiến hành thông suốt, kịp thời tại các cửa khẩu hàng ngày hàng giờ diễn ra các hoạt động kinh tế,
văn hóa, đối ngoại, chính trị, trực tiếp hay gián tiếp liên quan đến các yếu tố nước ngoài
2.2.2. Giai đoạn từ 2001 đến nay
Ngày 29-6-2001, Quốc hội khoá X, kỳ họp thứ 9 đã thông qua Luật Hải quan, thay thế Pháp
lệnh Hải quan 1990. Để kịp thời điều chỉnh và quản lý thực tiễn các hoạt động kinh tế đối ngoại,
ngay sau khi Luật Hải quan ra đời. Thực tiễn pháp lý đã cho thấy, địa vị pháp lý, thẩm quyền của
Hải quan Huế, về cơ bản được củng cố, xây dựng trên cơ sở kế thừa có chọn lọc kinh nghiệm
thực tiễn của các giai đoạn trước đây, tiếp thu kế thừa kinh nghiệm của một số nước trên thế giới,
nội luật hoá điều ước quốc tế về hải quan.
Tóm lại: pháp chế xã hội chủ nghĩa đối với tổ chức và hoạt động hải quan Huế
Trải qua quá trình phát triển, gắn liền với quá trình mở cửa, hội nhập kinh tế quốc tế của đất
nước, Luật Hải quan đã thể chế hoá đường lối chủ trương của Đảng, cụ thể hoá nguyên tắc quản
lý kinh tế đối ngoại tại Hiến pháp 1992, kế thừa truyền thống lập pháp trong nước và kinh
nghiệm quốc tế; đã đáp ứng được yêu cầu cải cách nền hành chính nói chung, cải cách hành
chính ngành Hải quan nói riêng, đồng thời khẳng định: quản lý nhà nước về lĩnh vực hải quan đã
"tương đối" được luật hoá ở hầu hết các phương diện; đánh dấu một "mốc" mới về địa vị pháp lý,
thẩm quyền của Hải quan Huế trong hệ thống các cơ quan hành pháp.

2.3. THỰC TRẠNG PHÁP CHẾ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA TRONG HOẠT ĐỘNG CỦA HẢI
QUAN HUẾ TỪ 1990 ĐẾN NAY
2.3.1. Giai đoạn từ 1990 đến 2001
- Pháp lệnh Hải quan đã quy định nguyên tắc: hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu, phương tiện
vận tải xuất nhập cảnh đều phải làm thủ tục Hải quan và chỉ được đưa ra nước ngoài hoặc đưa
vào lưu thông trong nội địa Việt Nam sau khi đã hoàn thành thủ tục Hải quan;
2.3.2. Giai đoạn từ 2001 đến nay
Luật hải quan được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày
29/6/2001, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2002 thay thế Pháp lệnh Hải quan 1990, đã phát
huy hiệu quả tương đối toàn diện trong đời sống, được cộng đồng doanh nghiệp, cơ quan, tổ
chức và cá nhân liên quan đánh giá là một trong những đạo luật thể hiện được tinh thần đổi mới.
góp phần tích cực vào việc thúc đẩy phát triển kinh tế, xã hội, giữ gìn an ninh, thu hút đầu tư và
hội nhập quốc tế. Ngày 14-6-2005, Quốc hội đã ban hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của
Luật hải quan. Cùng với Luật hải quan, Chính phủ, Bộ lài chính đã ban hành các văn bản dưới
luật theo thẩm quyền để hướng dẫn thi hành Luật hải quan tạo thành một hệ thống các văn bản
làm cơ sở pháp lý cho các hoạt động hải quan.

Chương 3
YÊU CẦU VÀ GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM PHÁP CHẾ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA TRONG TỔ
CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA
HẢI QUAN HUẾ HIỆN NAY

3.1. YÊU CẦU BẢO ĐẢM PHÁP CHẾ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA TRONG TỔ CHỨC VÀ
HOẠT ĐỘNG CỦA HẢI QUAN HUẾ
Thực hiện đường lối đổi mới, mở cửa, giao lưu và hợp tác quốc tế, cùng với sự chuyển đổi
của nền kinh tế từ quan liêu, bao cấp sang kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, tổ
chức và hoạt động của cơ quan nhà nước nói chung, cơ quan hải quan nói riêng cũng phải đổi
mới cơ chế tổ chức và hoạt động. Có thể thấy rõ rằng, tổ chức và hoạt động của hải quan Huế đã
được đổi mới một bước, thu được những thành tựu đáng kể, thực hiện được các mục tiêu của
Đảng và Nhà nước trao cho.
3.1.1. Bảo đảm vai trò lãnh đạo của Đảng trong tổ chức và hoạt động của Hải quan
Huế
Nguyên tắc Đảng cộng sản Việt Nam là lực lượng duy nhất lãnh đạo Nhà nước và xã hội đã
được khẳng định tại Hiến pháp - đạo luật cơ bản, có giá trị pháp lý cao nhất bao trùm tất cả hệ
thống pháp luật ở nước ta. Đảng lãnh đạo Nhà nước và xã hội là tất yếu khách quan, có tính lịch
sử. Chủ trương xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã được Đảng khẳng
định trong các văn kiện quan trọng đó là: Tại các Nghị quyết đại hội Đảng từ khoá VII đến khoá
X đã thể hiện Đảng lãnh đạo Nhà nước, lãnh đạo xã hội, đại diện cho giai cấp công nhân, nông
dân và tầng lớp trí thức, ý chí của Đảng là ý chí chí của nhân dân, được thể hiện trong các văn
kiện của Đảng. Đảng lãnh đạo nhà nước và xã hội là lãnh đạo chính trị. Thông qua cương lĩnh,
chủ trương, kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội tại các nghị quyết Đảng định hướng chính sách và
chủ trương tổ chức và hoạt động cho Nhà nước.
3.1.3. Pháp chế xã hội chủ nghĩa trong tổ chức và hoạt động của hải quan Huế phải
đáp ứng các yêu cầu mục tiêu phát triển, hiện đại hóa hải quan
Hệ thống tổ chức và hoạt động hải quan Huế được hiện đại hóa, không chỉ đáp ứng các yêu
cầu và thích hợp với một nền sản xuất hàng hóa và công nghiệp hóa và hướng về xuất khẩu, tạo
điều kiện cho xuất khẩu, mà còn đảm bảo việc giảm thiểu các trở ngại cho lưu thông hàng hóa,
giảm thiểu các biện pháp kiểm soát trực tiếp, thủ công với sự hiện diện trực tiếp, tiếp xúc giữa
cán bộ, công chức Hải quan với hàng hóa, phương tiện, hành khách xuất nhập cảnh, để từ đó là
một biện pháp giảm được tiêu cực, phiền hà, lãng phí thời gian, tiền bạc, vật chất của nhân đần.
3.1.4. Pháp chế xã hội chủ nghĩa trong tổ chức và hoạt động hải quan Huế phải đáp
ứng yêu cầu xây dựng lực lượng hải quan chuyên nghiệp, minh bạch, hiệu quả
Chủ trương của Đảng về xây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ, công chức đó là "đổi mới
chính sách cán bộ và công tác quản lý cán bộ, xây dựng chế độ công vụ rõ ràng, minh bạch, đội
ngũ cán bộ, công chức có đủ phẩm chất và năng lực gắn với chế độ hưởng thụ thỏa đáng và công
bằng. Thực hiện đầy đủ nguyên tắc công khai, minh bạch, dân chủ và phục vụ dân đối với các cơ
quan và công chức nhà nước" [17, tr.254].
3.1.5. Pháp chế xã hội chủ nghĩa trong tổ chức và hoạt động hải quan Huế phải đảm bảo
yêu cầu phát triển sự hợp tác kinh tế, đầu tư, giao lưu quốc tế
Phát triển sự hợp tác kinh tế quốc tế, đẩy mạnh các hoạt động thu hút đầu tư sản xuất, kinh
doanh, tạo điều kiện thuận lợi cho các hoạt động giao lưu quốc tế không chỉ là một chính sách,
chủ trương của Đảng trong các văn kiện, mà là một thách thức thực tiễn trong bối cảnh cạnh
tranh kinh tế quốc tế và tạo ảnh hưởng về chính trị, văn hóa, xã hội lên xã hội dân sự toàn cầu.
Điểm quan trọng hơn đó là, hợp tác kinh tế, đầu tư, giao lưu quốc tế đã được đặt ra và yêu cầu
thực thi dưới "sức ép"của các chuẩn mực quốc tế, các cam kết quốc tế mà Việt Nam đã đang và
sẽ phải tiến hành trong khuôn khổ là thành viên của các tổ chức quốc tế hoặc các điều ước quốc
tế đã ký kết hoặc gia nhập. Cũng chính vì điều này, tổ chức và hoạt động hải quan Huế phải được
xây dựng, phát triển, cải cách, thay đổi nhằm thích ứng với điều kiện mới của các yêu cầu về
chính trị, kinh tế, xã hội nước ta trong bối cảnh cần phải chủ động, tích cực hơn và làm chủ được
các liến trình của toàn cầu hóa, giúp cho Đảng và Nhà nước thúc đẩy, tìm kiếm các lợi ích quốc
gia, lợi ích dân tộc, đồng thời kiểm soát, hạn chế, đầy lùi được các mặt, các yếu tố tiêu cực của
toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế, đầu tư quốc tế cũng như giao lưu quốc tế thông qua văn hóa,
tôn giáo, nghệ thuật,
3.1.6. Pháp chế xã hội chủ nghĩa trong tổ chức và hoạt động hải quan Huế phải đảm
bảo yêu cầu thu đủ ngân sách nhà nước, tạo thuận lợi cho thương mại, xuất nhập cảnh, du
lịch
Đảm bảo yêu cầu thu đúng, thu đủ ngân sách nhà nước là một trong những vấn đề đặt ra cho
Hải quan Huế trong khi thiết lập các tổ chức và hoạt động của mình. Thu đúng, thu đủ ngân sách
hằng năm đồng nghĩa với việc tổ chức và hoạt động hải quan phải được thiết lập và thực thi
nhiệm vụ đúng với yêu cầu của nền kinh tế thương mại quốc tế đặt ra.
3.2. GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM PHÁP CHẾ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA TRONG TỔ CHỨC VÀ
HOẠT ĐỘNG CỦA HẢI QUAN HUẾ TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
3.2.1. Phát huy dân chủ, tăng cường pháp chế trong tổ chức và hoạt động của hải quan
Huế
Dân chủ là khát vọng lâu đời của loài người, của các dân tộc. Dân chủ là yêu cầu của xã hội
pháp quyền, của xã hội dân sự. Dân chủ luôn luôn gắn liền với pháp chế, pháp quyền. Pháp chế, pháp
quyền văn minh phải chứa đựng trong nó tinh thần của dân chủ. Dân chủ trong tổ chức và hoạt động
của cơ quan nhà nước nói chúng, cơ quan hải quan nói riêng, có tính nhân văn, gần dân, vì dân và
bảo vệ dân làm nền tảng tinh thần của việc xây dựng tổ chức, các nguyên lý hoạt động của tổ chức và
hướng đến thực hiện các mục tiêu chủ quyền nhân đần. Pháp chế phải bảo đảm cho tổ chức và hoạt
động của hải quan đáp ứng đầy đủ tinh thần của dân chủ pháp quyền, trong đó có các quyền tự do
thân thể, quyền tự do đi lại, quyền tự do kinh doanh, quyền tự do giao lưu và các quyền, lợi ích khác
của con người.
3.2.2. Đổi mới, hoàn thiện hệ thống thể chế về tổ chức và hoạt động của hải quan Huế
Đổi mới, hoàn thiện thể chế về tổ chức và hoạt động của hải quan Huế là một nhu cầu tất
yếu của việc xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa trong lĩnh vực quản
lý nhà nước về hải quan. Trong bối cảnh chủ động hội nhập và toàn cần hóa kinh tế, đòi hỏi nước
ta phải tuân thủ các cam kết quốc tế.
3.2.3. Tăng cường sự giám sát, kiểm tra, kiểm soát của các thiết chế quyền lực công
cộng đối với tổ chức và hoạt động của hải quan Huế
Trong Nhà nước pháp quyền, tổ chức và hoạt động của cơ quan nhà nước phải được đặt
dưới sự giám sát, kiểm tra, kiểm soát của các thiết chế quyền lực công cộng. Các thiết chế quyền
lực công cộng này được quy định trong Hiến pháp và được thể chế nhiệm vụ, quyền hạn và trách
nhiệm bằng các luật. Thiết chế quyền lực công cộng là các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị xã
hội làm nền tảng cho tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước. Tổ chức chính trị, tổ chức
chính trị - xã hội là các tổ chức mang quyền lực nhân nhân, đại diện cho quyền lực nhân dân.
3.2.4. Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra sự tuân thủ pháp luật về tổ chức và
hoạt động của hải quan Huế
Trong bối cảnh hội nhập và toàn cầu hóa kinh tế, nhất là khi nước ta đã là thành viên của Tổ
chức Thương mại Thế giới thì tổ chức và hoạt động của các cơ quan nhà nước phải được tái thiết
kế cơ cấu tổ chức và hoạt động của cơ quan nhà nước đáp ứng yêu cầu thực tiễn đặt ra. Trong
điều kiện một đảng cầm quyền, quyền lực nhà nước tập trung ở cơ quan cao nhất là Quốc hội và
phân chia thành: quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp. Trong đó, cơ quan hành pháp, là cơ quan
thực thi tất cả các luật pháp đã được ban hành, do vậy, xu hướng lạm quyền, lộng quyền bộc lộ
và phát triển mạnh mẽ.
3.2.5. Nâng cao năng lực tổ chức và hoạt động của hải quan các cấp
Năng lực chỉ đạo, lãnh đạo của thủ trưởng đơn vị biểu thị ở năng lực tổ chức, sử dụng tốt
nguồn nhân lực (cán bộ, công chức), phân công đúng người, đúng việc, biết động viên mọi người
làm việc có hiệu quả. h dân.
3.2.6. Đẩy mạnh hoạt động tuyên truyền, phổ biến, giáo dục, nâng cao trình độ văn
hóa, năng lực áp dụng pháp luật cho đội ngũ cán bộ, công chức hải quan Huế
Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật. Tuyên truyền, phổ biến, giáo
dục pháp luật, giáo dục cho đội ngũ cán bộ, công chức hải quan Huế phải được xác định là một
nhiệm vụ thường xuyên, liên tục từ đó góp phần quan trọng vào việc nâng cao ý thức pháp luật, thực
hiện đúng pháp luật của đội ngũ cán bộ, công chức. Tuyên truyền phổ biến, giáo dục pháp luật phải
gắn với việc tuyên truyền, giáo dục đạo đức cho đội ngũ cán bộ, công chức. Bởi vì, pháp luật là cơ sở
hình thành nên đạo đức xã hội, đạo đức cán bộ, công chức, đồng thời, đạo đức làm nền tảng cho việc
tuân thủ và thực hiện pháp luật.

KẾT LUẬN

Tổ chức và hoạt động của Hải quan Việt Nam trong điều kiện mở cửa, phát triển nền
kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, hội nhập kinh tế quốc tế, một mặt phải đảm
bảo hoạt động quản lý hải quan tạo thuận lợi, thông thoáng, tạo điều kiện cho phát triển
thương mại, đầu tư, du lịch, nhưng phải đảm bảo được mục tiêu giữ gìn an ninh chính trị, an
ninh quốc gia, an ninh kinh tế, trật tự an toàn xã hội. Để đảm bảo được các mục tiêu này,
ngoài yếu tố tăng cường xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật, đảm bảo một hành lang
pháp lý rõ ràng, minh bạch, phù hợp với thực tiễn, phù hợp với các tiêu chuẩn quốc tế, đồng
thời phải đảm bảo pháp luật được thực hiện nghiêm minh. Điều này chỉ có thể thực hiện và
bảo đảm thực hiện được khi và chỉ khi pháp chế XHCN trong tổ chức và hoạt động của Hải
quan Việt Nam được coi trọng và phát huy đầy đủ vai trò của nó.
Trong những năm qua, việc xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật từng bước được coi
trọng, cũng như vai trò của pháp chế trong tổ chức và hoạt động của Hải quan từng bước được
phát huy, đảm bảo hoàn thành được mục tiêu quản lý hải quan mà Đảng, Nhà nước giao cho Hải
quan Việt Nam. Song do tác động của các nguyên nhân chủ quan và khách quan, pháp chế trong
tổ chức và hoạt động Hải quan Việt Nam giai đoạn vừa qua vẫn tồn tại không ít yếu kém, khiếm
khuyết, chưa thực sự đảm đương được vai trò của nó trong việc đảm bảo cho pháp luật hải quan
được tuân thủ và chấp hành nghiêm chỉnh, dẫn đến sự vi phạm pháp luật hải quan có lúc, có nơi,
trên một số địa bàn còn diễn ra nghiêm trọng, chưa kiểm soát được tình trạng tham nhũng, tiêu
cực, buôn lậu, gian lận, trốn thuế Vì vậy, để đảm bảo được yêu cầu đối với vai trò của pháp chế
trong tổ chức và hoạt động của Hải quan Việt Nam giai đoạn hiện nay cần phải được tiến hành ở
các phương diện chủ yếu:
- Đẩy mạnh xây dựng pháp luật về hệ thống tổ chức và hoạt động của Hải quan Việt Nam
đáp ứng yêu cầu quản lý hải quan hiện đại, phù hợp với yêu cầu thực tiễn của hội nhập kinh tế
trong điều kiện mới. Phát hiện những bất cập, khiếm khuyết của pháp luật, cơ chế đảm bảo thực
hiện pháp luật để kiến nghị cấp có thẩm quyền hoàn thiện, xử lý kịp thời.
- Tăng cường rà soát, kiểm tra việc xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật hải
quan; thanh tra, kiểm tra thực hiện, chấp hành pháp luật và thi hành công vụ của cán bộ, công
chức hải quan; kiểm tra, thanh tra hoạt động xuất nhập khẩu của tổ chức, cá nhân; đẩy mạnh
tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật cho mọi đối tượng ở đa dạng hình thức.
- Xử lý nghiêm minh, kịp thời vi phạm pháp luật hải quan không phân biệt đối tượng vi
phạm, hoàn cảnh vi phạm.



References
1. Vũ Ngọc Anh (1996), Đổi mới và hoàn thiện pháp luật về hải quan ở nước ta hiện nay,
Luận án tiến sĩ Luật học, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội.
2. Ann Seidman - Robert B.Seidman - Nalin Abeyeseskere (2003), Soạn thảo luật pháp vì tiến bộ
xã hội dân chủ, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
3. Ban Cán sự Đảng - Tổng cục Hải quan (1996), Nghị quyết số 93/NQ-BCS về tăng cường công
tác chính trị, tư tưởng, củng cố tổ chức, xây dựng đội ngũ cán bộ hải quan trong sạch vững
mạnh, ngày 14-12, Hà Nội.
4. Ban Cán sự Đảng và Lãnh đạo Tổng cục Hải quan (1999), Nghị quyết liên tịch số
101/NQ/BCS-TCHQ về xử lý đối với công chức hải quan khi có khuyết điểm hoặc dấu hiệu
sai phạm.
5. Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2005), Nghị quyết của Bộ Chính trị về Chiến lược xây
dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020,
ngày 24-5, Hà Nội.
6. Lê Thanh Bình (1998), Chống buôn lậu và gian lận thương mại, Nxb Chính trị quốc gia,
Hà Nội.
7. Bộ Tài chính (2004), Về kế hoạch cải cách, phát triển và hiện đại hoá ngành hải quan giai
đoạn 2004-2006, Quyết định số 810/QĐ-BTC của Bộ trưởng Tài chính, ngày 16-3, Hà Nội.
8. Chester Bamard, Các học thuyết quản lý.
9. C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I.Lênin, J.Stalin (1968), Về vấn đề cán bộ, Nxb Sự thật, Hà Nội.
10. C.Mác - Ph.Ăngghen (1993), Toàn tập, tập 23, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
11. Chính phủ (2000), Tờ trình về Dự án Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính (sửa đổi) (số
980/CP-PC), ngày 27-10, Hà Nội.
12. Chính phủ (2001), Tờ trình Quốc hội số 428/PC về Dự án Luật Hải quan, ngày 21-5, Hà
Nội.
13. PGS.TS Nguyễn Đăng Dung (2002), Hiến pháp và bộ máy nhà nước, Nxb Giao thông vận
tải, Hà Nội.
14. Đảng Cộng sản Việt Nam (1987), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, Nxb Sự
thật, Hà Nội.
15. Đảng Cộng sản Việt Nam (1991), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, Nxb Sự
thật, Hà Nội.
16. Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb
Chính trị quốc gia, Hà Nội.
17. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb
Chính trị quốc gia, Hà Nội.
18. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb
Chính trị quốc gia, Hà Nội.
19. TS. Nguyễn Minh Đoan (2002), Hiệu quả pháp luật - Những vấn đề lý luận và thực tiễn
(tái bản có sửa chữa, bổ sung), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
20. G.B. Atamanchúc (2004), Lý thuyết quản lý nhà nước, Nxb Omega, Mátxcơva, tiếng Nga.
21. Nguyễn Viết Hồng (2003), "Buôn lậu và gian lận thương mại ở Việt Nam: Thực tiễn và giải
pháp", Tạp chí Thương mại, (3+4+5), tr.74-75.
22. Nguyễn Trọng Hùng (2002), "Ngành Hải quan đang và sẽ làm gì để giảm tối đa phiền hà cho
các doanh nghiệp?", Tạp chí Thương mại, (15), tr.21-22.
23. Josef Thesing (2002), Nhà nước pháp quyền, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
24. Nguyễn Phan Khiêm (2002), "Những kiến giải xử lý tội phạm trong lĩnh vực hoàn thuế",
Tạp chí Pháp lý, (7), tr.27-28.
25. Nguyễn Đức Kiên (2002), "Ngành Hải quan gắn công tác xây dựng Đảng bộ trong sạch,
vững mạnh với chống quan liêu, tham nhũng", Tạp chí Kiểm tra, (3), tr.21-29.
26. Khoa Nhà nước pháp luật (2004), Tài liệu học tập và nghiên cứu môn lý luận chung về nhà
nước pháp luật, tập 1, Hà Nội.
27. Mark Harrison - Giám đốc Trungtâm nghiên cứu Thuế và Hải quan, Trường Đại học
Canberra - Australia (3/2005), Báo cáo về Luật Hải quan và các văn bản pháp lý liên quan,
Khoá đào tạo quản lý pháp luật hải quan, Dự án hỗ trợ kỹ thuật chuẩn bị dự án hiện đại hoá
hải quan, Hà Nội.
28. TS. Đinh Văn Mậu - TS. Phạm Hồng Hải (2002), Lý luận chung về Nhà nước và pháp luật,
(tái bản lần thứ ba), Nxb Tổng hợp Đồng Nai.
29. Quốc hội nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt nam, Luật cán bộ, công chức (số
22/2008/QH12 ngày 13/11/2008)
30. Pháp lệnh Hải quan (1990), Nxb Pháp lý, Hà Nội.
31. Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (1992), Hiến pháp 1992, Hà Nội.
32. Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (1999), Bộ luật hình sự, Hà Nội.
33. Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2001), Luật Hải quan, ngày 29-6.
34. Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2001), Nghị quyết sửa đổi, bổ sung
một số điều của Hiến pháp 1992, Hà Nội.
35. Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2004), Bộ luật tố tụng hình sự, Hà
Nội.
36. Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2005), Luật sửa đổi, bổ sung một số
điều của Luật Hải quan, ngày 14-6.
37. PGS.TS Lê Minh Tâm (2000), "Pháp luật - yếu tố quan trọng bảo đảm tăng trưởng kinh tế và
phát triển bền vững", Tạp chí Luật học, Hà Nội, (3).
38. Thủ tướng Chính phủ (2000), Chỉ thị số 22/2001/CT-TTg về chiến lược phát triển xuất -
nhập khẩu hàng hoá và dịch vụ thời kỳ 2001-2010, ngày 27-10, Hà Nội.
39. Tổ chức Hải quan Thế giới (WCO), Công ước Kyoto về đơn giản hoá và hài hoà thủ tục
hải quan (sửa đổi, bổ sung năm 1999).
40. Tổng cục Hải quan (1997), Báo cáo tổng kết tình hình thực hiện nhiệm vụ năm 1996 và bàn
biện pháp triển khai nhiệm vụ năm 1997 (số 182/TCHQ-VP), ngày 14-11, Hà Nội.
41. Tổng cục Hải quan (1997), Thông quan nhanh chóng, quản lý chặt chẽ hàng hoá xuất nhập
khẩu, In tại Công ty in Nam Hải, Hà Nội.
42. Tổng cục Hải quan (1998), Báo cáo kiểm điểm tình hình thực hiện nhiệm vụ năm 1997 và
chương trình công tác năm 1998 (số 55/TCHQ-VP), ngày 07-1, Hà Nội.
43. Tổng cục Hải quan (1999), Báo cáo kiểm điểm tình hình thực hiện nhiệm vụ năm 1998 và
chương trình công tác năm 1999 (số 378/TCHQ-VP), ngày 20-1, Hà Nội.
44. Tổng cục hải quan (2000), Báo cáo số 5898/TCHQ-VP về Kế hoạch phát triển ngành Hải
quan 2001-2005, ngày 20-12, Hà Nội.
45. Tổng cục Hải quan (2001), Báo cáo số 5597/TCHQ-TCCB về thực trạng đội ngũ cán bộ công
chức Hải quan và phương hướng củng cố, xây dựng đội ngũ công chức ngành Hải quan giai
đoạn 2001-2005, ngày 12-12, Hà Nội.
46. Tổng cục Hải quan (2003), Báo cáo đánh giá tình hình thu thuế, nợ đọng thuế và việc triển
khai áp dụng giá tính thuế theo Hiệp định trị giá GATT, ngày 05-9, Hà Nội.
47. Tổng cục Hải quan (2003), Báo cáo kết quả thanh tra, kiểm tra công tác tổ chức cán bộ từ
năm 1998 đến 6 tháng đầu năm 2003 của ngành Hải quan, ngày 13-8, Hà Nội.
48. Tổng cục Hải quan (2003), Báo cáo sơ kết 05 năm thực hiện Nghị quyết 09/1998/NQ-CP
và chương trình quốc gia phòng, chống tội phạm của ngành Hải quan, ngày 02-7, Hà Nội.
49. Tổng cục Hải quan (2003), Báo cáo về nội dung triển khai chủ trương định hướng của
ngành Hải quan về tăng cường công tác chống buôn lậu và kiểm tra sau thông quan của
lực lượng hải quan, ngày 09-9, Hà Nội.
50. Đỗ Quang Trung (2003), "Tiếp tục đẩy mạnh cải cách tổ chức và hoạt động của tổ chức, bộ
máy hành chính nhà nước theo Nghị quyết Đại hội IX của Đảng", Tạp chí Tổ chức Nhà
nước, (8).
51. Trường Đại học Luật Hà Nội (2002), Giáo trình Luật hành chính, Nxb Công an nhân dân,
Hà Nội.
52. GS.TSKH Đào Trí Úc (1997), Nhà nước và pháp luật trong sự nghiệp đổi mới, Nxb Khoa
học xã hội, Hà Nội.
53. Cao văn Uy (2003), "Trách nhiệm của người đứng đầu", Tạp chí Tổ chức Nhà nước, (12).
54. Uỷ ban Thường vụ Quốc hội (1989), Pháp lệnh Tổ chức điều tra hình sự, Hà Nội.
55. Uỷ ban Thường vụ Quốc hội (2004), Pháp lệnh Tổ chức điều tra hình sự, Hà Nội.
56. Uỷ ban Thường vụ Quốc hội (2002), Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính, Hà Nội.
57. Văn phòng Chính phủ (2002), Thông báo số 181/TB-VPCP về kết luận của Phó Thủ tướng
Vũ Khoan tại Hội nghị chống buôn lậu, gian lậu thương mại và thúc đẩy buôn bán biên
giới, ngày 26-11, Hà Nội.
58. PGS.TS Nguyễn Cửu Việt (chủ biên) (2001), Giáo trình lý luận chung về Nhà nước và
pháp luật, Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội.
59. PGS.TS Võ Khánh Vinh (2003), Lợi ích xã hội và pháp luật, Nxb Công an nhân dân, Hà
Nội.
60. V.N.Kyđriaxép (1998), Pháp chế: nội dung và trạng thái hiện nay "pháp chế ở Liên bang
Nga", Nxb Iurixt, Matxcơva, tiếng Nga.
61. V.I.Lênin (1970), Bàn về pháp chế xã hội chủ nghĩa, Nxb Sự thật, Hà Nội.
62. V.I.Lênin (1977), Về pháp chế xã hội chủ nghĩa, Nxb Sự thật, Hà Nội.
63. V.I.Lênin (1981), Toàn tập, tập 30, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva.
64. TS. Nguyễn Xuân Yêm - PGS.TS Nguyễn Hoà Bình (chủ biên) (2003), Tội phạm kinh tế
thời mở cửa, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội.
65. Nguyễn Như Ý (chủ biên) (1999), Đại từ điển tiếng Việt, Nxb Văn hoá - Thông tin, Hà
Nội.

Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×